Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn-Biên Khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn-Biên Khảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2017

Bố Thí Vì Từ Mẫn



Bố thí mà không vụ lợi, bố thí mà không toan tính lợi về mình, bố thí vì từ mẫn, đây mới là bố thí chơn thật. Vì sao?

Khi chúng ta không vụ lợi, mà không toan tính lợi mình thì chúng ta không mong cầu một sự trả ơn của người được nhận bố thí, chính nhân duyên này làm tâm chúng ta an lạc, không phân vân, không đắn đ, đối tượng bố thí là bất kỳ ai, miễn sao người nhận được bố thí thấy an vui trong lòng. Ngược lại, người bố thí cũng hoan hỷ, cũng kính mến người bố thí. Do đó, ân oán không có xiềng xích nhau. Ngược lại, chúng ta bố thí vụ lợi, toan tính cho bản thân.

Bố thí vụ lợi, toan tính cho bản thân, chắc chắn loại bố thí này không sớm thì muộn đều có ân oán, vay trả nhau. Khi chúng ta bố thí mưu cầu ích lợi cho bản thân, tâm chúng ta bị chi phối tham, nhưng khi những lợi ích không đến thì sân sẽ chi phối, nhưng lợi có đến thì ân lại càng chồng chất ân, hay nói cách khác, tham càng tham thêm. Chúng ta không biết lợi và không lợi đều vô thường, biến hoại, chúng đều chứa khổ, đó là "vô minh". Từ đó, vay trả, trả vay cứ gặp nhau mãi mãi, triền miên mà chúng ta không hề biết đến.

Bố thì vì lòng từ là một trong những bố thí vượt lên trên tất cả bố thí. Chính bố thí vì tâm từ, quy luật nhân quả không tác động vào thân, tâm chúng ta, từ đó tâm an lạc, thanh thản. Đây là loại bố thí "trí tuệ", bố thí tâm từ làm cho muôn loài an lạc, trong đó có chính chúng ta. Tâm từ là một loại tâm đặc biệt của con người, mà các bậc thánh luôn khuyên dạy chúng ta rèn luyện, trau dồi, tâm từ là dòng nước mát lành, xóa tan ưu phiền, khổ não, sân hận, ân oán chính chúng ta, và cả người khác.

Bố thí vì tâm từ rất trí tuệ, không phải cả đống vật chất, cả khối kiến thức để chúng ta san sẻ cho người khác, mà đôi khi chỉ một miếng bánh mì cho đàn kiến, một bát cơm cho chú chó, con mèo đang đói, một cử chỉ ân cần cứu một con chim, con cá,...gặp hoạn nạn, hay chỉ 1 lời nói làm người khác "bừng tỉnh", để hướng về điều thiện, hay chỉ 1 hành vi mang đậm dấu ấn "lòng từ bi",...Đây là một trong những hình thức bố thí mang tính chất "trí tuệ" rất cao. Do đó, chúng ta phải tư duy để mình bố thí phù hợp với "lòng yêu thương" chơn chánh, hay từ bi.

Nói tóm lại, bố thí rất cao quý, nhưng bố thí không vụ lợi, không toan tính và bố thí vì tâm từ thì vô cùng cao quý. Hơn nữa, bố thí đúng chánh pháp là một tài sản to lớn của mỗi con người.

Kính ghi
Long Nguyen
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

Những Câu Hỏi Cần Thiết



Hằng ngày, chúng ta có cảm giác mình luôn đối đầu với một núi công việc và lắm khi loay hoay chẳng biết mình nên bắt đầu từ đâu. Việc gì cũng thấy cần thiết và không biết chuyện nào nên ‘nhường quyền ưu tiên’ cho việc nào và bằng cách nào có thể hoàn thành công việc trong ngày một cách hiệu quả nhất. Do vậy, quản lý thời gian, sắp xếp và bố trí công việc hợp lý là cả một nghệ thuật và chính điều này góp phần đáng kể làm cho thành quả công việc ở mỗi người.

Những câu hỏi sau đây sẽ giúp chúng ta xác định việc mình muốn làm để rồi khối công việc vơi dần một cách nhẹ nhàng trong niềm vui qua cách bố trí khôn ngoan của mình.

Điều đầu tiên một người cần trả lời trước khi bắt tay vào công việc là hãy tìm câu giải đáp cho câu hỏi “mình đang quan tâm đến chuyện gì trong số các công việc được liệt kê trong danh sách ‘việc cần làm’ của ngày hôm nay?” hoặc câu hỏi “bây giờ tâm mình ở đâu trong số các công việc này?” 

Hãy bắt đầu một ngày bằng công việc mình quan tâm nhất. Khi hỏi câu này, tự nhiên tâm ta có một khoảng trống để tự nó lên tiếng và lắng nghe. Khi chúng ta mải mê cuốn công việc vào một khối thì thường chúng ta không nghe hết tiếng nói của tâm tư. Một việc làm thuận theo tiếng nói của lòng mình sẽ tiết kiệm thời gian, chất lượng và hiệu quả gấp nhiều lần hơn so với việc cứ bắt nó phải làm như một cỗ máy. Thông thường công việc mình quan tâm nhất chính là việc quan trọng nhất trong ngày nên một cách tự nhiên như một quán tính, khi viết ra các công việc cần làm trong ngày, bao giờ chúng ta cũng viết theo thứ tự ưu tiên.

Câu hỏi thứ hai, chúng ta tự kiểm tra, xem “đây thật sự có phải là việc mình thích làm hay không?” Tất nhiên không phải tất cả những việc cần làm đều là những việc mình thích, nhưng chúng ta có cách để thích việc mình cần làm, không thời điểm này thì vào thời điểm khác. Đối với vài việc trong ngày cầm đảm bảo thời gian tính, tức là cần phải hoàn thành ngay mà không thể trì hoãn, ta ưu tiên làm trước. Những việc khác, hãy chọn việc mình thích làm trước. 

Khi chọn việc mình thích, chúng ta sẽ làm thoải mái, làm mà như chơi và càng có niềm say mê trong công việc nhiều hơn. Niềm say mê và phấn khích này có một năng lượng chuyển hóa thái độ rất lớn. Do đó, thường là sau khi hoàn thành một việc mình thích, danh sách những điều thích làm trong số các công việc cần làm tăng thêm lên và thay vào đó, những công việc không thích ít dần lại và đến cuối ngày, tất cả những việc không thích đều tự động di chuyển vị trí sang cùng nhóm với công việc ưa thích. Đây là một nghệ thuật không quá khó, ai cũng có thể thử và người nào cũng có khả năng thành công với cách này.

Câu hỏi thứ ba chúng ta cần đặt ra và tìm câu trả lời là “chúng ta cảm thấy thế nào khi đang làm một công việc này?” Hãy quan sát cảm xúc của mình khi đang thực hiện một công việc. Chỉ biết đến công việc và nôn nóng hoàn thành nó mà không quan tâm gì đến trạng thái tâm lý của mình là một sai lầm hơn là thiếu sót. Nếu việc gì đó không tạo cho mình niềm vui, có thể chúng ta đã sai chỗ nào đây rồi. Vì sao? Làm là cả một quá trình tốn nhiều thời gian hơn là nhận lấy thành quả. Kết quả là điều tất nhiên, sẽ có ngay lập tức khi công đoạn làm này hoàn tất. Một khi đạt được mục đích, việc ấy coi như đã xong. Thời gian dành cho việc này chỉ chớp nhoáng, chỉ có thời gian thực hiện là dài. Do đó, chúng ta cần có niềm vui trong suốt cuộc hành trình thực hiện này. Ví dụ leo đến đỉnh núi là cái đích, nhưng người leo núi cảm nhận nhiều niềm vui và kinh nghiệm sâu sắc trong suốt chặng đường từ chân núi lên đến đỉnh hơn là khi lên đến đỉnh. Hoa thơm cỏ lạ, gió mát trời thanh trải dài trong từng bước chân từ nơi ta bắt đầu lên tận đỉnh núi kia mà! Nếu suốt chặng đường thực hiện công việc không có niềm vui, kết quả ấy liệu có ý nghĩa gì? Điều quan trọng là tinh thần chúng ta luôn sống động, những gì chúng ta thật sự kinh qua với sự có mặt của tâm lý thoải mái, vui tươi trong công việc.

Một câu hỏi không thể thiếu nữa là “những gì chúng ta đang làm đây góp phần thế nào vào mục đích chung của mình?” hoặc “mình làm việc này để nhằm mục đích gì?” Rõ ràng câu hỏi này là kim chỉ nam cho hành động của mình. Khi thấy công việc chúng ta đang thực hiện góp phần thực hiện kế hoạch lớn hơn, thực hiện nguyện vọng của mình, tự nhiên chúng ta có sức mạnh, tinh thần và niềm tin để thực hiện và hoàn thành tốt nhất trong khả năng có thể. Mỗi một việc chúng ta đang làm cần được xác định vị trí và tầm quan trọng trong bức tranh cuộc sống của mình. Cần xác định mục đích trong mỗi việc làm cụ thể và đặt nó vào mục đích chung của cuộc sống. Nếu lý tưởng cuộc sống là một đường thẳng hướng về phía trước thì mỗi một việc làm là một chấm nhỏ để góp phần hình thành đường thẳng ấy.

Câu hỏi tiếp theo cần quan tâm khi chuẩn bị thực hiện một công việc là “liệu có bao nhiêu giải pháp để thực hiện việc này và giải pháp nào là tối ưu?” Giống như liệt kê các công việc theo thứ tự ưu tiên về mức độ quan trọng, các giải pháp cho một vấn đề cũng cần liệt kê theo thứ tự ưu tiên dựa vào tiêu chí hiệu quả công việc tính trên mọi phương diện như kết quả, chất lượng, thời gian, công sức, chi phí... Trong điều kiện cụ thể với sự chi phối của các yếu tố bên ngoài, hãy tỉnh táo và khôn ngoan chọn lựa giải pháp tốt nhất để thực hiện công việc.

Thật ra, trong ngày chỉ có một vài công việc cần làm ngay mà không được chậm trễ, những việc còn lại có thể linh động thay đổi thứ tự, miễn sao cuối ngày, mọi chuyện đều hoàn thành có hiệu quả là đạt mục tiêu. Do đó, chúng ta không nhất thiết phải y theo thứ tự công việc được ghi ra trong danh sách công việc cần làm trong ngày và cứ thế mà thực hiện. Đừng để công việc đè mình! Cũng đừng để công việc biến mình thành một cỗ máy! Hãy dành một chút thời gian quán sát tâm mình, đặt ra 5 câu hỏi trên và trả lời một cách trung thực, sát với tình hình thực tế nhất, theo đó mà thực hiện lần lượt từng việc một, công việc sẽ tiến triển nhẹ nhàng và hiệu quả. Đừng ôm đồm vì đây là cách làm cho cả thân và tâm mệt mỏi thêm mà không làm cho tiến độ và chất lượng công việc tốt hơn vậy.

Chúng ta sống cả đời và làm việc cả đời. Tìm thấy niềm vui trong công việc là một niềm hạnh phúc lớn góp phần làm nên ý nghĩa một đời người vậy.

Posted by Hằng Như at 5:47 PM
Labels: Cuộc sống
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Đứng Lên Từ Vấp Ngã



Nhân ngày kỷ niệm đức Phật thành đạo xin được rút tỉa từ ý nghĩa sự kiện trọng đại này một bài học rất nhỏ nhưng thật sâu sắc đó là: Đứng lên từ vấp ngã 

Trong suột cuộc đời tại thế 80 năm của đức Phật đã để lại cho chúng ta những bài học bổ ích để noi theo ngài mà tiến bước trên hành trình tu tập giác ngộ tự thân. Cuộc đời ngài là một bài thuyết giáo không lời, sự lan tỏa từ thân giáo của ngài đã có một sức hút mãnh liệt đối với những người có duyên với Phật Pháp và đem họ về quy y với Đức Phật đồng thời nối tiếp bước theo lộ trình mà ngài đã hướng dẫn.

Vào thời Đức Phật còn tại thế đã có rất nhiều người quy y làm đệ tử với ngài mà động cơ ban đầu không phải là vì thấm nhuần giáo lý mà ngài đã tuyên thuyết, mà chính là sự cảm nhận để rồi ái mộ một cách sâu sắc từ bản thân cùng với uy nghi tế hạnh được thể hiện qua cuộc sống thường ngày của ngài. Từ chổ ngài xuất thân là một thái tử có tất cả mọi thứ dục lạc của thế gian biết bao nhiêu người mong ước mà không được, để rồi ngài lại phủi tay buông bỏ tất cả để trở thành một du sĩ một thân một mình lang thang nơi rừng sâu núi thẳm tìm chân lý cứu chúng sanh.

Lịch sử đã ghi lại cuộc đời Đức Phật từ sơ sanh cho đến nhập niết bàn và sau này đã được chư thầy tổ và các nhà nghiên cứu Phật học ghi lại mặc dù có khác nhau về niên đại nhưng lịch sử cuộc đời ngài thì thống nhất không có sự dị biệt, cho nên người phật tử hậu bối chúng ta đều biết khá chi tiết về cuộc đời đấng giáo chủ mình tôn kính.

Nhân ngày kỷ niệm đức Phật thành đạo xin được rút tỉa từ ý nghĩa sự kiện trọng đại này một bài học rất nhỏ nhưng thật sâu sắc đó là: ĐỨNG LÊN TỪ VẤP NGÃ.

Như hầu hết Phật tử chúng ta đều biết sau khi rời bỏ hoàng cung thái tử Tất-đạt-đa đã một thân một mình đi tìm thầy học đạo mong tìm ra chân lý giải trừ khổ đau cho chúng sanh. Lần thứ nhất người đã học đạo với ông Alasa-Kalama tu về số luận chuyên nhiếp tâm vào định sơ thiền...sanh vào cõi trời Vô Tưởng đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô Tưởng nhưng ngài nhận thấy đây không phải là đạo giải thoát nên đã rời đi.

Lần thứ hai hai ngài đến học đạo với ông Uddaka-Camaputta tu để giải thoát sanh lên cõi trời Phi Tưởng Phi Tưởng xứ, thái tử cũng tu theo nhưng khi đắc quả rồi ngài nhận thấy đây chưa phải là đạo chân chính giải thoát nên ngài cũng đã tạ từ ra đi tiếp tục cuộc hành trình tìm chân lý. Sau hai lần học đạo và cũng đã có thành quả nhưng ngài nghiệm ra rằng hiện thời không có đạo nào thực sư giải thoát nên đã thân hành tự tìm lối tu trì. Thế là ngài đã đến rừng Ưu-lâu-tần-loa phía nam núi Tượng Đầu bên dòng sông Ni-liên-thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm anh em ông Kiều-trần-như. 

Sử ghi lại rằng qua sáu năm tu khổ hạnh ép xác thân thể ngài chỉ còn da bọc xương cho đến một ngày kia ngài ngã quỵ vì kiệt sức, sau đó ngài được một thiếu nữ tên là Sujuta dâng một bát sữa, ngài dùng sữa xong sức lực dần hồi phục ngài xuống sông Ni-liên-thuyền tắm rửa sạch sẽ và nhận ra rằng tu theo lối ép xác chỉ làm cho thân thể kiệt quệ vì thế trí lực càng u tối không thể nào thấy đạo được.

Thế là ngài quyết định từ bỏ tu khổ hạnh và chọn giải pháp tu trung đạo, ăn uống bình thường không khổ hạnh ép xác mà cũng không tham cầu lợi dưỡng, năm anh em ông Kiều-trần-như tưởng ngài đã thối chí nên bỏ đi. Sau khi sức lực hồi phục ngài liền đến dưới cây Tất-bát-la trải cỏ làm nện ngồi tỉnh tọa, ngài đã phát lời đại nguyện: “Nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi gốc cây này!”.

Sau 49 ngày đêm tham thiền nhập định đêm mồng 8 tháng chạp ngài đã chứng tam minh, lục thông và đạt quả vị Vô thượng chánh đẳng, chánh giác, sau khi chứng thành đạo quả Đức Phật đã tuyên thuyết: …"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục."

Từ đó ánh đạo vàng của ngài đã lan tỏa khắp cùng mười hương ba cõi cho đến ngày nay giáo lý cao thượng của Đức Phật đã giúp cho chúng sanh nương theo tu tập tìm được sự an lạc trong cuộc sống hiện tiền, giáo pháp của ngài đã cứu vô số chúng sanh thoát vòng khổ đau, phiền não Sự kiện thành đạo của đức Thích Ca đã mở ra cho chúng sanh một con đường chánh đạo, một lối thoát cho sự khổ đau triền miên trong muôn kiếp, một bài học được rút ra từ sự kiện thành đạo của Đức Phật khiến cho chúng ta cần phải suy ngẫm để thực hành trong cuộc sống.

Chúng ta thấy rằng mặc dù chí nguyện rất kiên cường nhưng khời thủy đi tìm thầy học đạo thái tử Tất-đạt-đa đã đầu sư với những vị thầy lừng danh thời bấy giờ và cũng đã tu đắc đạo đến quả vị mà họ mong cầu, thế nhưng ngài nhận thức rằng những đạo đó vẫn còn sanh vào tam giới nên cho dù có được sanh vào cõi trời hưởng được phước báu đi nữa nhưng vẫn còn trong vòng lục đạo nên khi hết phước vẫn bị đọa lạc trở lại.

Thế là ngài dứt áo ra đi mặc dù vị giáo chủ bổn sư của ngài muốn ngài ở lại để tiếp tục thay họ truyền giáo. Từ sự kiện này chúng ta cảm nhận một sự quyết đoán trong lập trường của ngài, mặc dù đã có những thành quả và có thể hưởng lạc an vui nhưng ngài quyết đi đến cùng để tìm sự giác ngộ nên đã mạnh dạn khước từ. Đây là cái dũng của bậc đại giác hiếm ai làm được!

Một pháp tu sau đó của ngài là khổ hạnh ép xác để tìm sự giải thoát vì hồi đó có rất nhiều giáo phái tu theo pháp này, họ cho rằng thân thể con người là nguồn gốc mọi tội lỗi, phải hành hạ nó, phải làm cho nó kiệt quệ để diệt trừ mọi tham ái, diệt trừ được bản ngã, có thế mới tu giải thoát. 

Chọn pháp tu khổ hạnh sáu năm đã làm cho ngài kiệt sức và kết quả là ngài suýt chết vì sự sai lầm này. Thế nhưng, một lần nữa ngài kịp tỉnh ngộ nhận ra cái sai lầm của mình khi chọn tu khổ hạnh vì nó chỉ làm đọa đày thân xác mà không khai mở một đạo pháp chân chánh nào cả, ví như phải bỏ thân mạng này vì sự sai lầm như thế thì thật là đáng tiếc biết bao, tu ép xác mà để chết đi mất thân người rồi thì còn đâu nữa để làm điểm tựa mà tu tập chuyển hóa tâm linh?!

Biết sai thì phải kịp thời sửa, biết vấp ngã thì phải kịp thời đứng dậy, từ sự vấp ngã trong chọn lầm pháp tu đến nỗi gần mất mạng của hành giả Tất-đạt-đa và ngài đã sáng suốt đứng dậy dùng trí tuệ để nhận chân đường lối tu hành đúng phương pháp và kết quả là ngài đã chứng được đạo vô thượng, đây là một bài học hết sức sâu sắc của ngài đã để lại cho hậu bối chúng ta. Một bài học cần phải suy ngẫm và áp dụng trong cuộc sống, trong hành trình tu tập không phải chỉ dành riêng cho hàng phật tử mà cho tất cả những ai muốn đi đến đích cuộc hành trình mà mình đã chọn.

Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Theo Đạo




Theo đạo, dù là đạo nào, cũng đều không phải là đi theo một tổ chức, là gia nhập một hiệp hội, một đảng phái, càng không phải là theo một chủ nghĩa hay theo một học thuyết....

Vậy là càng không phải đi theo để học giáo thuyết và tìm hiểu hệ thống tổ chức, hoàn thành thủ tục đăng ký làm thành viên tham dự các nghi lễ...mà là phải làm sao được thường xuyên gặp gỡ, ở lại và chiêm nghiệm với đạo, với đạo sư ngay trong tâm hồn mình hàng ngày, bằng cách tạo thêm nhiều những khoảnh khắc vắng lặng nơi tâm, đó mới là môn đệ nhiệt thành!

Những lời dạy của bậc đạo sư như mưa trời rơi xuống làm cho đất trở nên phì nhiêu, cho hạt nẩy mầm, cho hoa kết trái, cho lúa đơm bông.... Nhưng nếu tâm hồn ta đóng lại như cái thùng đậy kín nắp thì mưa có rơi bao nhiêu cũng không thể lợi ích gì. Lời dạy dỗ của bậc đạo sư như ngọn hải đăng bừng sáng giữa đêm đen soi đường cho mọi tàu thuyền đang trôi dạt được về bến an toàn, mà nếu thuyền trưởng không thèm để ý thì coi như bằng không.

Ta xây dựng chùa tháp, đền đài, thánh đường, nhà thờ...là để có dịp nhắc nhở chính mình về sự có mặt của đạo và các bậc đạo sư. Chúng ta xây dựng các ngôi đền, chùa rất đẹp, rất ..hoành tráng, lộng lẫy. Và thực sự thì nội tâm ta có đền tháp nào không!?

Xin cho trong mỗi chúng ta, đền đài chùa chiền thánh đường hiện hữu đích thực! Mong sao trong chúng ta, chuyện bề ngoài hình thức là thứ yếu! 

Cho dù cuộc sống đời thường còn trăm điều phải đối diện thử thách đi nữa, xin mong cho mỗi chúng ta đừng đánh mất lương tâm để đền đài trong tâm hồn còn có thật.

Xin cho mỗi việc làm đều có ý thức mang lại nhiều niềm vui và hạnh phúc cho tha nhân, cho mình là đang tô điểm, làm đẹp thêm đền thờ trong tâm hồn, để ngày nào cũng như hương như hoa trang điểm cuộc sống này .

Han nghiem nguyen
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Lời Giáo Huấn Của Sư Ông Trúc Lâm



Người tham sắc Phật dạy dùng thuốc “quán bất tịnh” để trị. Bởi vì khi tham sắc thì thấy người đẹp, tự nhiên chúng ta nghĩ ngợi người đó đẹp thế này, người đó quí, sang thế nọ v.v… Ngược lại nếu chúng ta quán thân mình bẩn thỉu không ra gì, thân mọi người cũng vậy. Quán đến khi mình gớm thân mình, thì thân người khác mình cũng gớm luôn. Mà gớm thì hết tham. Đó là cách trị bệnh tham sắc.

Đến tham danh phải dùng pháp quán “vô thường”. Bởi vì mọi thứ trên đời này được rồi sẽ mất. Thí dụ như người ứng cử Tổng thống được đắc cử, thì bốn năm năm cũng hết nhiệm kỳ, có còn mãi đâu! Bởi nó không bền, vì vậy phải quán vô thường, quán nó là khổ hai thứ hòa hợp. Khi chưa được danh vì lo lắng chạy chọt đủ thứ đã là khổ. Khi được rồi lo nó mất lại khổ nữa. Nếu thật sự nó mất thì càng buồn. Cho nên quán tham danh gốc là khổ đau. Người không hiếu danh dù được mời gọi cũng không muốn. Nếu có làm việc gì thì vì tất cả lợi ích chung chớ không vì danh vị của mình. Đã vì tất cả lợi ích chung thì được không mừng, mất cũng không lo, như vậy mới không khổ.

Đến việc tham ăn (thực) cũng là gốc của khổ. Phải dùng hai thứ thuốc “vô thường” và “bất tịnh” hòa lại. Thức ăn khi còn ở miệng thì quí, nhưng nuốt qua khỏi cổ rồi thì hết quí. Giả sử nó không chịu vào mà ụa ra thì có gớm không? Như vậy nó quí khi còn ở ngoài. Nuốt vô rồi nó trở thành dơ, đâu phải là quí. Tại vì chúng ta cứ mê say nên cho là quí. Nếu thấy nhơ nhớp thì đâu có tham. Lại một điều nữa, thức ăn ngon được bao lâu? Chỉ một hai phút ở trong lưỡi trong miệng thôi, qua khỏi cổ thì hết ngon rồi, nên nó tạm bợ vô thường, tham làm gì. Xét như vậy thì bớt được tham ăn.

Tới bệnh tham ngủ. Nhà Phật dạy muốn trừ bệnh tham ngủ phải dùng thuốc “vô thường”, thuốc “tinh tấn” hòa lại. Nên nghĩ mạng sống này không bao lâu, không có gì bảo đảm. Giờ nào còn sống thì mừng giờ đó, qua giờ khác thì không thể biết được. Vì thân này rất mỏng manh, rất tạm bợ. Nên chúng ta hiện sống, có những việc nên làm đáng làm mà không lo làm, cứ nằm ngủ hoài. Nhà Phật dùng câu: “cần tu như lửa cháy đầu”, nếu đốm lửa rơi trên đầu thì chúng ta chần chờ hay phủi ngay? Vô thường đến bất kể lúc nào, chúng ta không thể lường trước được. Vì vậy giờ nào còn sống, còn khỏe thì nên làm tất cả những gì có thể làm, chớ không bỏ trôi ngày giờ lãng phí một cách vô ích.

Chánh Thiện Đạt
*** Trích ( PHÁP PHẬT LÀ THUỐC TRỊ TÂM BỆNH CHÚNG SANH ) - thuongchieu.net
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Tha Thứ Là Hiểu Là Thương



Trong nội dung điều thứ ba (trong 108 điều dạy), Ngài Dalai Lama dạy rằng, “khi có kẻ gây ra tổn thương cho mình thì không nên do dự một chút nào cả, hãy tha thứ cho họ”.

Dễ nói khó làm

Đây là một việc làm tốt, thế nhưng không dễ làm chút nào. Ta có thể khuyên người khác thực hành điều này vì biết rõ nó đưa đến lợi ích cho nhiều người. Ta nghĩ rằng mình có thể tha thứ dễ dàng khi chưa “đụng chuyện”, khi chưa bị người làm tổn thương. Thế nhưng khi xúc cảnh, bản ngã bị chạm đến, ta nhói đau và sự tha thứ lúc này là cả một thử thách lớn.


Nếu chỉ chăm nhìn về một hướng là những nỗi đau người khác gây cho ta, ta không thể nào tha thứ được. Cần phải có một hướng nhìn mới hơn, tích cực hơn dựa trên hiểu biết và yêu thương thì trí ta mới đủ sáng, tâm ta mới đủ rộng để có thể tha thứ. Đây là hướng đức Phật khuyên dạy ta, các bậc tiền bối nhắc khuyên ta từ kinh nghiệm thực tiễn của quý vị và gần nhất là lời khuyên chan chứa ân tình của Ngài Dalai Lama. Ngài dạy rằng, “nếu nghĩ đến những gì đã thúc đẩy họ hành động như vậy thì quý vị tất sẽ thấy rằng đấy chính là những thứ khổ đau mà họ đang phải gánh chịu, chứ không phải là do họ quyết tâm và cố tình làm tổn thương và gây tai hại cho quý vị”. 

Để có sự tha thứ chân thật, ta cần thấy được những nỗi khổ đau của người kia, thấy được những gì họ làm đều có nguyên nhân sâu xa từ những tập khí không lành mà do môi trường sống của bản thân người đó tạo nên mà khả năng người ấy không đủ cưỡng lại, hoặc được thừa hưởng từ những hạt giống của ông bà, cha mẹ người đó trao truyền mà họ không có quyền lựa chọn. Và thật sự họ không muốn làm những điều như vậy, thật sự họ không muốn làm tổn hại đến chúng ta. Họ là người gây ra những lời nói đó, những việc làm đó, nhưng họ cũng chính là nạn nhân của những gì họ nói và làm. Khi hiểu và nhìn ra được họ không cố ý, lòng ta vơi nhẹ hơn nhiều. Khi hiểu họ cũng khổ đau, thậm chí còn nhiều hơn ta, vì những vụng về của họ, ta tha thứ dễ dàng hơn. 

Tha thứ là hành động có ý thức

Ngài Dalai Lama dạy tiếp “Tha thứ là một cách xử sự tích cực dựa vào sự suy nghĩ, chứ không hề là một việc bỏ qua cho xong chuyện. Tha thứ là một hành động ý thức, căn cứ trên sự hiểu biết và chấp nhận thực trạng của những tình huống xảy ra với mình”. Sự sống lúc nào cũng chấp nhận ta, nó chỉ chờ ta tự chấp nhận chính mình và chấp nhận những gì xảy ra quanh mình mà thôi. Tha thứ không có nghĩa là ta bấm nút cho qua để xong chuyện, hoặc gồng mình gánh chịu tất cả những hậu quả từ việc làm của người khác, hoặc tưởng tượng rằng một ngày nào đó những nỗi đau trong ký ức đơn giản là biến mất một cách tự nhiên. Tha thứ thật sự có thể làm được và có ý nghĩa khi ta ý thức được mạng lưới chằng chịt nối liền của nhân duyên, của những điều kiện đã tạo nên hành động của mình và của người. Trên cơ sở của sự hiểu biết đó, ta sẽ biết thương mình và người khác nhiều hơn và thật hơn.

Đồng bệnh tương lân

Người ta thường nói “đồng bệnh tương lân”, cùng bệnh biết thương yêu nhau, quả thật như vậy. Xét cho cùng, tất cả chúng ta đều chưa là người giác ngộ, thì tham, sân, si là tài sản chung của tất cả. Dưới sự tác động của ba độc này mà ai đó vụng về làm tổn thương đến ta, thay vì giận hờn trách móc, ta khởi tâm thương họ, cũng như thương chính mình, khi chưa thoát ra khỏi vòng kềm tỏa của tham, sân và si. Khởi tâm thương họ mà tha thứ, khởi tâm thương họ mà cảnh tỉnh mình, khởi tâm thương họ khi thấy sự liên hệ mật thiết giữa mình và người, giữa người gây ra tổn thương và người hứng chịu tổn thương ấy. 

Đức Phật có dùng một ví dụ rất hình tượng để diễn tả tính cách liên quan và liên đới, mối quan hệ nhân quả của những sự kiện xảy ra với nhau. Khi nước trong đại dương theo thủy triều dâng lên cao, nước trong các con sông cũng sẽ dâng lên theo; khi nước sông dâng lên, nước trong các hồ lớn, kênh rạch cũng sẽ dâng lên. Khi nước trong đại dương theo thủy triều hạ xuống thấp, nước trong trăm con sông cũng sẽ hạ thấp, và nước trong hồ, kênh, rạch cũng thế. (Tương ưng bộ kinh, tập II, chương I, phẩm 7, kinh số 9 [Sii. 118]) Sức hút của mặt trăng tác dụng lên khối lượng nước trên quả đất khiến chúng chuyển động rất tương hợp với nhau. Khi một cái này phát khởi lên, sẽ khiến một cái kia có liên hệ với nó phát khởi lên theo. Bất cứ một sự kiện nào có mặt chắc chắn cũng sẽ bị điều kiện bởi một cái khác. Cũng thế, tất cả mọi yếu tố có liên hệ đến sự hiện hữu của ta – thân này, tâm này, thế giới trong ta, thế giới quanh ta – đều có một mối liên hệ rất mật thiết với nhau.

Cuộc sống rồi sẽ vui tươi hơn

Cuộc sống luôn vận hành không ngừng, nhưng vì chưa thấu hiểu quy luật vô thường này nên chúng ta thường có nhiều định kiến, chính điều này nhấn chìm chúng ta trong khổ đau do chính mình tạo ra. Như một cuộn phim sống động, cuộc sống sinh động đầy thú vị, ta lại có cái nhìn “chụp hình” ở thế tĩnh. Lấy cái tĩnh áp đặt lên cái động đã là phi khoa học rồi. Như người ngồi trên thuyền đang vận hành mà đánh rơi thanh kiếm giữa dòng sông, kiếm rơi xuống dòng nước chảy, thuyền vẫn cứ đi, mà ta lại đánh dấu ở mạn thuyền “kiếm rơi tại đây” để rồi khi thuyền cập bờ ta cố công tìm thanh kiếm ngay vị trí đánh dấu ở mạn thuyền thì làm sao có kiếm? Tha thứ là không “khắc chu cầu kiếm” khi tạo cho người kia cơ hội làm mới tích cực hơn. Tha thứ là ta biết trân trọng giá trị của giáo dục, nhất vai trò của môi trường giáo dục, trong quá trình hoàn thiện con người. Tha thứ, là ta trao cho người từng làm tổn thương mình một niềm tin, một sự tôn trọng cần thiết để họ nỗ lực vươn lên trong cuộc sống.

Khi có thể tha thứ thật lòng, tình thương như một chất liệu tự nhiên trong lòng của chúng ta có mặt thật sự. Và sự tha thứ, tình thương này chính là nước mát mẻ làm lành những vết thương mà người kia đã làm cho ta đau khổ.

Posted by Hằng Như at 8:43 PM
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Thiên La Địa Võng



Nhiều khi trong đời có những chuyện vớ vẩn mà cứ bắt mình phải bận lòng đến thê thiết mới lạ. Sáng nay tôi đọc báo thấy giới nhà giàu trong nước có người dám bỏ ra cả tỉ đồng, tức khoảng năm bảy chục ngàn Mỹ kim, để mua vài con cá kiểng loại quý hiếm về nuôi trong nhà cho vui. Ngó ảnh chụp mấy con cá đắt tiền đó, tôi chợt nghĩ đến một chuyện thiệt ngộ. Trong thiên nhiên làm gì có sẵn những loài động vật chỉ để nuôi trong nhà. Chắc chắn phải có những người đầu tiên nghĩ ra việc nuôi nhốt động vật nhằm vào mục đích gì đó, lâu ngày thiên hạ thấy hay thì bắt chước theo. Có thể những thế hệ gia cầm, gia súc đầu tiên đã phải khổ sở lắm lắm mới có thể thích nghi với kiểu sống lồng chậu chuồng cũi, rồi theo thời gian, đám con cháu của chúng cũng quen thuộc và thậm chí e sợ kiểu sống hoang dã.

Theo dòng suy tưởng vớ vẩn về mấy con vật nuôi đó, tôi bất giác rùng mình khi nghĩ đến thế giới loài người. Hình như đâu chỉ chim cá mới bị nuôi nhốt, mà cả con người hình như cũng vậy, cũng đều qua hành trình "Trước Lạ Sau Quen" ấy để mà trở thành những nô lệ. Chẳng hạn ở đâu trên hành tinh này lại không từng có những điền chủ, lãnh chúa với bao nông nô và tá điền để họ đày đọa, bóc lột. Một chuyện nghe qua thấy khó tin lắm: Ai lại ngu ngốc gì đi làm tôi đòi cho người khác? 

Nhưng nguồn gốc của sự tình thì hình như là thế này, đơn giản lắm thôi. Lúc đầu người này đóng vai kẻ tốt bụng để cưu mang người kia là kẻ cơ nhỡ. Tôi cho anh ăn mặc, nhà ở và việc làm, và anh làm việc cho tôi. Cứ sống trên đất của tôi, rồi trồng tỉa chăn nuôi, đến lúc thu họach thì chia đôi, có điều là phần của anh luôn là con số lẻ. Chuyện đó đúng quá mà. Anh mang ơn tôi còn chưa kịp, nói gì là trách móc phàn nàn. Chuyện thảm ở chỗ là ở đời anh và tôi thì ai cũng biết mối quan hệ nặng nề giữa chúng ta, nhưng qua vài thế hệ nữa, con cháu chúng ta sẽ mặc nhiên xóa bỏ cảm giác nặng nề đó. Con cháu của anh vừa lọt lòng mẹ đã thấy con cháu của tôi ngồi trên đầu nó, tự nhiên và dễ hiểu như mây bay bên trên ngọn cây, như nước phải chảy xuống thấp và khói phải bốc lên cao. Vậy thôi. Quan hệ chủ tớ lúc này không chỉ nằm trong quan hệ xã hội nữa, nó còn là vấn đề tâm thức: Đứa con của người tá điền đã là nô lệ ngay từ đáy lòng!

Theo đó mà nói, có được mấy người trong nhân loại hôm nay lại chẳng đang là một con cá kiểng, một đứa bé nô lệ bẩm sinh. Ai trong chúng ta lại không đang phục lụy cúi đầu trước một thứ gì đó để sống: Bên cạnh việc thường xuyên chịu thua trước bản năng bất thiện của mình, có người còn phải cúi đầu vô điều kiện trước những áp đặt của kẻ khác, trong đó có rất nhiều thứ quái gở và vô lý. Mọi suy tư và sinh hoạt của mỗi người thường y cứ trên một trong hai nền tảng đó. Từ ngày chào đời đã nghe tuyên truyền nhồi sọ, hết trường lớp thì còn có bao thứ sách báo, TV và Radio. Người ta đã phải trưởng thành với bao thứ nhét đầy trong tai, trong óc, trong tim. May mắn nhét được thứ tốt lành thì đó là hành trang sống đời, để mà chắp cánh lên mây. Xui xẻo gặp thứ khó ngửi thì lập tức trở thành con cá lia-thia hay chim nhồng, chim két cho người ta giam cầm. Từ đạo đức, văn hóa, khoa học, đến tôn giáo, triết học, chính trị… đều hoàn toàn có thể là lồng chậu, chuồng cũi cho bất cứ ai e sợ niềm tự do trong thiên nhiên. Ông F. Nietzsche của Đức có câu này hay lắm: “Con người là cái gì đó cần được vượt qua!”.

Ta sợ gì mà không thử xét lại điều mình vẫn cho là đúng? Nhút nhát quá thì cứ vào phòng đóng cửa trùm mền rồi lén lút suy tư, hay vào rừng lên núi khoét lỗ chun xuống để nghiền ngẫm một lần thiệt đàng hoàng xem sao? Nếu đến cả chuyện đó cũng không dám làm thì anh đúng là con cá kiểng của ai đó rồi. Tôi đau lòng vì anh, đau hơn cả một người con gái nhìn thấy gã người yêu của mình cứ suốt ngày níu áo mẹ.

Tôi là một người tin Phật, nhưng vẫn muốn mượn giọng Kinh Thánh để thưa rằng, phúc cho ai biết nghĩ trước khi tin, và đã tin rồi vẫn thường nghĩ lại. Tôi không hề hi vọng bất cứ đồng đạo nào của tôi chỉ tin Phật qua một cơ hội nào đó, rồi suốt đời không dám nghi hoặc. Một Phật giáo không có tra vấn thì không thể là ánh sáng cho ai được, nhiều lắm chỉ là một lối mòn. Dù đời hay đạo, hệ thống tư tưởng nào cấm người ta nghi ngờ thì ai cũng có thể là người khai sinh ra cái quái thai đó cả. Điều khó khăn nhất của một ông tổ là dám công khai mời gọi mọi thử nghiệm, tra vấn. Người ta xưa nay không dám đứng lên đặt câu hỏi thường chỉ vì hai nỗi sợ hãi: E ngại người khác và không dám nhìn thẳng vào chính mình. Kẻ không biết gì nên bị phỉnh thì đáng tội rồi. Cái đáng tiếc nhất là có người biết rõ mọi chuyện hoặc vẫn có lòng ngờ nhưng vì thiếu cả quyết nên tiếp tục theo đuổi đường cũ. Ở đời của họ vấn đề chưa nghiêm trọng bằng các thế hệ con cháu hay đệ tử kế thừa trung thành nếp nghĩ của họ. Lớp hậu tấn đó sẽ như những đứa con của người nô lệ, chấp nhận thờ phụng ai đó mà không cần tìm hiểu. Đến nước này thì nói thiệt, tôi không biết họ khác biệt chim cá trong lồng chậu chỗ nào: Cũng mãn nguyện với những gì hiện có, không muốn tìm hiểu gì ngoài ra, và tệ hại nhất là e sợ tự do.

Từ đầu bài viết, tôi nhớ mình chưa hề kêu gọi ai nổi loạn hay bất tuân, chỉ đề nghị một khả năng biết đặt những dấu hỏi một cách lễ phép và trách nhiệm, trách nhiệm với mình và với đời. Anh hoàn toàn có thể làm việc này ngay khi đang rất mực khiêm tốn dễ thương trước ai đó. Điều tôi muốn làm trong bài viết này là nhắc đến hai thứ chuồng cũi hay lối mòn trong đời: Do chính mình huân tập thành nếp hoặc do ai đó áp đặt. Rõ ràng, lý tưởng cao nhất của đời sống là giữ lại cái hay và bỏ đi cái dở, nhưng để có thể làm được việc đó, trước hết anh phải biết nghi ngờ con đường dưới chân mình. Hãy cẩn trọng trước cái mình thương thích và điều mình ghét sợ. Chính chúng đưa ta vào những chuồng cũi. Hãy biết nghi hoặc. Bởi nhiều lúc sự yên tâm quá sớm cũng dẫn đến chết người.

Nếu ngay bây giờ có người hỏi tôi đã dựa vào cái gì mà bước đi trên đường đời hay nẻo đạo, trước hết tôi sẽ nhỏ nhẹ thưa rằng tôi là một người dốt (không phải cách nói vờ khiêm tốn), nên tôi chỉ có thể hiểu được một ít chuyện, trong đó có lời Phật. Nhờ hiểu ít nên dễ nhớ lâu, rồi lấy đó làm đèn rọi đường. Tôi chỉ hiểu và nhớ đại khái ba chuyện thôi. Trước hết, cái gì cũng vô thường nên phải cẩn thận trước khi cho cái gì là tuyệt đối. Chuyện đời luôn biến đổi, các nguyên tắc hay quy luật gì đó nhiều khi phải được xét lại. Điều thứ hai, tôi tin lý nhân quả (đời hay đạo đều có) nên tự thấy mỗi người trước sau phải chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì mình suy tư và thực hiện. Và đó cũng là cái cớ để đừng bao giờ cực đoan, vì nếu điều ta nghĩ là chuyện bậy thì lúc nào đó chính mình sẽ lãnh đủ. Điều cuối cùng, tôi thấy hình như khi sống thiếu tỉnh thức (không đủ trí tuệ và chánh niệm để biết mình là gì và đang ra sao) thì người ta dễ dàng mắc vào hai chuyện này: Sống đau khổ hơn và dễ làm ác hơn. Khi anh sống lệ thuộc mù quáng vào ai đó, anh sẽ khó lòng tỉnh thức, bởi phần lớn tim óc của anh đã thuộc về người khác. Anh không thể điều động, vận dụng cái gì không thuộc về mình. Anh chỉ có thể sống tỉnh thức, khi anh hiểu tự do là gì và có được tự do!

Chiều nay, nếu có người đến hỏi tôi về chuyện tu học, tôi sẽ thưa rằng điều cốt tử phải làm chính là ngoài việc không khiến mình trở thành một con vật nuôi trong nhà ai đó, còn phải cẩn trọng với những chuồng cũi do chính mình tạo ra để tự chui vào. Trong bài viết trước (Ai Khỉ Hơn Ai), tôi đã tình cờ đề nghị pháp môn Hầu Thiền, Thiền Khỉ, nhằm kêu gọi sống sao cho đừng giống khỉ. Trong bài viết này, cũng thật ngẫu nhiên, tôi lại mong mỏi ai kia đừng trở thành chim lồng cá chậu. Nếu điều tôi viết không là vung tay quá trán, thì rõ ràng thứ gì trong đời này cũng có thể là những công án cho ta một đời tham chiếu. Mong thay!

TOẠI KHANH
Nguồn Huyền Không Sơn Thượng
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Nụ Cười Bất Diệt



Trong thời gian yên tu, một hôm bỗng dưng chúng tôi cảm thông được nụ cười nhẹ nhàng hiện trên môi tượng đức Phật và nụ cười tạm biệt của các Thiền sư khi từ giã cuộc đời. Tại sao bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật tại Lộc Uyển đề cập trước nhất là Khổ đế, cho đến nhiều bài thuyết pháp sau này, đức Phật cũng thường nhắc đến nỗi khổ của chúng sanh vô tận bằng những câu "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả...", mà trên gương mặt Ngài luôn nở nụ cười? 

+ Vô minh là cội nguồn của muôn kiếp khổ đau.- Con người có mặt trên cõi đời do vô minh chủ động, nên khi ra đời đã mang sẵn chất keo đau khổ. Vô minh là gì mà đày đọa con người lắm thế?_ 

Vô minh là nhận hiểu sai lầm về con người và muôn vật. Về con người, thân này là cái không thể giữ mà cố giữ, cái sắp bại hoại mà muốn không bại hoại, cái tạm bợ mà tưởng lâu dài, cái nhơ nhớp mà tưởng đẹp đẽ; các cảm giác là hư ảo mà tưởng là chân thật, cảm giác là vô thường mà tưởng lâu dài, cảm giác là đau khổ mà tưởng là hạnh phúc; nội tâm vọng tưởng là ảo ảnh mà chấp là tâm mình, chân tâm bất diệt thì lơ là không biết đến. Về muôn vật, những sắc hình hào nhoáng, những âm thanh sanh diệt, những hương vị tạm bợ, mà mê say đắm đuối, khao khát thèm thuồng đuổi bắt suốt đời không biết mệt mỏi. Từ những nhận hiểu sai lầm này, con người không bao giờ toại nguyện, không bao giờ được như ý, không bao giờ thấy hạnh phúc; mà luôn luôn thấy bất mãn, bất như ý, bất hạnh... là nguồn gốc khổ đau. Cái nhận hiểu sai lầm này gắn chặt vào chúng ta từ đời này sang kiếp nọ, mãi mãi không rời, cho nên khổ đau do nó gây ra không biết lấy đâu làm ngằn mé, chỉ còn cách diễn tả "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả". 

Mặc dù vô minh hiểm nguy như thế, song một phen giác ngộ chúng liền tiêu tan. Như ngôi nhà tối ngàn năm chỉ cần thắp ngọn đèn sáng lên thì bóng tối tan mất. Cái mê lầm u tối tạo thành muôn ngàn sợi dây nghiệp khổ, trói buộc lôi kéo con người lăn lộn trong vạn nẻo luân hồi, tưởng chừng như không có cách gì thoát khỏi; đâu ngờ ngọn đèn giác ngộ vừa bừng sáng lên, chúng liền lui mất không còn tung tích. Thấy tường tận sự việc này, đức Phật không nở nụ cười an lành sao được. 

Chúng sanh si mê tranh giành sắc, tài, danh, lợi, đấm đá nhau, sát phạt nhau, lừa đảo nhau, hận thù nhau... biến cảnh nhân gian trở thành bãi chiến trường. Kẻ thắng thì được hoan hô thăng thưởng, được vật chất dẫy đầy; người bại thì bị khinh miệt chê đè, bị thân tàn nghèo đói. Một bên hạnh phúc, một bên khổ đau hiện bày trước mắt mọi người. Vì thế, bất cứ ai có mặt trên trần gian đều sẵn sàng cầm kiếm xông vào trận mạc để mong giành phần thắng về mình. Nhưng nơi chiến trường đâu phải ai cũng là kẻ thắng. Có người thắng là có kẻ bại, có hạnh phúc là có khổ đau. Ðôi khi kẻ bại phải tan thân mất mạng đã đành, mà người thắng cũng thương tích đầy mình. Hạnh phúc rất ít mà khổ đau quá nhiều. Mặc dầu là thế, ở đời có ai chịu nhường bước cho ai. Những chiếc xe tranh nhau qua mặt gây tai nạn, hằng ngày xảy ra nhan nhản trước mắt, mà các chú tài xế ít khi chịu nhường tránh nhau để mình và người được sự an toàn. Tranh đấu đã trở thành qui luật của con người. Song kẻ thắng người bại kết cuộc sẽ thành cái gì?_ Một nấm mồ hay một nhúm tro tàn! 

Ðời người là diễn viên đang diễn xuất những vở bi hài kịch trên sân khấu của kịch trường. Dù đóng vai người tài danh lỗi lạc hay đóng vai kẻ ăn mày cùng khổ ở xó chợ đầu đường, khi hạ màn kết thúc thì mọi việc đều không. Trong lúc giả trang tạm thời ấy, mọi sự được mất thành bại... đều là trò chơi. Người diễn viên thông minh đóng kịch, dù bi kịch hay hài kịch, khi sân khấu buông màn liền nở nụ cười, đây là trò đùa trên sân khấu, không có một chút hối tiếc hay lo buồn. Ðức Phật đã giác ngộ viên mãn, thấy rõ cuộc đời là vô thường ảo hóa, khi từ giã cuộc đời tự nhiên Ngài hé môi cười nhẹ. 

+ Những thứ suy tư nghĩ tưởng trong nội tâm, mỗi con người chúng ta đều thừa nhận là tâm của mình, hoặc nhận là mình. Tôi suy tư thế này, tôi nghĩ tưởng thế kia, hoặc tôi nghĩ tôi tưởng. Do thừa nhận chúng là mình, nên chúng ra oai tác quái tạo đủ thứ nghiệp, cột trói lôi kéo mình lăn tròn trong lục đạo không có ngày thoát khỏi. Hằng ngày các thứ ấy lăng xăng lộn xộn bủa vây che đậy trong nội tâm chúng ta không một phút giây an ổn. Có khi chúng nó ồn ào náo loạn khiến đầu óc ta nóng rực bất an, cố van xin chúng cho ta được vài phút an lành, nhưng chúng nó nào có chịu tha, cứ tha hồ quậy, buộc lòng ta phải dùng thuốc an thần để kháng cự. Thậm chí những nhà tu hành cũng bực bội sự náo loạn của chúng, phải chạy tìm cầu "pháp an tâm". Có vị sợ sự trói buộc vô hạn định của chúng, phải đi cầu xin "pháp giải thoát". Gặp bậc thầy cỡ lớn, nhà tu hành liền đem ra hỏi "pháp an tâm". Ông thầy nghiêm nghị bảo "đem tâm ra ta an cho". Nhà tu hành sửng sốt phản quang soi lại thì bọn giặc ồn ào đã biến đâu mất, đành thưa "con tìm tâm không được". Bậc thầy nhếch mép cười bảo "ta đã an tâm cho ngươi rồi". Nhà tu hành bỗng dưng thấy bọn giặc ấy là một đám khói mây. Nhà tu hành khác thao thức lo sợ sự trói buộc của đám phiền não này, đi cầu thầy dạy "pháp giải thoát". Ông thầy cỡ lớn chỉ hỏi "ai trói buộc ông". Nhà tu hành tìm lại không thấy có gì trói buộc, liền thưa "không có ai trói buộc". Ông thầy cả cười bảo "cầu giải thoát làm gì?". Nhà tu hành bỗng dưng thấy trăm dây ngàn mối trước kia nhất thời đã biến đâu mất. 

Khi thấy tột bản chất ảo hóa của các thứ tâm lăng xăng lộn xộn này, đức Phật chỉ còn cười với chúng mà thôi! Nếu ai còn lầm nhận chúng là mình thì bị chúng ra oai tác quái; trái lại người biết rõ bản chất hư ảo của chúng thì không bị chúng lừa gạt và khả năng lôi kéo của chúng cũng bị hạn chế. 

Thấy rõ các thứ tâm hư ảo rồi, đức Phật còn nhận ra tâm thể chân thật nơi mỗi con người là thênh thang trùm khắp, chưa bao giờ bị sanh diệt vô thường. Xả bỏ thân khổ đau nhớp nhúa, tạm bợ, thể nhập pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt (Niết-bàn), nhẹ nhàng an lạc biết mấy, thì làm sao đức Phật chẳng hé nở nụ cười an lành thanh thản. Không những Phật, mà các Thiền sư đệ tử Phật khi từ giã cuộc đời cũng cười. Tôn giả Pháp Loa khi sắp tịch để kệ: 

Dịch âm: 

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn, 
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian. 
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
 Na biên phong nguyệt cánh man khoan. 

Dịch nghĩa: 

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn, 
Hơn bốn muơi năm giấc mộng tràng. 
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi, 
Bên kia trăng gió rộng thênh thang. 

Ðeo mang thân này là đeo mang gông cùm, bệnh tật, bại hoại, khổ đau, buông xả được nó thì nhẹ nhàng thảnh thơi an lạc. Xả bỏ thân này đâu phải là hết, mà còn bầu trời mênh mông có trăng trong gió mát, còn gì thích thú bằng nên Thiền sư cười! 

Người thế gian có khi cười có lúc khóc, hoặc cười xã giao, cười nhạo báng, cười gằn, cười gượng khóc thầm..., tất cả cái cười ấy đều thuộc về tình cảm sanh diệt. Cái cười của đức Phật, của Thiền sư là nụ cười giác ngộ thoát ra ngoài mọi thứ mê lầm, chỉ có cười mà không có khóc, gọi là "nụ cười bất diệt". Hơn nữa, vì đạt được thể vô sanh, mọi khổ đau sanh diệt đã trút sạch, thong dong tự tại đi trên con đường Niết- bàn, trên môi nở nụ cười rạng rỡ, nụ cười này thật là "nụ cười bất diệt". Như thế, có ai cả gan dám lớn tiếng bảo đạo Phật là bi quan. Ðạo Phật tạo cho con người niềm vui hiện tại và mãi đến mai sau. Chúng ta tu theo đạo Phật là vứt bỏ mê lầm để cho đời này được an lạc và giác ngộ để về sau mãi mãi an lạc. Chính đây là mục đích cứu khổ của đạo Phật. Ðạo cứu khổ cho chúng sanh, quả là đạo ban vui. Vì hết khổ là được vui, nên phải nói đạo Phật thực sự là lạc quan, mà 
là lạc quan vĩnh cửu.

Thiền Sư Thích Thanh Từ
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Con Đường Thoát Khổ



LỢI ÍCH CỦA SỰ THẬT THEO CHÂN NGHĨA PHÁP

Hành giả thực hành thiền tuệ, điều quan trọng đầu tiên cần phải học hỏi hiểu biết rành rẽ thông thạo về Chân nghĩa pháp, có 4 pháp: Tâm, tâm sở, sắc pháp, Niết Bàn, được phân chia thành những pháp như: Ngũ uẩn, 12 xứ, 18 giới,… tóm tắt còn 2 pháp là:

- Sắc pháp (rūpadhamma) thuộc pháp hữu vi.

- Danh pháp (nāmadhamma) thuộc pháp hữu vi, đó là tâm và tâm sở.

- Danh pháp (nāmadhamma) thuộc pháp vô vi, đó là Niết Bàn.

Niết Bàn thuộc danh pháp đặc biệt, chỉ làm đối tượng của tâm siêu tam giới, đó là 4 Tâm Thánh Đạo và 4 Tâm Thánh Quả mà thôi.

Sự thật Chân nghĩa pháp (Paramatthasacca) không thể thấy rõ, biết rõ bằng trí tuệ do học hỏi (sutāmayapaññā), hoặc trí tuệ do tư duy (cintāmayapaññā), mà chỉ thấy rõ, biết rõ bằng trí tuệ do thực hành thiền tuệ (bhāvanāmayapaññā) mà thôi.

* Kết quả của sự thật theo ngôn ngữ chế định

Trong đời này, có số người chỉ biết sự thật theo ngôn ngữ chế định, mà không hiểu biết sự thật theo Chân nghĩa pháp, nên không hiểu rõ danh pháp, sắc pháp là pháp vô ngã. Số người ấy, thường phát sinh tà kiến theo chấp ngã (attānudiṭṭhi), cho là ta, của ta, người, của người, chúng sinh, vật này, vật kia,… dễ phát sinh mọi phiền não, tự làm khổ mình, làm khổ người, tự làm khổ mình lẫn làm khổ người.

* Kết quả của sự thật theo Chân nghĩa pháp

Trong đời này, bậc Thánh Nhân đã thấy rõ, biết rõ sự thật theo Chân nghĩa pháp là pháp vô ngã, có thiền tuệ chánh kiến, Thánh Đạo chánh kiến, Thánh Quả chánh kiến, đã diệt đoạn tuyệt được tà kiến chấp thủ ngũ uẩn (sakkāyadiṭṭhi) rồi, nên không còn chấp ta, người, chúng sinh, vật này, vật kia,…

Trong cuộc sống hằng ngày, bậc Thánh Nhân vẫn biết rõ sự thật theo ngôn ngữ chế định dùng để giao tiếp với mọi người: Như thuyết pháp, nói đạo, thông tin, truyền đạt ý nghĩ của mình. Nhưng đặc biệt bậc Thánh Nhân hoàn toàn không chấp ngã. Cho nên, phiền não không phát sinh, không tự làm khổ mình, không làm khổ người, không tự làm khổ mình lẫn làm khổ người.

Đó là điều lợi ích của sự thật Chân nghĩa pháp.

Thích Hộ Pháp
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Chớ Lo Lắng - Hãy Sống An Lạc



Phóng sanh chim bị phê phán 
慈邱育(Từ Khâu Dục), phóng viên thời báo Đài Bắc. 
Ngày 3 tháng 11 năm 2004

Việc làm độc ác: Thói quen phóng sanh chim là một việc làm tốt. Thế nhưng, việc làm này đã tạo ra ngày càng nhiều những người hung bạo và thiếu tính người của một bộ phận làm nghề bắt giữ chim.

Người theo đạo Phật và đạo Lão từ lâu đã có thói quen phóng thích chim chóc và các loài động vật với niềm tin rằng làm như thế sẽ tích lũy được nghiệp tốt. Thế nhưng ở Đài Loan, các nhà hoạt động tranh đấu quyền động vật vừa phát biểu hôm qua rằng, hành động này trở thành thương mại hóa và như thế, đã dẫn đến cái chết khổ không cần thiết của khoảng 600 ngàn con chim mỗi năm.

Trong hai năm qua, những tình nguyện viên của Hội bảo vệ môi trường và động vật ở Đài Loan và Hội giáo viên ở Cao Hùng thuộc Trung tâm giáo dục sinh thái đã đến thăm 155 quầy bán chim ở Đài Bắc, Đài Trung và Cao Hùng. Những người bán chim này nói rằng 60 % số chim họ bán được là do Phật tử mua để phóng sanh vì người Phật tử tin rằng để các nghiệp xấu được đoạn trừ, họ cần phải phóng sanh. Một cuộc hội thảo tổ chức tại Đài Bắc hôm qua, có trình bày một tài liệu đã được đăng tải trên thông tin truyền thông về tội ác của việc bắt giữ chim và đưa về bán cho các cửa tiệm. Nhiều chim bị phơi nắng đến khô hoặc bị bỏ đói đến chết vì người bắt chim không kiểm tra lưới thường xuyên. Tài liệu ấy cũng nói rằng chim bị nhử mồi và bị bẫy bằng một cái lưới lớn. Một khi bị mắc lưới, chim vùng vẫy để thoát thân nên một số đã chết vì nguyên nhân này. Số chim sống sót phải trải qua một chặng đường dài trong quá trình vận chuyển đến nơi bán. Thước phim ấy cũng cho thấy chim bị nhồi nhét chật như nêm cối vào trong các chiếc lồng bình thường rồi được vận chuyển bằng tàu đến cho khách hàng, thường là những vị trụ trì các tu viện.

Các nhà hoạt động xã hội cho rằng chim bắt để bán cho người ta phóng sanh gồm có nhiều loại. Người ta thấy nhiều cửa tiệm có bán chim cu gáy, chim bông lau, chim ri, chim Nhật Bản mắt trắng, chim sẻ và chim bồ câu. Giá mỗi loại khác nhau từ 10 Đài tệ đến 300 Đài tệ một con. Có loại chim đắt hơn rất nhiều như chiền chiện hay chim vẹt lớn nhập khẩu, giá từ 1 ngàn đến 6 ngàn Đài tệ một con. Ngay cả các loại chim quý đang được bảo tồn như chim trĩ thiên hoàng, chim họa mi, chim vẹt xanh, cũng bị bắt bán với giá cao hơn.

Những nhà hoạt động xã hội đoán rằng có khoảng 10 % số chim bị bắt thật sự may mắn được phóng thích bởi những tín đồ tôn giáo. Những người này cũng thường phát tâm đóng góp tiền cho các nhà tổ chức sự kiện. Cả nước, có khoảng 500 nhóm tín đồ hay làm những việc như thế. Ông Wu Hung, chủ tịch Hội EAST phát biểu rằng, “chúng ta không đổ thừa cho các tín đồ mù quáng khi làm việc này, nhưng trách nhiệm là ở một số người lãnh đạo tôn giáo không chân chánh. Những Phật tử này không ý thức được rằng phóng sanh theo tín ngưỡng của họ góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại bắt và bán chim”. Theo ông Wu Hung những người không tôn trọng mạng sống của chim, không có lòng thương cảm động vật và làm những việc như vậy mối nguy hại tạo nên sự mất cân bằng của môi trường sinh thái quốc gia. Điều này đưa đến nguy cơ tiềm ẩn về sức khỏe. Ông Wu Hung còn nói rằng “nhiều giống chim khác loài trộn lẫn vào nhau trong quá trình vận chuyển làm tăng nguy cơ bệnh dịch như cúm gia cầm”.

Những nhà bảo vệ chim nói rằng các loài chim hoang dã, một khi bị bắt nhốt, dễ chết hơn chim cảnh được nuôi vì chim hoang dã rất nhát, khi bị bắt, do quá sợ mà không chịu ăn uống. Đồng thời, ngày hôm qua đây, ông Yuan, phía lập pháp, đã thông qua bản chỉnh sửa điều luật thứ 10 của Luật bảo vệ động vật với chi tiết mới thêm vào là không được tự do bắt giữ động vật.

"Mối quan hệ giữa cung và cầu đã tạo nên thương mại giữa những người bắt chim không lương thiện, người môi giới và người mua”. Lu Po-chi, luật sư đảng dân chủ tiến bộ, người khởi đầu dự luật, hôm qua phát biểu như vậy. Ông Lu nói ông sẽ sớm cùng với những nhà lập pháp khác chỉnh sửa các điều luật để ngăn chặn những việc làm tạo điều kiện cho nghề kinh doanh độc ác này phát sinh.

Lời tác giả: Điều này không có nghĩa rằng chúng ta không nên bảo vệ và phóng thích động vật. Tuy nhiên, chúng ta nên hành động thận trọng theo một cách thức phù hợp có trí tuệ và từ bi.
Trị liệu liên quan đến các kiếp sống quá khứ.

Một trong những khám phá vĩ đại nhất của đức Phật là Ngài chủ trương có tái sinh qua nhiều kiếp sống. Giáo sư Ian Stevenson, một nhà khoa học đã dành ngót ba thập kỷ qua để nghiên cứu và tích lũy nhiều chứng cứ ủng hộ sự khám phá của đức Phật. Nhiều nhà tâm lý trị liệu ngày nay đã giúp nhiều bệnh nhân theo cách nhìn toàn diện, với quan niệm con người không chỉ có một kiếp sống này. Một trong số những người nổi bật nhất nghiên cứu về lãnh vực này là tiến sĩ Brian Weiss, nguyên chủ tịch khoa Tâm thần học ở trung tâm y khoa Sinai tại Miami. Ông đã thực hành trị liệu trên cơ sở nhìn lui về các kiếp sống trước để giúp bệnh nhân chữa lành bệnh về thân và bệnh về tâm.

Với cách giúp cho các bệnh nhân nhớ lại các kiếp sống trước bằng phép thôi miên, ông đã làm cho bệnh nhân có thể giải tỏa những mâu thuẫn trong kiếp sống quá khứ vẫn còn tồn tại đến bây giờ. Câu chuyện sau đây trích từ cuốn sách “Xuyên dòng thời gian để trị bệnh”, một cuốn sách đề cập đến nhiều trường hợp, bệnh nhân có khả năng chữa lành bệnh nhờ vào trị liệu nhớ lại các kiếp sống quá khứ. Một lần, có một người phụ nữ bị chứng ho mãn tính mà không tìm được nguyên nhân và thuốc gì chữa cũng không khỏi. Trong y khoa, một khi đã áp dụng tất cả các phương thức chữa trị đặc biệt mà các triệu chứng bệnh vẫn không thuyên giảm thì bác sĩ sẽ khuyên bạn đến chuyên gia tâm thần học để xác định nguyên nhân tâm lý của các triệu chứng bệnh. Trường hợp này tương tự như vậy. Khi bệnh nhân được hướng dẫn để có thể nhìn lui lại thời thơ ấu và cả khi mới sinh ra, cô ta không thấy gì ảnh hưởng đến những triệu chứng cô đang chịu đựng cả. Một hôm, bác sĩ Brian quá mệt mỏi, bèn bảo cô ta “hãy nhìn lui về nguồn gốc của bệnh cô xem sao.” Thế là người phụ nữ ấy nhìn lui về 4 ngàn năm trước. Cô ta thấy trong một kiếp sống nọ, cô ta bị đâm vào cổ họng và chết. Sau khi nhớ lại từ trong ký ức như vậy, bệnh cô trở nên thuyên giảm dần. Bằng cách nhớ lui lại các kiếp sống trước, cô ta đã hoàn toàn bình phục từ căn bệnh của mình.

Nước mắt chúng ta trong vòng luân hồi nhiều như nước biển (Đức Phật).

Tám nguyên nhân gây bệnh
(Tương ưng bộ kinh)

♥ Mật

♥ Đờm dãi

♥Gió

♥ Sự tích tụ thể dịch trong cơ thể

♥ Thời tiết thay đổi 

♥ Tâm lý sang chấn

♥ Bị tấn công bất ngờ từ bên ngoài

♥ Nghiệp

Một điều quan trọng cần ghi nhớ là không phải tất cả các loại bệnh đều do nghiệp. Có bốn quy luật tự nhiên khác (Niyamas) tương tác với quy luật về nghiệp gây nên bệnh:

1. Utu Niyama (trật tự bên ngoài cơ thể), ví dụ hiện tượng mưa gió thay đổi theo mùa.

2. Bija Niyama (trật tự bên trong cơ thể) ví dụ các học thuyết khoa học về tế bào và gien.

3. Dharma Niyama (trật tự các nguyên tắc) ví dụ luật vạn vật hấp dẫn và các định luật vật lý khác.

4. Citta Niyama (trật tự của tâm hay luật về phương diện tâm thần) ví dụ sự vận hành tâm thức, thần giao cách cảm, khả năng dự cảm và thần thông.

Một điều quan trọng không kém cần ghi nhớ rằng đây là các luật tự nhiên chứ không có ai, Thượng đế chẳng hạn, là người sáng tạo ra các luật này. Theo quan điểm của Phật giáo, bệnh tật phát sinh không có sự can thiệp của Thượng đế. Bệnh phát sinh do một số điều kiện. Nó chỉ khởi lên khi các điều kiện này chín muồi. Do đó, chúng ta có thể ngăn ngừa bệnh bằng cách can thiệp vào một số điều kiện vốn là nguyên nhân gây bệnh. Ví dụ, bỏ hút thuốc.

Posted by Hằng Như at 9:56 AM
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

Tình Thương



Tình yêu đích thực là vô điều kiện, là cho đi mà không mong cầu đáp trả. Thậm chí khái niệm cho và nhận không tồn tại, chỉ còn sự tương giao một cách trọn vẹn và vô ngã. Tình yêu nam nữ phổ biến hiện nay chỉ là sự trao đổi, mà hàng hóa chính là cảm xúc và cảm giác của hai bên. Khi còn ảo tưởng về cái tôi thì không thể xảy ra tình yêu đích thực, vì thế nào cũng có điều kiện nào đó hiện diện. Tình yêu lúc đó dù bắt đầu có nồng thắm đến đâu, dù khoái cảm có mạnh mẽ đến đâu cũng thật mong manh. Vì chỉ cần xuất hiện yếu tố bên ngoài làm cảm xúc - cảm giác của một bên thay đổi, thế là bão táp phong ba liền ập tới.

Khi ta yêu một người tức là ta yêu luôn cả mặt tốt và mặt xấu của người đó. Xấu và tốt như hai mặt của một bàn tay. Ta không thể chỉ giữ lấy một mặt mà bỏ đi mặt kia. Ta luôn tự vẽ ra cho mình một hình ảnh về người mình yêu hay người chồng của mình. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của ta, không phải con người thực. Vì vậy ta cần nhẫn nại lắng nghe, quan sát và chia sẻ để có thể hiểu rõ về người bạn đời của mình. Khi thấu hiểu cả mặt tích cực và tiêu cực của người ấy, ta mới có thể yêu thương họ thật sự.

Khi ta thật sự yêu thương một người thì người đó sẽ cảm thấy tự do để được là chính họ. Tình yêu đích thực không ràng buộc đối tượng được yêu mà còn là động lực để cho họ đổi mới chính mình. Khi có biến cố xảy ra thì phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhiều hơn, nhưng họ cũng dễ buông bỏ tư kiến của mình hơn. Nếu cô gái biết chấp nhận chàng trai như anh ấy là, thì sẽ có cơ hội để chàng trai thay đổi thái độ của mình.

Quy luật của cuộc sống là vô thường, kể cả tình yêu đôi lứa. Nếu ta đủ nhẫn nại để quan sát, ta sẽ thấy rõ, vị đắng, vị ngọt của tình yêu. Thấy rõ nó sinh ra và mất đi như thế nào. Và khi hiểu rõ, ta sẻ không còn bám chấp vào hôn nhân nhưng cũng không sợ sệt hôn nhân nữa.

Ta có thể làm giấy kết hôn với người mình không hề yêu, và cũng có thể nhắm mắt ký giấy ly hôn khi mình vẫn còn yêu tha thiết. Hôn nhân hay ly hôn vốn chỉ là hình thức, là một bản hợp đồng mà thôi. Làm sao nó có thể ràng buộc được tâm ta. Quan trọng là khi có biến cố xảy ra, ta cần đối diện với chúng bằng thái độ sáng suốt và trong lành. Vì biến cố đó là như ý hay bất như ý cũng là cơ hội cho ta hiểu thêm về chính mình, về người mình yêu. Và từ đó nhận ra bản chất thật của tình yêu, của cuộc sống.

Đừng tưởng xuất gia đi tu là ta có thể trốn thoát được bài học tình yêu. Với hiểu biết mờ mịt không rõ ràng, bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp vướng mắc tình cảm bất kể ta đang làm gì, ở đâu. Đức Phật có dạy rằng chỉ có thể thoát ly một pháp khi ta đã tường tận mặt tích cực cũng như mặt nguy hại của nó, khi ta nhận biết rõ từ khi nó sinh ra cho đến khi nó mất đi. Nói đúng hơn, lúc đó nó tự thoát ly, chứ không ai làm gì cả.

Hãy nhớ điều quí giá nhất trong cuộc sống chính là sự bất toàn. Vì khi toàn vẹn thì sự sống sẽ kết thúc. Sự bất toàn là một phần của vô thường, một quy luật tất yếu của cuộc sống. Khi ta còn đang sống trong ảo tưởng về bản ngã, về cái tôi và cái của tôi, thì bản ngã luôn cầu toàn, và nỗ lực để được như ý. Nhưng những gì nó nhận được từ cuộc sống đều là bất toàn và bất như ý. Sau những cố gắng và nỗ lực vô vọng, nhờ sự bất toàn ấy mà cuối cùng bản ngã cũng đầu hàng. Ta bắt đầu sống vô ngã vị tha, và tự nhiên ta thấy sự bất toàn lại chính là động lực để phát triển và tiến hóa của vạn vật. Chính vì mọi thứ đều bất toàn mà ai cũng có cơ hội làm mới bản thân mình.

Bản ngã luôn mong cầu tốt hơn những gì đang xảy ra. Nó không cho ta cơ hội trọn vẹn với thực tại đang là. Vì vậy ta rơi vào phiền não khổ đau. Nhưng chỉ cần ta buông mọi ý đồ muốn tốt hơn, và trở về trọn vẹn với những gì đang diễn ra. Ta sẻ thấy mọi sự đều vô thường, tự nhiên đến rồi đi. Tất cả đều có lý do, tùy duyên mà sinh khởi và cũng tùy duyên mà chấm dứt bất kể ta muốn hay không. Tất cả những thiện - ác trong đời đều:"Bất khả tư nghị", tùy hoàn cảnh, tùy đối tượng mà nó được gán cho cái nhãn "thiện" hay "ác". Dù những gì đang xảy ra là thiện hay ác, nó đều là bài học giác ngộ vô cùng quí giá về cuộc sống.

Thích Viên Minh
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

Ý Nghĩa Của Một Câu Phong Dao



Phong dao, tục ngữ Việt Nam rất hay, rất đa dạng, rất phong phú, có thể nó được hình thành và xuất xứ qua một giai thoại hay một điển tích nào đó, cũng có thể qua một sự ngẫu hứng của những đôi nam thanh nữ tú tình cờ gặp nhau giữa sông, giữa chợ cũng nên. Thí dụ câu ca dao: "Gió đưa Cải Cải về trời, Răm Răm ở lại chịu đời đắng cay". Câu nầy qua điển tích về bà Phi Yến (tục gọi là Lê Thị Răm-Răm) là vợ của Nguyễn Ánh và là mẹ của người con trai tên là Hội An (tục gọi là Cải-Cải), vì bà nầy dám can ngăn Nguyễn Ánh không nên “cõng rắn cắn gà nhà” khi Nguyễn Ánh cầu viện Pháp bằng cách gởi Hoàng Tử Cảnh cho giám mục Bá Đa Lộc mang qua Pháp rồi đến cầu viện quân Xiêm La và bà dám khen Quang Trung- Nguyễn Huệ là một bậc anh tài, chí khí, làm cho Nguyễn Ánh điên tiết lên và ra lệnh giết bà. Sau nhờ tất cả các quần thần can dán Nguyễn Ánh, và bà được tha tội chết, nhưng bà đã bị Nguyễn Ánh sai đem giam vào trong hầm núi ở Côn Đảo. Khi nghe quân Tây Sơn tiến đến thì Nguyễn Ánh nhổ neo bỏ chạy. Hội An (Cải-Cải) la lên, con muốn mẹ, con muốn mẹ, liền khi đó Nguyễn Ánh đạp con mình xuống nước cho chết chìm và được dân làng vớt lên chôn cất. Tâm trạng của bà Phi Yến lúc bấy giờ đau khổ đến dường nào! Cho nên dân làng tại đấy mới có câu ca dao đó. Ngày nay chúng ta quen truyền miệng là “Gió đưa cây cải về trời, rau răm ở lại chịu lời đắng cay.” Nhưng, ở bài nầy người viết chỉ muốn đề cập đến câu phong dao có liên quan đến đạo lý của nhà Phật là chính, đó là câu: Thứ nhất là tu tại nhà, thứ hai tu chợ, thứ ba tu Chùa.

Ý nghĩa tu tại nhà như thế nào mà phải được xếp hạng nhất vậy! Và tu chợ ra sao mà cũng ưu tiên đứng trước người tu tại Chùa? Có lẽ là có ẩn nghĩa sâu xa gì chăng? Mời các bạn đọc tìm hiểu thêm ý nghĩa hai câu nầy như thế nào. Thường thì ca dao Việt Nam cứ đọc ra như vậy và tùy tâm cảnh của mỗi người mà hiểu. Do đó, đôi khi có nhiều người hiểu và giải thích rất là tuỳ tiện theo ý riêng của mình.

Như câu thành ngữ “Có thực mới vực được đạo” chẳng hạn. Câu nầy các bậc tiền bối của chúng ta ngụ ý rằng, người có thực tâm xây dựng mới vực dậy được đạo. Có nghĩa rằng tâm của người làm đạo đó phải nhất nhất chân thực, chân thực bất hư – tâm chân thực không hư dối thì Đạo Phật là đạo của sự thật. Không có gì hủy hoại được đạo Phật qua cái tâm chân thực của con người làm đạo cả. 

Nhưng rất tiếc, ngày nay không ít người hiểu câu nầy đồng với nghĩa ăn uống , “có ăn mới làm nên đạo.” Thế thì người Việt chúng ta không có câu, “miếng ăn là miếng tồi tàn…” đó sao? Hiểu như thế thì quả là lệch lạc, và cũng là giềng mối dẫn đến hình thành những tệ đoan có thể xảy ra nơi nhiều từng lớp xã hội trong quá trình và ngay cả trong hiện tại. Một danh từ nói lái mà ở xã hội Việt Nam bây giờ ai cũng biết là, thủ tục “đầu tiên,” để ám chỉ các cơ quan công quyền với thói quan liêu “có ăn mới làm nên đạo” của người Việt nói riêng và người Á Châu nói chung từ xưa đến nay. Tệ đoan nầy còn lây lan qua các cơ quan Tôn Giáo cũng phải trải qua cái khâu của, thủ tục “đầu tiên” mới được đóng dấu thị thực nữa thì thật là hết biết!...

Trở lại câu phong dao, thứ nhất tu tại nhà… cũng không ít những người hiểu câu nầy theo quán tính. Nghĩa là người ta hiểu theo “cách riêng” của họ. Thế nên, không ít quí thầy than rằng, thời bây giờ khuyến khích Phật tử đến chùa tu tập, quí ngài nhận được những câu trả lời không mấy khả dĩ. Thường thì, “thưa thầy, Phật tại tâm, con bận bịu việc nhà quá thôi thì ở nhà tu cũng được, bởi vì thứ nhất tu tại nhà mà…” Vậy là cũng huề.

Còn nếu có một người muốn đi làm Phật, như câu trả lời dứt khoát của lục tổ Huệ Năng với ngũ tổ Hoằng Nhẫn rằng, “con đến đây chỉ để xin làm Phật.” Một người có tâm làm Phật như thế, thì chí ít họ cũng phải có cái căn bản “thứ nhất tu tại nhà” đã chứ. Cái căn bản đó sao mà quan trọng cho người muốn xuất gia lắm thế? Chúng ta hãy ôn lại lời đức Phật dạy: gặp thời không có Phật và các bậc hiền thánh, mà biết thờ kính cha mẹ thì cũng như đang thờ kính Phật, các bậc hiền thánh vậy. 

Như vậy là người muốn xuất gia phải tu ngay cái tâm hạnh của mình ở nhà trước đã, đó là ở trong nhà biết kính cha thờ mẹ, thương yêu anh chị em, là căn bản đạo đức mà một con người muốn phát tâm rộng lớn (xuất gia) phải cần có. Bởi vì “tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.” Còn nếu một người mà ở nhà đối với cha mẹ, anh chị em đã vắng bóng sự hiếu kính, thương yêu thì, dù có đến Chùa xin làm phật, Phật có hiện diện trước mặt họ, họ vẫn, “vào chùa dắt Bụt đi chơi, gần chùa kêu Phật bằng anh”, là cùng. Câu tục ngữ đó đã đi vào dân gian và lẫn cả văn chương Việt Nam rồi vậy. Con người tâm địa không được trong sáng thì dù có đến chùa nữa cũng ở không lâu. Nhưng càng ở chùa lâu dài thì càng hại cho đạo, càng thêm ô nhiểm cửa Phật. 

Thế còn, “thứ nhì tu chợ.”? Thường chúng ta hay nghe các bậc lớn tuổi với những lời trân quí khen tặng các nam thanh nữ tú có cử chỉ và ngôn từ nết hạnh ở giữa chợ đời, thì ngược lại họ cũng không tiếc rẻ để buông những lời không mấy tốt đẹp cho những anh chị khuyết hạnh vậy. Bởi vì ở trong nhà hiếu thảo với mẹ cha, ra đường kính trên nhường dưới là một đức hạnh lớn mà ở trong nhà Phật còn gọi là sự khiêm cung, khiêm hạ. Nếu ta là người muốn tu mà không chịu chuẩn bị cho chính mình những bước khiêm cung hòa ái, tôn Sư trọng Đạo đó, thì khi tới Chùa đảnh lễ xin phép vị Trú Trì để cho mình được xuất gia đi nữa thì, việc tu tiến của mình cũng không đi vào đâu, đôi khi còn tạo thêm lớn cái nghiệp nữa. Bởi vì, tính khí của mình vốn dĩ ở nhà đã không biết kính trọng cha mẹ, ra ngoài đường chẳng biết nhường nhịn ai, là đã hỏng bước căn bản rồi. Thường thì người tu phải có một duyên lành sâu xa nào đó, nên họ mới có được những đức hạnh ấy. Nói thế không có nghiã là những người không xuất gia không có những đức hạnh đó mà rất nhiều, tuy nhiên không đạt tới ý nghĩa của một đức hạnh sâu xa ở trong câu tục ngữ này đó thôi. Một thí dụ căn bản: Một người chưa trang bị được sự kiên nhẫn và sự hiếu kính đó, đến cửa Phật một thời gian sau mình sẽ nhận ra ở vị Trú Trì đó vẫn còn vài khuyết điểm, rồi mình vội cho là thô thiển và sẽ trở nên sinh tâm bất kính, do đó không tiếp nhận được những ưu điểm, những đức hạnh tích cực của vị Thầy của mình. Mất hết sự cung kính đối với người Cha hướng dẫn tinh thần, và sự xây dựng tuệ giác cho tự thân cũng sẽ không thể thành tựu, một khi ngã mạn và sân si của tự thân người tu đó trổi dậy. Nên nhớ một điều là dù các bậc cao tăng đi nữa nhưng họ vẫn chưa có thể hoàn hảo được như một bậc thánh mà mình luôn mong đợi đâu nhé. Nếu có một vị thật hoàn hảo thì vị đó là một Thánh nhân, còn nếu không phải là thánh nhân mà hoàn hảo như vậy thì vị nầy chắc sẽ rất khó đi cho trọn vẹn trên con đường đạo. Chuyển nầy quí bạn đọc tự suy nghĩ lấy, xin đừng hỏi lại tôi, tại sao?

Cho nên, người có sự khiêm cung, khiêm hạ là người đó sẽ xây dựng được công đức vô lậu. Nghĩa là công đức nầy sẽ là những nấc thang căn bản để cho người tu bước lên và vượt ra khỏi vòng tam giới, là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, để đi đến Niết Bàn tịch tịnh. 

Thế mới biết việc quan trọng của một người khi muốn cắt ái ly gia thì phải thành tựu được hai bước căn bản là, thứ nhất tu tại nhà, thứ hai tu chợ, rồi thứ ba mới vào chùa thì lúc đó dù có phải đứng trước những sóng gió của nghiệp chướng, đứng trước những ngoại ma, nội ma, và ngay cả thiên ma ba tuần cũng không thể xô đẩy được người tu đó. Còn vài tháng nữa cũng sẽ đến mùa Xuân Đinh Dậu, người viết xin mượn câu nói của bồ tát Di Lặc (Bố Đại Hòa Thượng) cho nghĩa của câu thứ ba và cũng để kết thúc bài nầy, “Dù ai có nhổ nước bọt lên mặt ta, ta vẫn không cần lau chùi, để tự nhiên nó khô.” Nghĩa là dù ai có phỉ nhổ, vu khống, mạ lỵ, chửi bới Ngài, thì Ngài vẫn thản nhiên bất động, để tự gió bay, đó là đức hạnh lớn của người xuất gia (bát phong xuy bất động) vậy. Và đây cũng là chân lý sáng ngời của bước chân hạnh phúc của một người tu, vì, lời Đức Phật dạy: "Con đường mà người đang đi đó là chân lý, chứ chân lý không nằm ở cuối con đường". Người viết, xin hướng về mười phương Tam Bảo, thành tâm cầu nguyện cho tất cả chúng ta, tranh thủ để đạt được ba bước căn bản đức hạnh đó để làm hành trang trên bước đường giải thoát.

Tuệ Minh-T Phước Toàn
Chùa Phước Huệ, Tacoma, cuối thu 2016
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Nhân Quả Nghiệp Báo



Nhân quả nghiệp báo rất quan trọng. Người học Phật không dễ gì nắm bắt định luật này cho thấu đáo nếu không nghiên cứu, học hỏi và chiêm nghiệm sâu xa.

Điều đầu tiên chúng ta phải biết là nhân quả khác, nghiệp báo khác. Có khi có nhân quả mà không có nghiệp báo. Định luật nhân quả là tất yếu, ta không thể chấm dứt nó được. Nhưng nghiệp báo thì ta có thể thay đổi hoặc chuyển nó được. Nói thế, ta cũng không loại trừ khả năng, nghiệp báo có thể nặng hơn hoặc làm cho nó giảm nhẹ đi, tùy duyên, căn cơ và sự tu tập của từng người quyết định.

Muốn lãnh hội trọn vẹn bài học về nhân quả nghiệp báo ta phải nghiên cứu toàn diện, lần lượt đi qua những kiến thức giáo pháp cơ bản sau đây:

- Những định luật của vũ trụ.

- Nghiệp là gì?

- Nguồn gốc của nghiệp.

- Nhân quả nghiệp báo.

- Có bao nhiêu loại nghiệp.

- Những điều quan trọng cần phải liễu tri.

- Kết luận.

I- Những Định Luật Của Vũ Trụ

Có những định luật, những quy luật vận hành của vũ trụ, chúng tương quan mật thiết nhau và chi phối toàn bộ đời sống của con người cùng vạn hữu. Chính những định luật, quy luật này, trong tác động hỗ tương của chúng, đã sinh ra vô vàn giống loại hữu tình, vô tình cùng trời đất, trăng sao, thiên hà, vũ trụ...

Những quy luật ấy đã được đức Phật giới thiệu phổ quát như sau:

1- Định luật của thế giới vật lý vô cơ (utuniyāma)

Đây là quy luật vận hành trong thế giới tự nhiên của trời đất, tạo ra những hiện tượng nắng mưa, ngày đêm, nóng lạnh, xuân hạ thu đông... Những ảnh hưởng của mặt trời, mặt trăng, tinh tú đến sông, biển, ao hồ; các lực tương tác chi phối, tác động đến con người, thảo mộc, vạn hữu... là thuộc về định luật utuniyāma này.

2- Định luật của thế giới sinh vật lý hữu cơ (bijaniyāma)

Là những quy luật tác động trong thế giới tế bào của những động vật và thực vật, trong đó có con người. Do những định luật này mà các nhà khoa học đã tìm ra luật bảo toàn giống loại, ADN, di truyền, gène... kể cả những công nghệ sinh học... Cũng nhờ những quy luật này mà giống nào sinh ra giống nấy. Hạt cam sinh ra cây cam. Lúa có từ hạt lúa. Gène di truyền trong việc thụ thai hai trẻ sinh đôi giống nhau nhưng khác tính tình. Khoa học tội phạm hình sự chỉ cần lấy ADN nơi một mẫu tóc có thể tìm ra người gây án...

Những định luật thuộc bija niyāma này còn rất lớn rộng và ẩn mật, sợ rằng nhiều thế kỷ nữa, nhân loại vẫn chưa khám phá ra hết.

3- Định luật về pháp (dhammaniyāma)

Là những quy luật chi phối vạn pháp. Như luật âm dương, ngũ hành, luật hấp dẫn, ly tâm, điện từ ; những phản ứng sinh lý hóa, luật bảo toàn năng lượng, trường sinh học; kể cả những hiện tượng siêu hình như lúc Bồ-tát giáng phàm, thành đạo, Niết-bàn...

4- Định luật về tâm (cittaniyāma)

Những định luật về tâm, tâm lý, như: ý tưởng, ý niệm, tưởng tượng, hồi ức, trí nhớ, ký ức, tư tưởng, trực giác... Ngoài ra, những trạng thái tâm lý, những yếu tố nội tâm diễn tiến theo trình tự nhân quả tương quan đưa đến phán đoán, nhận thức, suy luận, chi phối sinh hoạt hữu thức hoặc vô thức của con người đều thuộc lĩnh vực của định luật này. Những hiện tượng thần giao cách cảm, biết quá khứ vị lai hoặc thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm thông... cùng từ định luật này mà có.

5- Định luật về nghiệp (kammaniyāma)

Đây là định luật về nghiệp báo, nói đủ là nhân quả nghiệp báo. Khi nói đến nghiệp báo thì phải có tác nhân của nghiệp và kết quả của nghiệp (hay báo ứng của nghiệp).

Trong 5 định luật mà chúng ta vừa điểm xuyết qua, 4 định luật đầu là định luật tự nhiên, chúng có xẩy ra tiến trình nhân quả nhưng không xảy ra nghiệp báo. Riêng định luật thứ 5 này mới xảy ra nhân quả nghiệp báo. Chính ở đây, những hành động và phản ứng tâm lý có ý thức, mang tính đạo đức, luân lý (thiện, bất thiện, bất động) mới tạo ra sự báo ứng của nghiệp. Đây là những quyết định, những chủ đích, những hành động có đầu tư của ý chí tự do của mỗi cá nhân. Tuy là nghiệp riêng biệt (biệt nghiệp) của cá nhân nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội và nhân loại (cộng nghiệp).

Như vậy, chúng ta phải biết cho rạch ròi đâu là nhân quả khách quan đâu là nghiệp báo chủ quan. Cả bốn định luật đầu tiên đều xảy ra theo tiến trình nhân quả. Phạm vi của chúng rất rộng lớn. Nếu ta không thấu triệt dễ sinh ra ngộ nhận, cái gì cũng đổ thừa cho nghiệp thì oan cho ba đời chư Phật! ...

ĐỌC THÊM =>>>
http://thuvienhoasen.org/a18791/nhan-qua-nghiep-bao
Namo Buddhaya.
Theo Phật Pháp Buddha Dhamma
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2017

Trên Ngọn Tình Sầu


Ai sống ở đời cũng phải dẫm lên những buồn vui mà đi về phía trước. Có một ngày tôi chợt phát hiện ra mình có những chuyện ngậm ngùi, có thể từng khiến nhiều người thấy buồn, nhưng tôi nhớ hình như chưa nghe ai nhắc tới. Bỗng muốn kể chơi vài chuyện buồn trong số đó cho vui!

Tôi chỉ mới về Tàu hai lần trong mười năm xa xứ. Tôi từng đứng một mình trên bến Thượng Hải Than để ngắm nhìn con sông Hoàng Phố trong đêm, đêm ở đó thường nhiều gió lạnh. Tôi từng một mình thả bộ trong phố đêm Lệ Giang cho đến lúc quán xá bắt đầu đóng cửa. Nhiều và khá nhiều những nơi chốn đây kia trên xứ Tàu đã hút hồn tôi, đến mức đã rời đi cả tháng trời sau đó còn cứ thấy nhớ như điên. Vào ra chỉ mong ngày trở lại lần nữa. Thế rồi một ngày đọc báo, thấy đâu đó những tin tức về mấy vụ nổ quặng mỏ hay tai nạn giao thông ở Trung Quốc có nhiều người chết, tôi bỗng nghe ngậm ngùi bằng một kiểu rất riêng, có lẽ chẳng giống ai. Những người vừa chết đó thường là dân nghèo, những người cả đời cũng không đủ sức đi hết những miền đất tuyệt vời của quê hương mình. Hôm nay họ đi rồi, vẫn chưa kịp biết được quê hương mình kỳ vĩ, cẩm tú đến mức nào. Nghĩ chừng đó thôi, tôi cứ nghe ngậm ngùi nao nao.

Tôi lại có lúc ngậm ngùi khó tả khi nhìn thấy ở đâu đó những ông cụ bà lão lọm khọm trên đường, hay ngồi đờ đẫn trước một hiên nhà nào đó với ánh mắt vô hồn đang dõi nhìn tận đâu. Họ bây giờ đã mất gần hết cái mà người ta gọi là trí nhớ. Họ hồn nhiên như trẻ con, thơ ngây tin cậy và hờn giận ngây ngô. Họ không còn nhớ gì những cuộc hẹn dưới khóm trúc bờ ao đêm trăng năm nào, họ quên mất những ngày mưa ngồi bó gối trông ra bờ đất đầu làng mong ngóng một người quen. Quên hết, quên sạch. Tôi bồi hồi tưởng tượng nếu mấy chục năm trước biết được hôm nay hai đứa đều sẽ như vậy, chẳng biết đôi tình nhân ngày ấy đã nghĩ gì. Vậy rồi tôi cũng buồn nhè nhẹ…

Tôi lại có lúc ngậm ngùi khi nhìn thấy một người nghe đâu đang bị phản bội mà không hay biết, vẫn cứ một dạ sắt son với người tình phụ như đứa bé con tin mẹ. Dẫu đó là chuyện của thiên hạ, tôi cứ ngai ngái một nỗi lo vô duyên. Trời ơi, nếu một ngày chuyện vỡ lỡ ra thì sao chứ. Thương người này, nhưng tôi không biết phải trách người kia ra làm sao. Ai có yêu thì biết mà. Nếu con người ta làm gì cũng bằng sự khôn ngoan hữu lý thì trên đời làm sao có chuyện yêu đương chứ. Trong A-tỳ-đàm cũng nói, ngay trong cái thương hay thích bao giờ cũng có cái ngu đi kèm như trầu với vôi. Vậy rồi tôi chỉ còn biết ngậm ngùi ngó theo một cuộc tình đã không còn gì trước khi bị mất.

Có lẽ tôi nghèo, nên cứ bâng khuâng mỗi khi nghe thấy đâu đó những trò chơi vung tiền của mấy người dư dả, giữa khi trong khắp thiên hạ có những sức sống tuyệt đẹp, lại đang thoi thóp chỉ vì không có nổi một khả năng cơm áo tối thiểu để có thể sống cho ra phận người. Hồi còn bên nhà, nhất là những khi ngồi trên đò xe, tôi không bao giờ quên nổi ánh mắt thèm thuồng của những đứa bé nhà nghèo nhìn mấy đứa khác cùng trang lứa đang gặm một miếng bánh hay que kem, mà nó biết là mẹ mình không mua nổi cho con. Ông Bill Gates từng nói là cuộc đời vốn không bao giờ có chuyện công bằng, hãy ghi nhớ điều đó để không so đo buồn tủi. Tôi tin Phật nên không đồng ý câu nói đó trăm phần trăm, nghĩa là tôi không nghĩ rằng cuộc đời bất công, nhưng mục đích của câu nói đó thì tôi chịu lắm. Bởi cứ đòi hỏi công bằng thì không ai sống nổi đâu. Buồn chết!

Một thiền sư Nhật Bản trên đường hoằng pháp qua các châu lục đã ghé ngang Hoa Kỳ, và khi được các phóng viên hỏi ngài có ấn tượng nào sâu sắc nhất khi tận mắt nhìn thấy đủ thứ ở các nước mà ngài dừng chân. Sau một giây ngẫm nghĩ, vị thiền sư đăm chiêu: “Ở đâu thì cũng chỉ có vậy thôi, điều làm tôi ngạc nhiên là ai cũng biết sống chết là chuyện bất trắc nhưng cứ thích nghĩ chuyện lâu bền chắc chắn”. Với tôi hình như đó cũng là chuyện để ngậm ngùi. Nhiều lúc cầm mấy món đồ nhỏ xíu như cái đồng hồ, bút máy, hay chỉ một chiếc kim băng mà cứ bâng khuâng vớ vẩn. Nếu không bị ai đó cố tình phá hủy thì chắc chắn mấy món đồ cỏn con này sẽ tồn tại trên đời này lâu hơn cả tôi. 

Nhất khoảnh điền thiên niên vạn chủ. Có dịp ghé thăm mấy tiệm bán đồ xưa (antique) thì nỗi ngậm ngùi đó càng sâu. Nhiều món ở đó dễ chừng đã trăm năm, biết đã qua tay mấy đời chủ nhân, bây giờ được bày bán ở đó để chờ đợi một người chủ mới. Những gì bây giờ tôi thương thích nhất, mai mốt không biết về tay ai. Mai mốt ở đây có thể là vài ngày nữa, vài tháng nữa, vài năm nữa hay vài chục năm nữa. Nói tới đây tôi lại muốn lạc đề một chút về cái gọi là những giá trị trong cõi phù vân này. Nhiều khi một món đồ có chứa một giá trị kỷ niệm ghê gớm đối với người này, nhưng với người khác thì chuyện đó chẳng có nghĩa lý gì hết. Mọi giá trị của một món đồ hình như chỉ là chuyện ước lệ, chỉ được áp đặt gán ép một cách tương đối. Thế là những gì tôi nâng niu hôm nay, biết đâu mai kia chỉ là một thứ phế thải trong mắt người khác. Như tôi yêu em, xem em là một nửa đời mình, và suốt kiếp chỉ có thể là gã Tiêu Lang đứng mồ côi cuối đường nhìn theo dáng em mà hoài vọng. Vậy mà em lại thuộc về một người khác, nhưng chẳng là gì trong mắt người ta, bị lãng quên lăn lóc mà vẫn một đời chờ đợi một phút đoái hoài. Còn tấm tình tôi thì em không thèm ngó tới một lần. Đời sống luôn đầy ắp những bi kịch kiểu vậy. Nghĩ đến đó ai lại không ngậm ngùi chứ!

Đã bảo những khổ đau bi hận của cuộc trầm luân là nhiều như cát trong sa mạc, nếu đem chất lại thành đống cũng đủ để làm nên một ngọn tình sầu chứ chẳng chơi. Chẳng qua vì ham chơi, vì tất bật hay lại vì trót sống thơ ngây nên người đời không nhìn thấy ra cái nỗi trầm oan đó. Từ mọi lãnh vực chính trị, tôn giáo, văn hóa, xã hội, rồi thì cả khoa học, ngó kỹ đâu cũng cơ man là những chuyện buồn. Chợt nhớ một câu ngắn trong hồi ký của nhà thơ Tản Đà mươi năm trước: Cái tội lớn nhất trong đời chính là lợi dụng niềm tin của người khác vào mục đích tư lợi của mình. Ngẫm kỹ, câu nói đó sâu sắc kinh khủng.

Về chính trị, bao kẻ biết chủ nghĩa mình đang theo là tầm bậy, sai lầm, nhưng vì quyền lợi bản thân mà tìm mọi cách nhồi sọ những người thơ ngây, suốt bao thế hệ, để thiên hạ đời đời làm trâu ngựa cho mình. Và kẻ bị lợi dụng lại cứ tưởng mình là con cưng, là kẻ được ban ân sủng nên chung thân cúc cung tận tụy chẳng dám hồ nghi, rồi thì chính mình đánh mất kiếp đời tự do theo một kiểu tôi đòi tự nguyện mà không hay. Đó cũng là cái để người biết chuyện phải ngậm ngùi.

Về tôn giáo, bao người vì mong được mấy chữ tôn sư, giáo chủ gì đó mà không ngần ngại dẫn đưa thiên hạ vào mê lộ. Thiên hạ mỗi người đều có những thao thức, trăn trở nhức nhối nên ai hiểu được nhu cầu tinh thần đó thì tha hồ bày vẽ, thế là chỉ cần đầu hôm sớm mai là đã thành chỗ dựa cho một góc nhân gian. Hành tinh này từ mấy ngàn năm qua đã oằn mình mà chứa bao thứ giáo điều rác rưởi kiểu đó. Cái đau đớn là danh lợi của kẻ giáo chủ kia nhiều lắm cũng chỉ một đời, mà cái di hại cho hậu nhân thì muôn kiếp còn hoài như một vết thương ngày càng lở lói. Lúc bình tâm ngẫm ra chuyện đó, ai lại chẳng một phen ngậm ngùi.

Về khoa học, ai cũng tưởng đó là lãnh vực sạch sẽ khả tín nhất trên đời, nhưng có mấy người ngờ được rằng cái gọi là khoa học đó cũng vẫn là sân chơi của biết bao thứ quyền lực ám muội. Tôi học dốt, chỉ biết rằng có vô số những đầu óc kiệt xuất – thay vì chuyên tâm phát minh những gì cần thiết cho hạnh phúc chúng sinh, thì lại chỉ cúi đầu nhận lấy những cái đơn đặt hàng có nội dung chết người. Họ là những người giữ độc quyền lên tiếng về cái gọi là những kết quả khoa học, nay nói cái này có lợi, mai nói món kia có hại. Rồi thì một ngày vỡ lẽ ra, đó là ý muốn của mấy tay tài phiệt!

Biết được chút chuyện đời, mỗi lần xem đài, đọc báo thấy người ta quảng cáo một sản phẩm nào đó hấp dẫn, hay khi bị bệnh phải uống một viên thuốc tây, hoặc lúc rỗi rảnh ngồi đọc đâu đó dăm bài viết của thiên hạ, tôi cứ ngậm ngùi: Chẳng biết cái nào trong mấy thứ này là thật sự vô hại!

Từ đó, nếu mai này có người cắc cớ hỏi tôi làm sao có thể giải thích ngắn gọn về cái gọi là Khổ Đế trong đạo Phật nguyên thủy, có lẽ tôi còn có thêm một cách nói rất thời thượng rằng: “Cuộc trầm luân có ra sao thì cũng chỉ là một ngọn tình sầu!”

TOẠI KHANH
Huyền Không Sơn Thượng
Sưu tầm: Hanh Nghiêm