Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh Phật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Kinh Tê Ngưu Một Sừng - Khaggvisana Sutta A Rhinnoceros Horn


"Ðối với các hữu tình
Từ bỏ gậy và trượng,
Chớ làm hại một ai
Trong chúng hữu tình ấy.
Con trai không ước muốn,
Còn nói gì bạn bè,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Renouncing violence
for all living beings,
harming not even a one,
you would not wish for offspring,
so how a companion?
Wander alone, a rhinoceros horn. 
"Do thân cận giao thiệp
Thân ái từ đấy sanh,
Tùy thuận theo thân ái,
Khổ này có thể sanh.
Nhìn thấy những nguy hại,
Do thân ái sanh khởi
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
For a sociable person
there are allurements;
on the heels of allurement, this pain.
Seeing allurement's drawback,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Do lòng từ thương mến,
Ðối bạn bè thân hữu,
Mục đích bị bỏ quên,
Tâm tư bị buộc ràng,
Do thấy sợ hãi này,
Trong giao du mật thiết,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
One whose mind
is enmeshed in sympathy
for friends and companions,
neglects the true goal.
Seeing this danger in intimacy,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Ai nhớ nghĩ chờ mong,
Ðối với con và vợ,
Người ấy bị buộc ràng,
Như cành tre rậm rạp.
Còn các ngọn tre cao,
Nào có gì buộc ràng,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Like spreading bamboo,
entwined,
is concern for offspring and spouses.
Like a bamboo sprout,
unentangling,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Như nai trong núi rừng,
Không gì bị trói buộc,
Tự đi chỗ nó muốn
Ðể tìm kiếm thức ăn.
Như các bậc hiền trí,
Thấy tự do giải thoát,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
As a deer in the wilds,
unfettered,
goes for forage wherever it wants:
the wise person, valuing freedom,
wanders alone, a rhinoceros horn. 
"Giữa bạn bè thân hữu,
Bị gọi lên gọi xuống,
Tại chỗ ở trú xứ,
Hay trên đường bộ hành.
Thấy tự do giải thoát,
Không có gì tham luyến,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
In the midst of companions
-- when staying at home,
when going out wandering --
you are prey to requests.
Valuing the freedom
that no one else covets,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Giữa bạn bè thân hữu
Ưa thích, vui cười đùa,
Ðối với con, với cháu,
Ái luyến thật lớn thay!
Nhàm chán sự hệ lụy,
Với những ai thân ái,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
There is sporting and love
in the midst of companions,
and abundant fondness for offspring.
Feeling disgust
at the prospect of parting
from those who'd be dear,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Khắp cả bốn phương trời,
Không sân hận với ai,
Tự mình biết vừa đủ,
Với vật này vật khác,
Vững chịu các hiểm nguy,
Không run sợ giao động,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Without irritation in all four directions,
content with whatever you get,
enduring troubles with no dismay,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Có số người xuất gia,
Chung sống thật khó khăn,
Cũng như các gia chủ,
Ở tại các cửa nhà,
Sống vô tư vô lự
Giữa con cháu người khác
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
They are hard to please,
some of those gone forth,
as well as those living the household life.
Shedding concern
for these offspring of others,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Từ bỏ để một bên,
Mọi biểu tượng gia đình,
Như loại cây san hô,
Tước bỏ mọi lá cây,
Bậc anh hùng cắt đứt,
Mọi trói buộc gia đình,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Cutting off the householder's marks,[1]
like a kovilara tree
that has shed its leaves,
the prudent one, cutting all household ties,
wanders alone, a rhinoceros horn.
"Nếu tìm được bạn lành,
Thận trọng và sáng suốt,
Bạn đồng hành chung sống,
Bạn thiện trú hiền trí,
Cùng nhau đồng nhiếp phục,
Tất cả mọi hiểm nạn.
If you gain a mature companion,
a fellow traveler, right-living and wise,
overcoming all dangers
go with him, gratified,
mindful. 
"Nếu không được bạn lành,
Thận trọng và sáng suốt,
Bạn đồng hành chung sống,
Bạn thiện trú hiền trí,
Hãy như vua từ bỏ
Ðất nước bị bại vong,
Hãy sống như voi chúa
Một mình trong rừng sâu.
If you don't gain a mature companion,
a fellow traveler, right-living and wise,
go alone
like a king renouncing his kingdom,
like the elephant in the Matanga wilds,
his herd.
Thật chúng ta tán thán,
Các bằng hữu chu toàn,
Bậc hơn ta, bằng ta,
Nên sống gần thân cận,
Nếu không gặp bạn này,
Những bậc không lầm lỗi,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
We praise companionship
-- yes!
Those on a par, or better,
should be chosen as friends.
If they're not to be found,
living faultlessly,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Thấy đồ trang sức vàng,
Lấp lánh và sáng chói,
Ðược con người thợ vàng,
Khéo làm, khéo tay làm,
Hai chúng chạm vào nhau
Trên hai tay (đeo chúng)
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Seeing radiant bracelets of gold,
well-made by a smith,
clinking, clashing,
two on an arm,
wander alone, a rhinoceros horn, 
"Như vậy nếu ta cùng,
Với một người thứ hai,
Tranh luận cãi vã nhau,
Sân hận, gây hấn nhau,
Nhìn thấy trong tương lai,
Sợ hãi hiểm nguy này,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
[Thinking:]
"In the same way,
if I were to live with another,
there would be careless talk or abusive."
Seeing this future danger,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Các dục thật mỹ miều,
Ngọt thơm và đẹp ý,
Dưới bình sắc, phi sắc,
Làm mê loạn tâm tư,
Thấy sự nguy hiểm này,
Trong các dục trưởng dưỡng,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Because sensual pleasures,
elegant, honeyed, and charming,
bewitch the mind with their manifold forms --
seeing this drawback in sensual strands --
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Ðây là một mụn nhọt,
Và cũng là tai họa,
Một tật bệnh, mũi tên,
Là sợ hãi cho ta,
Thấy sự nguy hiểm này,
Trong các dục trưởng dưỡng,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
"Calamity, tumor, misfortune,
disease, an arrow, a danger for me."
Seeing this danger in sensual strands,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Lạnh lẽo và nóng bức,
Ðói bụng và khát nước,
Gió thổi, ánh mặt trời,
Muỗi lằn và rắn rết,
Tất cả xúc phạm này,
Ðều chịu đựng vượt qua,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Cold and heat, hunger and thirst,
wind and sun, horseflies and snakes:
enduring all these, without exception,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Như con voi to lớn,
Từ bỏ cả bầy đàn,
Thân thể được sanh ra,
To lớn tợ hoa sen,
Tùy theo sự thích thụ
Sống tại chỗ rừng núi.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
As a great white elephant,
with massive shoulders,
renouncing his herd,
lives in the wilds wherever he wants,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Ai ưa thích hội chúng,
Sự kiện không xảy ra,
Người ấy có thể chứng,
Cảm thọ thời giải thoát,
Cân nhắc lời giảng dạy,
Ðấng bà con mặt trời.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
"There's no way
that one delighting in company
can touch even momentary release."
Heeding the Solar Kinsman's words,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Ðược giải thoát vượt khỏi,
Các tri kiến hý luận,
Ðạt được quyết định tánh,
Chứng đắc được con đường,
Nơi ta trí được sanh
Không cần nhờ người khác
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Transcending the contortion of views,
the sure way attained,
the path gained,
[realizing:]
"Unled by others,
I have knowledge arisen,"
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Không tham không lừa đảo,
Không khát dục, gièm pha,
Mọi si mê ác trược,
Ðược gạn sạch quạt sạch,
Trong tất cả thế giới,
Không tham ác ước vọng.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
With no greed, no deceit,
no thirst, no hypocrisy --
delusion and blemishes
blown away --
with no inclinations for all the world,
every world,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Với bạn bè độc ác,
Hãy từ bỏ lánh xa,
Bạn không thấy mục đích,
Quen nếp sống quanh co,
Chớ tự mình thân cận,
Kẻ đam mê phóng dật,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Avoid the evil companion
disregarding the goal,
intent on the out-of-tune way.
Don't take as a friend
someone heedless and hankering.
Wander alone, a rhinoceros horn.
"Bậc nghe nhiều trì pháp,
Hãy gần gũi người ấy,
Bạn nghe tâm rộng lớn,
Người thông minh biện tài,
Biết điều không nên làm,
Nhiếp phục được nghi hoặc.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Consort with one who is learned,
who maintains the Dhamma,
a great and quick-witted friend.
Knowing the meanings,
subdue your perplexity,
[then] wander alone, a rhinoceros horn. 
"Mọi du hí vui đùa
Và dục lạc ở đời,
Không điểm trang bày hiện
Không ước vọng mong cầu,
Từ bỏ mọi hào nhoáng
Nói lên chân thật
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Free from longing, finding no pleasure
in the world's sport, love, or sensual bliss,
abstaining from adornment,
speaking the truth,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Với con và với vợ,
Với cha và với mẹ,
Tài sản cùng lúa gạo,
Những trói buộc bà con,
Hãy từ bỏ buộc ràng,
Các dục vọng như vậy.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Abandoning offspring, spouse,
father, mother,
riches, grain, relatives,
and sensual pleasures
altogether,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Chúng đều là trói buộc,
Lạc thú thật nhỏ bé,
Vị ngọt thật ít oi,
Khổ đau lại nhiều hơn,
Chúng đều là câu móc,
Bậc trí biết như vậy.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
"This is a bondage, a baited hook.
There's little happiness here,
next to no satisfaction,
all the more suffering and pain."
Knowing this, circumspect,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Hãy chặt đứt, bẻ gãy,
Các kiết sử trói buộc,
Như các loài thủy tộc,
Phá hoại các mạng lưới,
Như lửa đã chảy xong,
Không còn trở lui lại.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Shattering fetters,
like a fish in the water tearing a net,
like a fire not coming back to what's burnt,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Với mắt cúi nhìn xuống,
Chân đi không lưu luyến,
Các căn được hộ trì,
Tâm ý khéo chế ngự.
Không đầy ứ, rỉ chảy,
Không cháy đỏ bừng bên.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Eyes downcast, not footloose,
senses guarded, with protected mind,
not oozing -- not burning -- with lust,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Hãy trút bỏ, để lại,
Các biểu tướng gia chủ,
Như loại cây san hô,
Loại bỏ các nhành lá,
Ðã đắp áo cà sa,
Xuất gia bỏ thế tục.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Taking off the householder's marks,[2]
like a coral tree
that has shed its leaves,
going forth in the ochre robe,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Không tham đắm các vị.
Không tác động, không tham,
Không nhờ ai nuôi dưỡng,
Chỉ khất thực từng nhà,
Ðối với mọi gia đình,
Tâm không bị trói buộc.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Showing no greed for flavors, not careless,
going from house to house for alms,
with mind unenmeshed in this family or that,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Từ bỏ năm triền cái,
Che đậy trói buộc tâm,
Ðối với mọi kiết sử,
Hãy trừ khử, dứt sạch,
Không y cứ nương tựa,
Chặt đứt ái sân hận.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Abandoning barriers to awareness,
expelling all defilements -- all --
non-dependent, cutting aversion,
allurement,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Hãy xoay lưng trở lại,
Ðối với lạc và khổ,
Cả đối với hỷ ưu,
Ðược cảm thọ từ trước,
Hãy chứng cho được xả,
An chỉ và thanh tịnh.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Turning your back on pleasure and pain,
as earlier with sorrow and joy,
attaining pure equanimity,
tranquillity,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Tinh cần và tinh tấn,
Ðạt được lý chân đế,
Tâm không còn thụ động,
Không còn có biếng nhác,
Kiên trì trong cố gắng,
Dõng lực được sanh khởi.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
With persistence aroused
for the highest goal's attainment,
with mind unsmeared, not lazy in action,
firm in effort, with steadfastness and strength arisen,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Không từ bỏ độc cư,
Hạnh viễn ly thiền định,
Thường thường sống hành trì,
Tùy pháp trong các pháp,
Chơn chánh nhận thức rõ,
Nguy hiểm trong sanh hữu.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Not neglecting seclusion, absorption,
constantly living the Dhamma
in line with the Dhamma,
comprehending the danger
in states of becoming,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Mong cầu đoạn diệt ái,
Sống hạnh không phóng dật,
Không đần độn câm ngọng.
Nghe nhiều, giữ chánh niệm,
Các pháp được giác sát,
Quyết định, chánh tinh cần.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Intent on the ending of craving and heedful,
learned, mindful, not muddled,
certain -- having reckoned the Dhamma --
and striving,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Như sư tử, không động.
An tịnh giữa các tiếng,
Như gió không vướng mắc,
Khi thổi qua màn lưới,
Như hoa sen không dính,
Không bị nước thấm ướt.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Unstartled, like a lion at sounds.
Unsnared, like the wind in a net.
Unsmeared, like a lotus in water:
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Giống như con sư tử,
Với quai hàm hùng mạnh,
Bậc chúa của loài thú,
Sống chinh phục chế ngự.
Hãy sống các trú xứ,
Nhàn tịnh và xa vắng.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Like a lion -- forceful, strong in fang,
living as a conqueror, the king of beasts --
resort to a solitary dwelling.
Wander alone, a rhinoceros horn. 
"Từ tâm, sống trú xả,
Bi tâm, hạnh giải thoát,
Sống hành trì thực hiện,
Hỷ tâm, cho đúng thời,
Không chống đối va chạm,
Với một ai ở đời.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
At the right time consorting
with the release through good will,
compassion,
appreciation,
equanimity,
unobstructed by all the world,
any world,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Ðoạn tận lòng tham ái,
Sân hận và si mê,
Chặt đứt và cắt đoạn,
Các kiết sử (lớn nhỏ),
Không có gì sợ hãi,
Khi mạng sống gần chung.
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!" 
Having let go of passion,
aversion,
delusion;
having shattered the fetters;
undisturbed at the ending of life,
wander alone, a rhinoceros horn. 
"Có những bạn vì lợi,
Thân cận và chung sống,
Những bạn không mưu lợi,
Nay khó tìm ở đời,
Người sáng suốt lợi mình,
Không phải người trong sạch,
Hãy sống riêng một mình
Như Tê ngưu một sừng!"
People follow and associate
for a motive.
Friends without a motive these days
are rare.
They're shrewd for their own ends, and impure.
Wander alone, a rhinoceros horn. 

Chân thành cám ơn anh Nguyễn Quang Trung đã có thiện tâm giúp đánh máy bài kinh nầy (07/97
Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch 
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Notes:1. Hair and beard. [Go back]
2. Lay clothing. [Go back]

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả



Đại Tạng Kinh Việt Nam 
KINH TRUNG BỘ 
Majjhima Nikàya 


Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: 

-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: 'Nhứt dạ Hiền giả' (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau: 

Quá khứ không truy tìm 
Tương lai không ước vọng. 
Quá khứ đã đoạn tận, 
Tương lai lại chưa đến, 
Chỉ có pháp hiện tại 
Tuệ quán chính ở đây. 
Không động, không rung chuyển 
Biết vậy, nên tu tập, 
Hôm nay nhiệt tâm làm, 
Ai biết chết ngày mai? 
Không ai điều đình được, 
Với đại quân thần chết, 
Trú như vậy nhiệt tâm, 
Đêm ngày không mệt mỏi, 
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, 
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ"; và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không truy tìm quá khứ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc, hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ; hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Đa văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm 
Tương lai không ước vọng. 
Quá khứ đã đoạn tận, 
Tương lai lại chưa đến, 
Chỉ có pháp hiện tại 
Tuệ quán chính ở đây. 
Không động, không rung chuyển 
Biết vậy, nên tu tập, 
Hôm nay nhiệt tâm làm, 
Ai biết chết ngày mai? 
Không ai điều đình được, 
Với đại quân thần chết, 
Trú như vậy nhiệt tâm, 
Đêm ngày không mệt mỏi, 
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền, 
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Khi ta nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông: 'Nhứt dạ Hiền giả', tổng thuyết và biệt thuyết", chính duyên ở đây mà nói vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn. 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Majjhima Nikaya 131 
Bhaddekaratta Sutta 



An Auspicious Day 
Translated by Bhikkhu Thanissaro 
Translator's Introduction

The title of this discourse has sparked some controversy, centered on the word "ratta." Modern translators in Asian vernaculars are unanimous in rendering it as "night," a reading seconded by Sanskrit and Tibetan versions of the discourse. Translators working in English have balked at this reading, however, on the grounds that the title it yields -- "Auspicious One-Night" -- makes no sense. Thus I.B. Horner drops the word "ratta" for her translation entirely; Ven Ñanamoli renders it as "attachment," yielding "One Fortunate Attachment"; and Ven. Ñanananda, taking his cue from Ven. Ñanamoli, renders it as "lover," yielding "Ideal Lover of Solitude." 

If we look at idiomatic Pali usage, though, we find that there is good reason to stick with the traditional reading of "night." There is a tendency in the Pali Canon to speak of a 24-hour period of day and night as a "night." This would be natural for a society that used a lunar calendar -- marking the passage of time by the phases of the moon -- just as it is natural for us, using a solar calendar, to call the same period of time a "day." As the verse that forms the summary of this discourse explicitly mentions one practicing "relentlessly both day and night," the "night" in the title of the discourse would seem to be a 24-hour, rather than a 12-hour, night -- and so I have chosen to render the Pali idiom into its English equivalent: An Auspicious Day. 

Ven. Ñanamoli is probably right in assuming that "bhaddekaratta" was a pre-Buddhist term that the Buddha adopted and re-interpreted in light of his own teaching. The point of the discourse would thus be that -- instead of the play of cosmic forces, the stars, or the lucky omens -- one's own development of the mind's attitude to time is what makes a day auspicious. 

I have heard that on one occasion the Blessed One was staying in Savatthi, at Jetavana, the park of Anathapindika. There he addressed the monks: "Monks!"

"Yes, lord," the monks replied. 

The Blessed One said: "Monks, I will teach you the summary and exposition of one who has had an auspicious day. Listen and pay close attention. I will speak." 

"As you say, lord," the monks replied. 

The Blessed One said: 

One would not chase after the past, 
nor place expectations on the future. 
What is past 
is left behind. 
The future 
is as yet unreached. 
Whatever quality is present 
one clearly sees right there, 
right there. 
Unvanquished, unshaken, 
that's how one develops the mind. 
Ardently doing one's duty today, 
for -- who knows? -- tomorrow 
death may come. 
There is no bargaining 
with Death and his mighty horde. 
Whoever lives thus ardently, 
relentlessly 
both day and night, 
has truly had an auspicious day: 
So says the Peaceful Sage. 

"And how, monks, does one chase after the past? One gets carried away with the delight of 'In the past I had such a form (body)'...'In the past I had such a feeling'...'In the past I had such a perception'...'In the past I had such a thought-fabrication"...'In the past I had such a consciousness.' This is called chasing after the past.

"And how does one not chase after the past? One does not get carried away with the delight of 'In the past I had such a form (body)'...'In the past I had such a feeling'...'In the past I had such a perception'...'In the past I had such a thought-fabrication"...'In the past I had such a consciousness.' This is called not chasing after the past. 

"And how does one place expectations on the future? One gets carried away with the delight of 'In the future I might have such a form (body)'...'In the future I might have such a feeling'...'In the future I might have such a perception'...'In the future I might have such a thought-fabrication"...'In the future I might have such a consciousness.' This is called placing expectations on the future. 

"And how does one not place expectations on the future? One does not get carried away with the delight of 'In the future I might have such a form (body)'...'In the future I might have such a feeling'...'In the future I might have such a perception'...'In the future I might have such a thought-fabrication"...'In the future I might have such a consciousness.' This is called not placing expectations on the future. 

"And how is one vanquished with regard to present qualities? There is the case where an uninstructed run-of-the-mill person who has not seen the noble ones, is not versed in the teachings of the noble ones, is not trained in the teachings of the noble ones, sees form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. 

"He/she sees feeling as self, or self as possessing feeling, or feeling as in self, or self as in feeling. 

"He/she sees perception as self, or self as possessing perception, or perception as in self, or self as in perception. 

"He/she sees thought-fabrications as self, or self as possessing thought-fabrications, or thought-fabrications as in self, or self as in thought-fabrications. 

"He/she sees consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. This is called being vanquished with regard to present qualities.

"And how is one not vanquished with regard to present qualities? There is the case where a noble disciple who has seen the noble ones, is versed in the teachings of the noble ones, is well-trained in the teachings of the noble ones, does not see form as self, or self as possessing form, or form as in self, or self as in form. 

"He/she does not see feeling as self, or self as possessing feeling, or feeling as in self, or self as in feeling. 

"He/she does not see perception as self, or self as possessing perception, or perception as in self, or self as in perception. 

"He/she does not see thought-fabrications as self, or self as possessing thought-fabrications, or thought-fabrications as in self, or self as in thought-fabrications. 

"He/she does not see consciousness as self, or self as possessing consciousness, or consciousness as in self, or self as in consciousness. This is called not being vanquished with regard to present qualities. 

One would not chase after the past, 
nor place expectations on the future. 
What is past 
is left behind. 
The future 
is as yet unreached. 
Whatever quality is present 
one clearly sees right there, 
right there. 
Unvanquished, unshaken, 
that's how one develops the mind.
Ardently doing one's duty today, 
for -- who knows? -- tomorrow 
death may come. 
There is no bargaining 
with Death and his mighty horde.
Whoever lives thus ardently, 
relentlessly 
both day and night, 
has truly had an auspicious day: 
So says the Peaceful Sage. 

"'Monks, I will teach you the summary and exposition of one who has had an auspicious day.' Thus it was said, and in reference to this was it said."

That is what the Blessed One said. Gratified, the monks delighted in the Blessed One's words. Source: http://world.std.com/~metta/canon/majjhima/mn131.html
(Revised: 9 November 1998 )
Sưu tầm: Giới Nghiêm

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2015

Tích Truyện Pháp Cú 01




PHẨM SONG YẾU

Nếu con mắt ngươi làm hại ngươi. Hãy móc bỏ nó đi.

Ý dẫn đầu các Pháp
ý làm chủ, ý tạo
nếu với ý ô nhiễm
nói lên hay hành động
khổ não bước theo sau
như xe chân vật kéo.


Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Kinh Cúng Thí Người Mất



Chính tôi được nghe, lúc Đức Phật lưu trú tại tinh xá Kỳ Viên, bà-la-môn Cha-nu-sô-ni (Janussoni) đến viếng thăm, đảnh lễ rồi thưa hỏi Đức Phật:

- Bạch đức Thế Tôn, con là bà-la-môn chuyên làm các lễ cúng cho người chết, lòng những mong sẽ đem lại lợi ích cho họ, như vậy, bạch Thế Tôn, họ có thật sự được lợi ích không? O

Đức Phật dạy:
- Này Bà-la-môn, nếu có tương xứng thì người chết sẽ hưởng được phẩm vật cúng dường. Bằng không có tương xứng thì họ không được hưởng gì cả. O

Bà-la-môn bạch Phật:
- Kính xin đức Thế Tôn giải rõ cho chúng con hiểu thế nào là tương xứng và không tương xứng?

Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo Bà-la-môn Cha-nu-sô-ni và đại chúng rằng: O

1. Nếu ai sống sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, phù phiếm, có tham ái, sân, si và tà kiến, sau khi mạng chung sẽ bị đọa vào địa ngục. Tại đây y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Do đó, việc người thân quyến cúng đồ ăn của con người cho họ là không tương xứng. Người mất sẽ không hưởng được gì từ sự cúng kiến đó. O

2. Này các thiện nam, tín nữ, với người đầy dẫy mười điều ác, mạng chung bị sanh vào loài bàng sanh. Tại đây, y được nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Do đó quả thật sẽ không tương xứng, khi người thân quyến đem phẩm vật của con người để cúng quảy, làm sao người chết đó ăn được. O

3. Này các thiện nam, tín nữ, ngay cả trường hợp người chết khi sanh tiền tu tập mười nghiệp lành, được tái sanh làm con người, hay có phước báo hơn được sanh vào cảnh giới chư thiên. Tại đây, với y báo là con người hay chư thiên, họ có cha mẹ riêng và các món ăn riêng để nuôi sống hiện hữu của họ. Do đó, thật là không tương xứng, nếu người thân quyến cúng dường và mong người quá cố thọ nhận. Vì người chết đã tái sanh làm người khác hoặc chư thiên rồi làm sao thọ nhận được. O

4. Này các thiện nam, tín nữ, chỉ có một trường hợp duy nhất người chết có thể nhận được sự cúng quảy của người thân quyến. Đó là trường hợp người chết bị đọa vào ngạ quỷ. Món ăn nào mà người thân quyến muốn hiến cúng cho họ thì họ sẽ hưởng được món đó. Họ sống và hiện hữu nhờ vào các món ăn này. Đây là trường hợp Như Lai gọi là có tương xứng. O

Nghe Đức Phật giải bày cặn kẽ, bà-la-môn hỏi thêm:

- Bạch Thế Tôn, các trường hợp người chết tái sanh vào loài bàng sanh, địa ngục, a-tu-la, hay sanh lại làm người, hoặc sanh thiên thì sự cúng quảy không có sự thọ hưởng. Nhưng nếu người chết không tái sanh vào cõi ngạ quỷ thì ai sẽ là người thọ hưởng sự cúng kiến ấy ?

Lúc ấy Đức Phật dạy rằng:
- Này các thiện nam, tín nữ, nếu không là người thân thuộc quá cố của người cúng thì cũng có những người thân thuộc khác của người cúng ở loài ngạ quỷ sẽ hưởng thế phần.

Bà-la-môn thưa hỏi:
- Nhưng nếu cả dòng họ thân thuộc của người cúng không một ai bị tái sanh vào loài ngạ quỷ thì phẩm vật cúng đó sẽ thuộc về ai ?

Đức Phật dạy:
- Đây là trường hợp không thể xảy ra, rằng chỗ ấy trống không trong một thời gian dài mà không có một ai đó trong huyết thống bị sanh vào. Nhưng này các thiện nam, tín nữ, mặc dù thế, người bố thí ấy không phải không hưởng được quả phước từ sự cúng thí đó. O

Nhân đó Đức Phật dạy thêm về phước báo của sự bố thí:

- Này các thiện nam, tín nữ, trong suốt quá trình sống, người nào vi phạm mười điều ác nhưng lại biết làm hạnh bố thí, người ấy khi mạng chung sẽ sanh cộng trú trong loài voi nhưng là con voi được chăm sóc, ăn uống và trang phục đầy đủ. Trong trường hợp họ vì nghiệp duyên bất thiện, sanh làm ngựa, bò hay bất kỳ loài bàng sanh nào, thì ở đấy y vẫn hưởng thọ đầy đủ sự ăn uống tương xứng với phước duyên bố thí khi họ còn làm người. O

Nhưng này các thiện nam, tín nữ, điều Như Lai muốn răn dạy vẫn là một người đầy đủ mười hạnh lành lại còn biết trau dồi hạnh bố thí chơn chánh và cúng dường những bậc chân tu, những người đạo đức. Khi mạng chung hoặc được tái sanh làm chư thiên thì tại đấy y sẽ được hưởng năm thứ phước đức chư thiên, hoặc sanh làm người thì sẽ được hưởng năm thứ phước báo cõi người. Trong bất kỳ trường hợp nào, người có hạnh bố thí vẫn tốt hơn.

Sau pháp thoại sâu sắc đó, bà-la-môn Cha-nu-sô-ni bỗng chốc trở thành nam cư sĩ và toàn thể pháp hội đều hoan hỷ, tín thọ lời Phật dạy. OOO

(Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, Kinh Tụng Hàng Ngày)

Nguyên gốc văn bản kinh từ kinh hệ Pali:
Đại Tạng Kinh Việt Nam
KINH TĂNG CHI BỘ 
Anguttara Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

Chương Mười Pháp
Phẩm 13-22

(XI) (177) Jànussoni

1. Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn: 

- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi Bà-la-môn, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết, thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không? 

- Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.

- Thưa Tôn giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ? 

2. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục ăn. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.

3. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh... có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.

4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.

5. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh... có chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà La môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.

6. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh... có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ qủy. Món ăn của chúng sanh ngạ qủy như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè , hoặc than hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy , vị ấy tồn tại với món ăn ấy.Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.

7. Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy? 

- Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.

- Thưa Tôn giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy? 

- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải có hưởng quả.

- Có phải Tôn giả Gotama nói một giả thuyết không thế xảy ra? 

- Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn, các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh cộng trú với các loài ngựa... sanh cộng trú với các loài bò... Cộng trú với các loài gia cầm. Vị ấy tại đấy, được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. Vì rằng, này Bà-la-môn, có sát sanh, có lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, có nói láo, có nói hai lưỡi, có nói lời độc ác, có nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào cộng trú với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn với các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, các giường nằm, trú xứ, đèn đuốc, nên tại đấy vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, các trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh... có chánh kiến, người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây có từ bỏ sát sanh... có chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Do vậy, tại đấy vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. Tuy nhiên, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.

8. Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đấy, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).

- Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.

- Thật kỳ diệu thay Tôn giả Gotama... Xin Tôn giả Gotama hãy nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. 


XEM VĂN BẢN KINH GỐC TỪ PHẠN NGỮ:
HN



Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Đại Thủ Ấn Nguyện Văn

                 


 
                                                         
                                                        

                                                     ( MAHAMUDRA )

Tác giả: Bạch giáo đệ tam đại, Đại bảo pháp vương, Kiết mã ba tự sinh kim cương, ( Karma-pa Rantchung-Dorje )

1, Thượng sư bổn tôn đàn thành chư thánh chúng,
Thập phương tam thế chư Phật và Phật tử,
Bi niệm đến đệ tử và lời đệ tử phát nguyện,
Giúp được như ý thành tựu lời cầu xin,
Các điều đệ tử và vô lượng chúng sinh tạo tác,
Lìa tam luân cấu thân tâm thanh tịnh nghiệp,
Như nước núi tuyết khe trong kia tuôn chảy,
Nguyện đều thâm nhập vào biển Phật tứ Thân,

2, Ngay lúc chưa đạt được quả vị như thế,
Trong tất cả các đời đời kiếp kiếp kia,
Không nghe danh hiệu của tội nghiệp khổ não
Nguyện thường được thụ dụng biển pháp thiện lạc,
Đủ tín, trí huệ, tinh tiến và nhàn hạ,
Gặp thiện tri thức được khẩu truyền tâm yếu.
Như pháp tu trì không gián đoạn chướng ngại,
Nguyện trọn đời đời kiếp kiếp được pháp lạc,

3, Nghe thánh lý lượng giải thoát vô tri chướng,
Tư duy lời dạy mãi diệt các nghi ám,
Tu được quang minh như lượng chứng thực tướng,
Nguyện tăng trưởng ba loại trí huệ hiển hiện,

4, Lìa chấp đoạn thường mượn hai đế làm căn,
Lìa chấp tăng giảm vốn liếng đạo thù thắng,
Lìa thắng quả hại lợi luân hồi niết bàn,
Nguyện thường gặp pháp không lầm về điều ấy,

5, Nơi thể tính tịnh thể minh không song vận.
Kim cương du già Đại thủ ấn năng tịnh,
Tịch tịnh các nhiễm cấu mê loạn vô căn,
Nguyện chứng được quả Pháp thân ly cấu tịnh,

6, Nơi thể lìa các tăng ích là định kiến,
Thủ hộ thể ấy không tán là tu yếu,
Trong các pháp tu đâu là tối thắng tu,
Nguyện thường đầy đủ kiến hành tu tam yếu,

7, Tất cả các pháp là do tâm biến hiện,
Tâm vốn vô tâm thể tính tâm là không,
Không mà không diệt, không gì chẳng hiển hiện,
Nguyện khéo quan sát nơi thể đắc định kiến,

8, Từ gốc chưa có tự hiện mê làm cảnh,
Vì vô minh nên chấp tự minh làm ngã
Vì hai chấp bị trôi lăn các cõi hữu,
Nguyện dứt căn nguồn của vô minh mê loạn,

9, Tất cả phi hữu chư Phật còn không thấy,
Tất cả phi vô các căn nhân luân niết,
Không nghịch không thuận song vận trung quán đạo,
Nguyện chứng được pháp tình tâm thể lìa biên,

10, Nói là như vậy ai cũng khó miêu họa,
Nói không như vậy ai cũng khó đuổi trừ,
Vô vi pháp tính lìa ý thức hành cảnh,
Nguyện thấu cứu cánh định nghĩa được quyết định,

11, Vì không rõ vậy biển luân hồi lưu chuyển,
Nếu chứng tính này lìa nó nào có Phật,
Tất cả là nó lìa nó đều không hữu,
Nguyện chứng pháp tính nhất thiết chủng yếu nghĩa,

12, Hiển hiện là tâm không ấy cũng là tâm,
Rõ tỏ tâm này mê loạn cũng là tâm,
Sinh ấy là tâm diệt ấy cũng là tâm,
Nguyện rỏ tất cả tăng tổn đều do tâm,

13, Không nhiễm cấu bệnh tác ý tu quán kia,
Cũng lìa gió thế gian tán loạn trói buộc,
Không chỉnh bản thể an trụ nơi tự nhiên,
Nguyện được thiện xảo hộ trì tu tâm nghĩa,

14, Các sóng vọng niệm thô tế tự tịch tĩnh,
Không thác lũ loạn tâm tự nhiên trụ,
Cũng lìa luôn cáu bẩn hôn trầm trạo cử,
Nguyện được biển thiền định kiên cố bất động,

15, Lần lần khi quán cái tâm không thể quán,
Thấy suốt rõ ràng cái nghĩa không thể thấy,
Mãi lìa các niệm nghi rằng đúng rằng sai,
Nguyện tự chứng tri tự diện mục không lầm,

16, Quán sát nơi cảnh thấy tâm không thấy cảnh,
Quán sát nơi tâm tâm vô thể tính không,
Quán sát năng sở hai chấp tự giải thoát
Nguyện chứng thục tướng của tâm thể quang minh,

17, Sự lìa ý này tức Đại thủ ấn,
Việc ly biên này tức Đại trung đạo,
Thu nhiếp nhất thiết này cũng gọi Đại viên mãn,
Nguyện được lòng tin rõ một rõ tất cả,

18, Không tham lớn nên đại lạc thường không đoạn,
Không chấp tướng nên sáng tỏ lìa che chướng
Siêu việt ý thức tự tại vô phân biệt,
Nguyện tu trì chăm chắm không hề gián đoạn,

19, Tự giải thoát tham trước thiện diệu thụ,
Ác niệm mê loạn tự tính tự nhiên tịnh,
Bình thường tâm vốn chẳng giữ, bỏ, được, mất,
Nguyện chứng nghĩa đế pháp tính lìa hí luận,

20, Tự tính chúng sinh tuy thường là Phật tính,
Vì không rõ, nẻo luân hồi lạc vô hạn,
Ở nơi chúng hữu tình vô cùng thống khổ,
Nguyện thường sinh khởi tâm đại bi khó nén,
Khi tâm bi mẫn khó nén kia chưa diệt,
Không nghĩa của thể tính cũng hiển hiện rõ,
Đạo song vận tối thắng lìa lỗi lầm này,
Nguyện được ngày đêm thường tu quán chẳng lìa,

21, Nhờ tu mà sinh các thần thông như nhãn….,
Thành thục hữu tình thanh tịnh các cõi Phật,
Viên mãn các đại nguyện thẳng pháp của Phật,
Rốt cuộc viên thành nguyện thanh tịnh thành Phật,
Mười phương chư phật, Phật tử lực đại bi.
Tất cả lực của các thanh tịnh thiện nghiệp,
Nguyện nơi lực ấy thanh tịnh mình và người.
Nguyện được như Pháp tự nhiên mà thành tựu .

<< Trích THIỀN ĐẠO TU TẬP, CHANG CHEN-CHI >>

THÂN CHÚC NHƯ Ý NGUYỆN
Thiện Đạo