Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Màu Sắc Hội Họa Qua Góc Nhìn Phật Giáo

Kính thưa quý thầy, quý sư cô và các cô chú trang Hoa Thức!

Con pháp danh là Tịnh Liên, bạn của chị Bạch Thủy và Thủy Văng. Thông qua hai chị mà con biết đến blog Hoa Thức như một cái nôi ươm mầm tuệ giác. Con hay vào đọc các bài viết trên blog Hoa Thức và cảm thấy rất là nuôi dưỡng. 
Nay con cũng xin phép tham gia cho vui nhà vui cửa bằng bài viết sau ạ dù khả năng của con còn hạn chế nhiều lắm hihi!
Kính mong nhận được sự đóng góp của mọi người ạ!




SẮC MÀU VÀ MỘT THOÁNG PHẬT GIÁO
Sáng nay là một sáng cuối năm rất an lành, ngọn gió mùa xuân đang khẽ khẽ thổi qua khung cửa sổ. Tôi mở mắt thức dậy với một tinh thần sảng khoái và một nụ cười ấm áp nhất dành cho mình để khởi đầu một ngày bình yên. Tuy vậy, tôi vẫn chưa ra khỏi giường mà cuộn tròn trong chăn ấm, nằm đó và tầm phóng mắt nhìn ra bầu trời màu xanh lam trong vắt, có điểm chút mây trắng đang trôi lững lờ. Đâu đó, một vài chú chim non nho nhỏ đang chim chíp kêu trên cành, như muốn mời gọi nhau một tiếng nói yêu thương. Dưới con phố kia thì chợ sáng đang nhóm họp, rộn ràng kẻ nói người đi. Khung cảnh đó không quá tĩnh lặng nhưng nó rất bình yên, bình yên như một niềm an ủi ban sơ và dịu ngọt vậy tựa hồ như trong những huyên náo ấy lại ẩn chứa một nguồn sống thanh bình.Tôi thấy lòng mình lâng lâng quá nên nhắm mắt rồi lại mở mắt ra nhìn thêm một lần nữa để ý thức là mình vẫn còn sống đây, ngay trong giây phút hiện tại này. Kìa, những sắc màu trong trẻo, những âm thanh tươi tắn của cuộc sống đang hiện bày trước mắt, đó là một phép lạ nhiệm màu!
Lặng im chiêm ngưỡng cảnh sắc ấy, lặng im chiêm ngưỡng thế giới nội tâm thanh bình của mình, bỗng dưng câu nói nhà Bụt " Sắc tức thị không, không tức thị sắc" chợt vang lên trong đầu, có lẽ Bụt muốn gửi gắm cho tôi một thông điệp huyền diệu nào đó chăng?

SẮC TỨC THỊ KHÔNG:
(Tất nhiên chữ " Sắc" trong giáo lý nhà Bụt không đơn thuần mang nghĩa là màu sắc, nhưng trong phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này tôi muốn mang đến cho quý vị một chút tiếng nói của hội họa, và thông qua đó dùng những hiểu biết hạn hẹp của mình minh họa phần nào cho giáo lý cao thâm của nhà Bụt mà thôi.)
Đầu tiên, phải nhắc đến ánh sáng. Bởi không có ánh sáng thì hẳn nhiên cũng không có bóng tối, không có màu sắc, không có chiều sâu, không có sự nổi bật của khối lồi lõm cũng không có một thế giới thần tiên mang đầy những màu sắc rung động lòng người và lôi
cuốn hàng triệu triệu trái tim của nhân loại.
Ánh sáng làm đẹp cuộc đời như vậy đó, vì " khi mặt trời đi qua con ngươi ướt át, nó tạo nên sự cảm nhận muôn ngàn màu sắc". 
Vậy, một câu hỏi được đặt ra là: liệu màu sắc có phải là một thực tại khách quan và nó tồn tại độc lập hay không? Câu trả lời là không!
Nhà bác học Newton đã nói : " Sự khác biệt của những màu sắc tùy thuộc vào cái đã tạo ra những loại tia sáng ấy". Về mặt quang học, màu sắc chính là hiệu quả hiển thị của các loại ánh sáng có bước sóng dài - ngắn khác nhau. Nếu ánh sáng ấy thiên về bước sóng nào thì nó sẽ biểu hiện sắc màu của bước sóng ấy. Màu của ánh sáng có thể tách ra thành 7 màu quang học: tím, chàm, lam, lục, vàng, cam , đỏ. Bảy màu quang học này khi hòa trộn lại cũng cho ra màu trắng. Điều đó phần nào phản ánh được giáo lý " Cái một ở trong tất cả, cái tất cả ở trong cái một" của Hoa Nghiêm.
Mặc khác, màu sắc của vật thể mà chúng ta nhìn thấy cũng là sự tổng hòa của các màu sắc: màu của ánh sáng, màu tự thân của vật thể, mà của môi trường và bầu khí quyển xung quanh đang bao bọc lấy vật thể ấy. Như vậy là, màu sắc mà chúng ta đang nhìn ngắm có yếu tố Vô Ngã, bởi nó được tạo nên từ rất nhiều yếu tố khác chứ không phải là một sáng tạo phẩm riêng biệt của thượng đế. Các vật thể chỉ hấp thu và phản chiếu ánh sáng rồi phô bày nó dưới muôn hồng nghìn tía cho thế gian cảm nhận mà thôi.
Do vậy, ta có thể nói: màu sắc chính là con đẻ của ánh sáng và nó là một minh chứng hùng hồn cho giáo lý vô ngã của nhà Bụt " Sắc tức thị không, không tức thị sắc". Bởi, không có một màu sắc nào tự thân nó có thể tồn tại độc lập mà không có sự xuất hiện của ánh sáng. Bản tính của vạn hữu trống rỗng như hư không, do tương quan mà trở thành hiện hữu. Khi chọn màu sắc làm đề tài thiền quán, nhìn sâu vào một đóa hoa lung linh sắc màu hay bỏ chút thời gian nghiền ngẫm về màu lam của đại dương xanh thẳm ta sẽ thấy được mặt trời ở trong đóa hoa ấy, thậm chí là một cụm mây bay hay một giọt mưa sa cũng đều có mặt trong màu lam của đại dương ấy. Cảnh giới này trong kinh Hoa Nghiêm cũng thường nhắc đến, đó là sự phản chiếu trong nhau trùng trùng vô tận, vừa đồng thời lại vừa sai biệt, mỗi tự thể vừa như một toàn thể vừa vô tận lại vừa vô hạn. 
Trước một thế giới vô hạn và vô tận ấy, người ta cảm thấy khỏi cần vượt qua ngoài vị trí cá biệt của mình mà vẫn có thể thực hiện vô biên tác dụng. Kinh nói: "Tất cả các Pháp môn như một biển cả vô tận đều tụ hội ở một pháp trong đạo tràng". Đó là về phương tiện vô biên của Bụt. Tất cả những điều Bụt nói phát ra từ Hải ấn Tam muội. Cũng như tất cả mặt trời, mặt trăng, tinh tú.... Đều in bóng trong lòng biển – hải ấn, vừa như là một – vì có vị trí cố định và vừa như là tất cả – vì khắp mọi nơi trong lòng biển. Cũng vậy, từ Hải ấn Tam muội, thân của Bụt như một biển cả, trong mỗi lỗ chân lông xuất hiện vô biên thế giới là vậy.

SỰ TƯƠNG PHẢN THẦM LẶNG HAY SỰ TỒN TẠI SONG SONG CỦA CÁC CẶP ĐỐI LẬP:


Trong hội họa tồn tại khái niệm gọi là " Màu Tương Phản Liên Tục". Đây là trạng thái ảo giác xuất hiện trên võng mạc của thị giác sau khi nhìn chăm chú vào một trong các màu chính. Ví dụ như khi ta nhìn màu vàng tươi chừng 10 phút thì sẽ thấy dư ảnh màu tím bao quanh màu vàng ấy, lặp lại thí nghiệm trên với màu đỏ tươi ta sẽ thấy dư ảnh màu xanh lục nhạt, màu lam tươi sẽ có dư ảnh màu cam nhạt...
Ứng dụng hiện tượng này, các họa sĩ thường chọn các cặp màu tương phản này để có một hòa sắc đẹp: Màu vàng chanh tương phản với màu tím thì có nghĩa là màu vàng sẽ nổi bật khi được đứng gần màu tím, màu lam tương phản với màu cam thì nghĩa là màu lam sẽ nổi bật khi đứng gần màu cam và ngược lại...
Quan sát hiệu ứng đó, mở rộng hơn ra với những cặp mệnh đề tưởng chừng như mâu thuẫn khác như: ngày và đêm, ánh sáng và bóng tối, bên trái và bên phải, bên trên và bên dưới, đúng và sai...ta sẽ nhận ra sự mâu thuẫn ấy chính là căn nguyên của sự sống, là bản chất không thể tách rời nhau của vạn hữu. Nó cần cho sự vận động, biến hóa và sinh sôi của mọi loài: Vì ngắn cho nên mới có dài, vì có cho nên mới có không, vì sinh cho nên mới có diệt, vì nhơ cho nên mới có sạch, nhờ sáng cho nên mới có tối. 
Liên hệ đến Kim Sư Tử Chương của thầy Pháp Tạng " Vị chánh kiến sư tử sinh thời, đản thị kim sinh, kim ngoại cánh vô nhất vật. Sư tử tuy sinh hữu diệt, kim thể vốn vô tăng giảm, cố viết vô sinh...", sư ông Nhất Hạnh có nói: "Sinh là từ không mà trở thành có. Đám mây có bao giờ sinh ra đâu? Trước khi là đám mây thì nó đã là hơi nước rồi. Hơi nước đổi ra thành đám mây, tướng này đổi sang tướng khác. Thấy được tướng vô sinh của đám mây không khó. Chúng ta biết là hơi nước thành ra đám mây, đám mây không phải từ không mà trở thành có. Đứng về lý luận thôi thì cũng đủ chứng minh được vô sinh rồi. Đã là vô sinh cũng là bất diệt..."
Tương tự như vậy, ta không thế tách ngày ra khỏi đêm, lấy bên trái ra khỏi bên phải, lấy màu tím ra khỏi màu vàng, lấy màu lục nhạt ra khỏi màu đỏ tươi... Sự mâu thuẫn, tương phản đó suy cho cùng chỉ là những ảo giác sai lầm, những ý niệm nhị nguyên sai lầm mà hành giả của đạo Bụt cần phải gỡ bỏ dần trên bước đường thực tập. 

MÀU XÁM - HAY CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO:
Nếu bạn cho rằng màu xám chỉ được tạo bằng cách pha trộn giữa hai màu đen và trắng thì tôi xin chúc mừng là bạn đã sai lầm. Màu xám có thể được tạo ra bởi những gam màu hoàn toàn tương phản nhau như: Đỏ - lục ( vàng + xanh lam), Lam - Cam ( Vàng + Đỏ), Vàng - Tím ( Đỏ + Xanh lam)...Những màu xám được tạo ra bằng cách hòa trộn những cặp màu tương phản này gọi là màu xám đẹp và dễ phối màu hơn màu xám được tạo ra từ đen - trắng. Nó có đặc tính là có khi hơi ửng ấm hoặc hơi lạnh.
Trong các hòa sắc lạnh thì nó ửng nóng làm cho màu trầm lại, trong các hòa sắc nóng thì nó lại hơi lạnh . Trong trường hợp các hòa sắc nóng và lạnh đang tương phản mãnh liệt thì chúng ta có thể dùng màu trắng hoặc xám để làm dịu sự tương phản đó, các màu sẽ trầm lại, tạo cảm giác chắc chắn và tươi hơn.
Trong hội họa màu xám có vai trò nhất định như vậy, cũng giống như nghệ thuật căng dây đàn mà Bụt đã giảng cho đại đức Sona. 
" Đó là lần đầu Bụt gặp thầy Sona. Đêm qua nghe tiếng tụng kinh của thầy. Bụt biết là Sona đã cố gắng quá sức mình trong nỗ lực tu học. Người bảo Ananda cùng đi với người tới tịnh thất của thầy Sona. Thấy Bụt, Sona đứng dậy chào mừng. Bụt bảo Ananda và Sona ngồi xuống cạnh Bụt, rồi người hỏi Sona: 
- Ngày trước, hồi chưa xuất gia, thầy là nhạc sĩ chuyên về đàn mười sáu dây, phải không? 
- Bạch Thế Tôn, phải. 
- Khi đánh đàn, nếu dây đàn chùng thì sao? 
- Bạch Thế Tôn, nếu dây đàn chùng thì tiếng đàn chưa đúng mức. 
- Còn nếu dây quá căng. 
-Bạch Thế Tôn, nếu dây đàn quá căng thì tiếng đàn biến thể và dây đàn có thể đứt. 
- Còn nếu dây đàn được lên vừa phải? 
- Bạch Thế Tôn, nếu dây đàn được lên vừa phải thì bản nhạc sẽ hay. 
- Đúng như vậy đó, Sona! Giải đãi và lười biếng thì đạo nghiệp không thành, mà cố gắng quá sức mình thì sẽ đưa tới sự mệt mỏi và thối chí. Sona! Thầy phải biết lượng sức mình, đừng ép uổng thân và tâm quá mức, như vậy thầy mới mong thành tựu được đạo nghiệp. "
Một bản nhạc và một con người, tuy thấy 2 nhưng chỉ là 1. Thiền chính là giây phút tuyệt đối để thưởng thức âm nhạc, trong âm nhạc luôn luôn có thiền. Người nhạc sỹ phải biết " nghệ thuật lên dây đàn " cũng như thiền gỉa phải nghe được tận cùng âm thanh của mỗi nốt nhạc của tự thân.

CÒN CÁC HỌA SỸ THÌ SAO?


Nỗi buồn, niềm vui, yêu thương, đau đớn, giận dữ... tất cả đều là những mảng màu khác nhau để vẽ lên bức tranh cuộc sống. .Chúng đến như những dòng nước lũ ngập tràn trong một cuộc sống đầy biến động, không báo trước, không mong đợi.
Cuộc sống là một bức tranh với muôn vàn sắc màu, cung bậc vui buồn. Những bức tranh được treo cất giữ là cả một thế giới phong phú và thi vị. 
Thiên nhiên thật sự là tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ nhất qua những mảng màu sáng tối. Nó là món quà của tạo hóa dành cho những người biết hòa mình một cách vô tư nhất vào cuộc sống mà không phán xét hay đòi hỏi sự đền đáp. Nhưng bạn có biết: Việc vẽ một bức tranh đẹp có hòa sắc ít lại cực kỳ khó so với một bức tranh có quá nhiều hòa sắc? Khi bắt đầu phác cọ, chắc hẳn bạn đã thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên cũng như vẻ đẹp của tác phẩm nghệ thuật do bạn tạo nên. Nhưng còn có những cảnh sắc của nội tâm, nó chỉ được thanh luyện và trở nên đẹp đẽ hơn bạn cầm lấy cây cọ vẽ " Chánh Niệm", thắp sáng chân thiện mỹ nơi chính tâm hồn mình. 

THIỀN TRANH:
Dòng tranh cổ điển này có gốc gác gắn liền với Phật giáo, Những hoạ sĩ đầu tiên của dòng tranh này có lẽ được bắt nguồn từ những nhà sư. Vì lẽ đó, tranh không chỉ đơn thuần là một môn nghệ thuật mà nó còn mang đậm màu sắc triết học.
Triết lý chính trong tranh thường là sự đối lập và tĩnh tại, thể hiện qua vẻ đẹp giản đơn nhưng duyên dáng, nhìn vào đó người ta có thể cảm nhận được sự đối lập Âm-Dương, sự dung hoà giữa ánh sáng và bóng tối, động và tĩnh,... Lúc đậm lúc nhạt, lúc nhanh lúc chậm, từng nét bút lướt qua trang giấy ẩn chứa trong nó sức sống của thiên nhiên. Người hoạ sĩ không chỉ quan sát bên ngoài mà phải đi sâu vào nắm bắt thần thái của đối tượng, phải làm sao để đưa vào tranh cả linh hồn của sự vật đó. Trong từng đường nét là sự cân bằng, sự đồng điệu của tâm hồn người cầm bút với cảnh sắc được miêu tả trong tranh.
Cầu vồng có cả thảy là bảy màu, bài hát cũng bảy nốt, thế giới ta bà này cũng gói gọn trong bảy đại: đất, nước, gió, lửa, không, phong, thời. Điều quan trọng nhất khi vẽ bức tranh hay ca lên một bài ca của chính mình, chúng ta nên có một sự thực tập để không ngắm cuộc đời theo 1 chiều tươi sáng hoặc ảm đạm. Thiền Sư Nhất Hạnh có nói: Hãy sử dụng năng lượng của chánh niệm để nhận diện và ôm ấp niềm đau nỗi khổ trong ta, như một bà mẹ ôm ấp đứa con mình. Chánh niệm là mẹ, đau khổ, buồn phiền, tuyệt vọng là con. Giữa mẹ và con không có tranh chấp. Năng lượng của chánh niệm sẽ nhận diện, ôm ấp và thoa dịu niềm đau, tức khắc ta cảm thấy tâm mình lắng yên, êm dịu lại vì năng lượng của chánh niệm đã hòa nhập vào năng lượng của khổ đau.
Nếu cứ để mặc, không chăm sóc nỗi sợ hãi, hờn giận, và tuyệt vọng thì những cảm xúc tiêu cực đó sẽ biến thành sức mạnh tàn phá. Thay vì sử dụng năng lượng để đè nén khổ đau, ta hãy sử dụng năng lượng chánh niệm đó để bảo toàn cơ thể, thiết lập cho mình một vương quốc tươi đẹp, an hòa.
Càng có đông bạn hữu thực tập chung, năng lượng càng thêm mạnh. Năng lượng chánh niệm tập thể giúp cho sự thực tập ôm ấp niềm đau nỗi khổ dễ dàng hơn nhiều. Cho nên trong một cộng đồng mà mọi người cùng thực tập với nhau thì càng vui, hiệu quả lớn gấp bội, và năng lượng ngày càng thêm thâm hậu. Được năng lượng tập thể ấy bao bọc ta sẽ khỏe khoắn thêm ra, được nuôi dưỡng được trị liệu.
Vài dòng thô sơ, xin kính chúc Hoa Thức Tu Viện ngày càng lớn mạnh và vững chãi, là con thuyền từ bi cho mọi người nương náu ạ!

Sài Thành, ngày 13/1/2015.
-- 
Ta Du Ca




Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Chiều Lên Chùa


Sơn Tự cheo leo núi bạt ngàn ,
Mùa thu lá úa rụng cơ man .
Thông rừng lặng lẽ vùi sương trắng ,
Mái ngói xanh xao nhuộm ráng vàng .
Tiếng mõ kinh chiều lòng tỉnh thức ,
Đường mây gió sớm bước thênh thang .
Mỗi lần chùa viếng hồn bay bổng ,
Nghe tiếng chuông ngân nhớ xóm làng .
                                  Mailoc

Theo huynhhuuduc.blogspot.com
(Trích từ Xướng Hoạ :Tiếng Đêm) 

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Xướng Hoạ : Sinh Ký Tử Qui

Bài Xướng


      Sinh Ký Tử Qui

Trăm năm cũng phải tạ từ đi,
Tay trắng còn lưu luyến chuyện gì ?
Bỏ hết sau lưng không luyến tiếc,
Đâu còn trước mặt cảnh chia ly.
Gia đình hiếu quyến luôn thương tưởng,
Bằng hữu bà con chẳng thị phi !
Thoát tục lên thiên đường hưởng phúc,
May duyên một kiếp đoạn sân si !
                     Mai Xuân Thanh
***
Các Bài Thơ Hoạ

         Sinh Ký
 
Xác tục đây rồi cũng bỏ đi
Học ông Bành Tổ có hơn gì
Ồn ào chộn rộn thây thiên hạ
Ngất ngưởng tì tì kệ mấy ly
Địa ngục không cần lo viễn tẩu
Thiên đàng chả ước được cao phi
Phù du một kiếp như bèo bọt
Ham muốn chi nhiều để hận si

                          Cao Linh Tử

 ***
      Rồi Cũng Sẽ Đi

Đã biết rồi ta cũng sẽ đi
Trong tay trống rỗng chẳng còn gì
Tiền tài, danh vọng tan mây khói
Bạn hữu, gia đình khóc biệt ly
Hạnh phúc - cánh âu nghiêng ngả đáp
Thời gian - bóng ngựa vội vàng phi 
Thì  thôi, hãy cứ an tâm nhé
Thanh thản vun trồng mấy cội si.
                          Phương Hà
***
        Kiếp Tạm
Vẫn biết rồi đây cũng sẽ đi
Vậy còn lo lắng nữa làm gì
An vui suốt tháng ngày tương ngộ
Thanh thản trọn giờ khắc biệt ly
Danh lợi rồi tàn theo ảo ảnh
Đời người thoáng tựa vó câu phi
Tranh giành ganh ghét nay bừng tỉnh
Rong ruổi một đời một kiếp si
                      Quên Đi
***
Theo huynhhuuduc.blogspot.com 

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Nhạc Phật Giáo | Nhạc Thiền giúp THƯ GIÃN TĨNH TÂM #5

Cổ Thi : Mẫn Nông Kỳ 2


                 Có một điều hết sức thú vị, có thể bài thơ Mẫn nông kỳ 2 được dịch ra theo thể thơ lục bát, phải nói là tuyệt diệu, đã thâm nhập sâu vào giới bình dân Việt Nam, để rồi trở thành bài ca dao và được dùng làm câu hát ru con. 
                Phải hay không? không quan trọng, cái quan trọng nhất là trong kho tàng ca dao của ta có được một bài thơ Lục Bát tuyệt tác.

憫農 其二           
Mẫn nông kỳ 2
            李紳            
         Lý Thân
鋤禾日當午,  Sừ hoà nhật đương ngọ    
汗滴禾下土。  Hãn trích hoà hạ thổ
誰知盤中飧,  
Thuỳ tri bàn trung xan
粒粒皆辛苦。  
Lạp lạp giai tân khổ.

Dịch nghĩa :Xót cho người làm ruộng kỳ 2 

Cày cuốc ngay giữa buổi trưa
Mồ hôi tuôn đổ thấm vào trong đất
Trong bữa cơm có ai hiểu cho rằng
Bao nhiêu hạt cơm là bấy nhiêu khổ cực

       Cày đồng đang buổi ban trưa
  Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
           Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.

                                          Ca dao
***

Dịch Thơ:
                 1
Cày bừa giữa trưa nắng
Đất thấm bao mồ hôi
Mấy ai hiểu được rằng
Nhọc nhằn tạo hạt cơm


                        2
       Giữa trưa cày cuốc ngoài đồng
Mồ hôi tuôn chảy thấm trong ruộng cằn
         Ngon cơm xin nhớ cho rằng
Được bao hạt thóc nhọc nhằn bấy nhiêu.

                                              Quên Đi


Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2015

Thông tin cập nhật về tình trạng sức khoẻ và sự thực tập cầu nguyện cho Sư Ông Làng Mai


Làng Mai, ngày 3 tháng 1 năm 2015

Kính gửi:
 
- Các trung tâm tu học thuộc Đạo Tràng Mai Thôn trên thế giới
- Các tăng thân tu học theo pháp môn Làng Mai trên thế giới
- Toàn thể nam nữ cư sĩ phật tử và thân hữu của Đạo Tràng Mai Thôn trên thế giới
 
Kính thưa quý vị,
 
Nhân dịp Năm Mới 2015, tăng thân Làng Mai xin kính chúc quý vị thân hữu cùng gia đình một năm mới tràn đầy sức khỏe, bình an và hạnh phúc. Chúng con vô cùng biết ơn quý vị trong thời gian qua đã gửi năng lượng từ bi và trị liệu đến Sư Ông chúng con.
 
Trong ba tuần qua, Sư Ông đã dần chuyển sang giai đoạn hồi tỉnh. Sư Ông thường xuyên mở mắt trong ngày. Các bác sĩ nói rằng Sư Ông hiện không còn ở trong trạng thái hôn mê như trước.
 
Trong tình trạng hiện nay, Sư Ông đã có thể nhận biết được gương mặt của những người thân quen và có khả năng đáp ứng lại những kích thích bằng lời nói. Một vài ngày gần đây, Sư Ông đã bắt đầu cười được, điều này làm cho mọi người vô cùng hạnh phúc. Có lần, một thị giả kể cho Sư Ông nghe những kỷ niệm thú vị khi được đi tổ chức khóa tu cùng với Sư Ông, trong đó có một câu chuyện rất vui. Và thật là bất ngờ, Sư Ông đã bật cười khi nghe câu chuyện đó.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, Sư Ông vẫn chưa phục hồi được khả năng nói. Đây là dấu hiệu của hội chứng bất lực ngôn ngữ (aphasia) hiện đang được các bác sĩ tiếp tục theo dõi và có thể có những chuyển biến tích cực với sự trợ giúp của phương pháp vật lý trị liệu.
 
Nhờ vào sự chăm sóc tận tình của đội ngũ y bác sĩ mà tình trạng của Sư Ông đã trở nên ổn định. Sư Ông đã cảm thấy thoải mái, dễ chịu hơn trong thời gian điều trị và hiện đang hết lòng tập luyện theo phương pháp vật lý trị liệu. Mỗi ngày Sư Ông đều có những tiến triển tích cực. Các thị giả được học hỏi rất nhiều khi chứng kiến Sư Ông tự tập luyện nhiều lần trong ngày với một ý chí vô cùng mạnh mẽ.
 
Các bác sĩ đang có kế hoạch chuyển Sư Ông đến một bệnh viện chuyên về phục hồi chức năng cho các bệnh nhân bị đột quỵ trong những ngày tới, để Sư Ông có được những điều kiện chăm sóc và điều trị tốt nhất, giúp phục hồi lại chức năng vận động và ngôn ngữ.
 
Chúng con kính mong quý vị thân hữu tiếp tục chế tác năng lượng chánh niệm, bình an và vững chãi để gửi đến Sư Ông, giúp cho Sư Ông sớm được phục hồi.
 
Chúng con sẽ tiếp tục cập nhật về tình trạng sức khỏe của Sư Ông đến quý vị trên trang nhà Làng Mai tiếng Việt (langmai.org), trang nhà Làng Mai tiếng Anh (plumvillage.org) và trang nhà Làng Mai tiếng Pháp (villagedespruniers.net).


Đạo Tràng Mai Thôn

http://langmai.org/cong-tam-quan/thong-bach/thong-tin-suc-khoe-su-ong-lang-mai/thong-tin-cap-nhat-ngay-3-1-2015


Phong Kiều Dạ Bạc


Từ Phong Kiều Dạ Bạc (PKDB) đến Thuyền Đêm Bến Lạ (TĐBL), có phải hồi chuông thỉnh nửa khuya đêm nào, từ chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô, cho mãi đến tận bây giờ, ở đây ,vẫn còn nghe được tiếng ngân vang? Có phải tuổi già lẩm cẩm cho rằng trong Thơ , không có thời gian , không có không gian ngăn cách,và có lẽ chính vì thế nên ai đó đã tìm vào Thơ , mượn ý mượn lời người xưa, để nói lên lời Yêu Thương ,mặc dù cũng đã một đời luân lạc , lắm gian truân , nhiều khổ nạn? PKDB của Trương Kế đời Đường đã được nhiều người xưng tụng là một trong những bài thơ Tứ Tuyệt 4 câu 7 chữ hay nhất. Vẫn tiếc 2 bản chuyển dịch TĐBL kèm theo đã không làm tròn được nhiệm vụ như ý muốn. Cầu chúc an vui. PKT 04/20/2014

   楓橋夜泊
                張繼
月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。

Phong Kiều Dạ Bạc
           Trương Kế (- 756 -)

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Dịch Xuôi : Đêm Neo Thuyền Ở Phong Kiều
PKT 04/20/2014

Một giấc ngủ buồn trước cảnh trăng lặn, quạ kêu, trời đầy sương, hàng phong ven sông, và đèn chài bến vắng .
Từ chùa Hàn San ở ngoài thành Cô Tô, tiếng chuông ngân vang đến tận thuyền khách vào lúc nửa đêm.

Chú Thích :

(1) Phong Kiều là tên một câu cầu ở thành phố Tô Châu thuộc tỉnh Giang Tô , trên một con sông chảy ra Trường Giang
(2) Thành Cô Tô nay là thành phố Tô Châu
(3) Chùa Hàn San ở phía tây Phong Kiều

Thuyền Đêm Bến Lạ
PKT 04/20/2014
Trăng lặn , quạ kêu , trời ngập sương,
Bến phong trở giấc những tơ vương.
Đèn chài hiu hắt trên sông lạnh,
Thuyền khách, chuông khuya, vỗ mộng thường.

Thuyền Đêm Bến Lạ

PKT 04/20/2014
Quạ kêu , trăng lặn , sương mờ,

Hàng phong, trở giấc, bên bờ sông xưa.
Đèn chài , bến vắng , đong đưa ,
Nửa đêm, thuyền khách, chuông chùa mù khơi.

***

Thưa Thầy,
Không biết đây là lần thứ mấy Quên Đi lại dịch bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc". 
Có lẽ chưa hiểu được ý của Tiền Nhân, cộng với từ ngữ chưa đủ để diễn đạt sự tương đồng trong cái tương phản, giữa cái hữu hình trong cái vô hình, cái hữu thanh trong cái vô thanh, giữa sự tĩnh lặng trong sự phồn hoa, giữa cái tỉnh trong cái mê. 
Biết rằng chưa đủ khả năng, nhưng vẫn cố gắng. 
Xin gởi đến Thầy và Anh Chị một số bài mà Quên Đi đã dịch "Phong Kiều Dạ Bạc".

Dịch Thơ :
Đêm Neo Thuyền Ở Bến Phong Kiều
1

Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt buông
Đèn câu le lói bến phong buồn
Hàn San chùa cổ canh khuya vắng
Quá nửa đêm về vọng tiếng chuông


2
Sương phủ trăng mờ quạ khóc than
Đèn chài phong bến giấc sầu lan
Tô Châu thành ngoại Hàn San Tự
Chuông vẳng giữa đêm mộng khách tàn


3 
           Sương mờ trăng lặn quạ hờn
 Cầu phong giấc ngủ chập chờn sầu vương
          Hàn San yên vắng phật đường
Nửa đêm chuông đổ Hoàng Lương mộng tàn

4
Trăng tàn quạ nhác sương
Phong bến giấc sầu vương
Đêm vắng Hàn San Tự
Chuông ngân khách có tường


5
        Sương giăng tiếng quạ trăng tàn
   Cầu phong chài lửa man man giấc trần
           Hàn San Tự đêm khuya dần
Nam Kha đang mộng chuông ngân vọng về

                                          Quên Đi 

***
Bản Dịch của Đỗ Chiêu Đức:

Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !

Theo huynhhuuduc.blogspot.com