Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Tuyển Tập Thư Thầy 18 - 19




[Thư số18]


Ngày ..... tháng ..... năm .....

Tâm Ðạt con,

Hôm nay Thầy góp ý về pháp danh Tâm Ðạt của con. Ðúng ra Thầy không nên nói vì pháp danh đó do một vị Thầy khác đặt, tất nhiên vị ấy có chủ ý riêng làm sao Thầy biết được. Nhưng thôi, theo lời yêu cầu của con, Thầy cứ giảng theo ý Thầy vậy, con có đồng ý không?

Theo Thầy, đạt là đắc, là được, là tới mục đích rốt ráo. Nhưng ở đâu là nơi rốt ráo của tâm?

Một khi quá khứ tâm không thể đạt, tương lai tâm không thể đạt, hiện tại tâm không thể đạt, vậy tâm đạt chỗ nào?

Và khi mà: "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" nghĩa là nên sinh cái tâm không trụ vào đâu cả. Vậy tâm trụ chỗ nào?

Ngài Huệ Khả đến viếng Tổ Ðạt-Ma hỏi: "Xin Hòa Thượng an cái tâm cho tôi". Tổ Ðạt-Ma nói: "Ông đưa cái tâm đây ta an cho". Huệ Khả tìm tâm hồi lâu bèn thưa: "Bạch Hòa Thượng, tôi không thấy tâm đâu cả". Tổ nói: "Ta đã an cái tâm cho ông rồi đó". Sau này Ngài Huệ Khả được Tổ truyền y bát.

Qua câu chuyện trên con thấy Tổ Ðạt-Ma đã an cái tâm cho Huệ Khả ra sao? Thôi, bao nhiêu câu hỏi đó cũng đủ cho con thấy tâm bất khả đạt! Tâm không thể đạt được vì đạt chỗ nào thì chỗ ấy trở thành trụ tướng (tướng ngưng trệ) và tất nhiên đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Thế thì con phải làm sao?

Thực ra chỉ đơn giản là nếu con muốn tâm đạt thì phải đạt chỗ không đạt mới được. Người tu phần đông nghĩ rằng tâm phải đạt đến chỗ tịnh, phải an trụ vào chỗ tịnh. Theo Thầy thì không phải đạt, không phải trụ mà là thấy, thấy tịnh và động để không bị rơi vào chỗ nào. Ðể khi đáng tịnh thì tịnh, khi đáng động thì động.

Ngày nọ có người hỏi Ðức Phật: "Có phải mục đích tu hành là để đạt được giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, đoạn nghi tịnh, đạo phi đạo tri kiến tịnh, đạo tri tịnh, tri kiến tịnh không?". Ðức Phật trả lời: "Không". Người kia ngạc nhiên: "Nếu mục đích tu hành không phải thanh tịnh thì để làm gì?". Phật dạy: "Thanh tịnh là trạm xe, mục đích tối hậu là vô thủ trước Niết-bàn".

Vô thủ trước, vô sở trụ, bất khả đắc là những từ để chỉ tâm phải đạt tới chỗ không đạt, nghĩa là tâm đã buông hết mọi chỗ nắm bắt, mọi sinh y, mọi dục hỷ... chính vì vậy mà tâm lúc ấy được gọi là không, vô tướng, vô tác... Niết-bàn.

Khi tôn giả Mahàkotthita hỏi Ngài Sàriputta có phải mục đích sống phạm hạnh là để đạt được cảm thọ hay không cảm thọ như đã hy vọng không, Ngài Sàriputta trả lời: "Không". Và Ngài nói tiếp: "Với mục đích để biết, để thấy, để chứng, để ngộ, để hiện quán đây là khổ... Ðây là nguyên nhân của sự khổ... đây là khổ diệt... đây là con đường diệt khổ mà phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn".

Ðoạn trên Ngài Xá-Lợi-Phất một lần nữa xác nhận mục đích của Ðạo Phật không phải đạt được một trạng thái tâm nào, mà chỉ để thấy, để biết, để chứng, để ngộ, để hiện quán những sự thật ở đời. Mà chứng, ngộ, hiện quán... tức là vô thụ trước, vô sở trụ, bất khả đắc.

Nói thì nghe rắc rối nhưng thật rất giản dị, con có thể thực hiện một cách dễ dàng:

Khi tâm con có tham, hãy biết (thấy, chứng, ngộ, hiện quán) tâm có tham, không dừng lại (đạt, trụ, thủ trước) nơi tham.

Khi tâm con không có tham, hãy biết tâm không có tham, không dừng lại nơi không tham.

Khi tâm con có sân, không sân, có động, có tịnh, có ràng buộc, có giải thoát, v.v... con đều biết thật có như vậy và không dính mắc, không trụ trước vào tâm ấy.

Như vậy là không đạt hay đạt chỗ không đạt, nghĩa là không dính mắc vào đâu, là tâm thong dong tự tại.

Thấy, biết tâm mình ở mọi nơi là hiện quán, là chứng ngộ. Tâm mình không dính mắc vào nơi nào là an nhiên giải thoát.

Nhưng con đừng tưởng không dính mắc nơi nào là tâm không không đâu nhá, không không là dính mắc vào không rồi. Dính mắc vào không còn nguy hại hơn dính mắc vào có ở trạng thái này hoặc trạng thái kia tùy nhân duyên sinh khởi "tùy cảm nhi ứng tùy ngộ nhi an" mà, nhưng chính nhờ không dính mắc vào đâu mới có vô lượng tướng dụng, vô lượng lợi ích cho mình và người.

Nói thì nghe như lý luận chơi nhưng ai có thực sống mới thấy thật là dễ dàng, đơn giản và thiết thực vô cùng.

Tâm Ðạt con, bây giờ tâm con phải đạt thế nào?

Thầy.



[Thư số19]


Ngày ..... tháng ..... năm .....

Con,

Thư của con bị mưa ướt lem nhem hết, nhưng Thầy vẫn đọc ra, đọc còn dễ hơn mấy thư trước của con nữa đó, con biết tại sao không? Tại vì một lý do rất dễ hiểu là lần này có lẽ vì gấp nên con viết tự nhiên không nắn nót như trước. Ðó, con thấy không, tự nhiên lúc nào cũng vẫn hay hơn phải không con?

Thầy rất thông cảm với cuộc chạy đua của con, và Thầy biết rằng chẳng bao lâu con sẽ trở nên một tay chạy đua bản lãnh. Bản lãnh không phải vì chạy mau hơn ai mà bản lãnh trong trí tuệ biết thế nào là một cuộc chạy đua: "chạy đua là như thế!", "thành, bại, hơn, thua của một cuộc chạy đua là như thế!"... với một nụ cười mãi mãi trong tâm.

Hãy đam mê cuộc đời đến tận căn để, hãy khinh bỉ cuộc đời đến tận mây xanh. Ðam mê và khinh bỉ phải cùng hiện hữu một lúc ở bất cứ đâu, không phải để chúng mâu thuẫn nhau, cũng không phải để chúng cân bằng với nhau, mà để chúng đem đến cho ta một nụ cười vô ngại!

Con ạ,

Cho Thầy gửi lời thăm những cơn mưa buốt giá mùa đông bên đường qua An Cựu hay phố vắng Ðông Ba... Nơi mà ngày xưa Thầy đã gửi lại những ngày tháng vui buồn của thời thơ ấu.

Tất cả đều trôi qua dù là một cuộc vui hay một nỗi khổ, dù là một đêm Ðông hay một ngày hạ... Nhưng Thầy cũng cám ơn tất cả. Vì tất cả đã dạy cho Thầy có một nụ cười. Hãy sống, không cần xót xa, không cần tiếc nuối, không cần hy vọng, với đôi bàn tay và trái tim mở rộng để đón nhận những ngày mới đến với ta và phất tay chào những ngày đã lùi vào dĩ vãng.

Sống cũng như việc làm của cái bao tử, thu nhận những món ăn nào đắng, cay, ngọt, mặn... biến chế, rồi cuối cùng bài tiết hết, nếu không bài tiết được bằng cách này hay cách khác để ứ đọng thì sinh bệnh. Chúng ta sống tiếp nhận một ngày với những vui, buồn, mừng, giận... Nhưng chỉ còn lại trong trí tuệ một nụ cười thôi, còn tất cả đều phải bài tiết vào dĩ vãng, nếu còn vướng mắc cái gì thì chắc là phải khổ. Như bao tử cho ta sự sống, cuộc đời cho ta nụ cười trí tuệ, cho nên chỉ có trí tuệ mới thực là sự sống của con người: "Duy tuệ thị nghiệp".

Trí tuệ chính là tự tánh của con khi con có thể mỉm cười hồn nhiên với tất cả.

Con, Thầy định kể chuyện Sài Gòn cho con nghe, nhưng vì Sài Gòn cũng chẳng có gì để nói. Có lẽ nó cũng như Huế, nhưng thay vì ngoài đó lạnh, trong này nóng, ngoài đó yên lặng, trong này ồn ào, ngoài đó có sông Hương, trong này có bến Bạch đằng, nhưng không nơi đâu hấp dẫn bằng chính sự sống mà con đang chứng nghiệm, phải không con?

Thân ái chào con.

Thầy

Trích trong Tuyển Tập Thư Thầy
Thiền Sư Viên Minh
Sưu tầm: Hanh nghiêm

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Tánh Nghe




NGHE TRONG TĨNH LẶNG

Này bạn, có bao giờ bạn ngồi thật yên lặng, không chú ý bất cứ điều gì, không cố gắng tập trung tư tưởng mà ngồi với một trí não hết sức tĩnh lặng, thật sự tịch tịnh?
Bấy giờ bạn mới nghe tất cả phải không? Bạn nghe những âm thanh từ xa, rồi gần và thật gần ngay bên cạnh bạn- có nghĩa là bạn nghe tất cả.
Trí não không bị hạn chế phải nghe duy nhất một kênh nông cạn hẹp hòi nào. Nếu bạn có thể nghe như thế, nghe trong tĩnh lặng, trong tự do giải thoát, không bị căng thẳng, bạn mới thấy nội tâm thay đổi một cách kỳ diệu- một đổi thay ngoài sự mong muốn, ngoài yêu cầu của bạn và trong cuộc đổi thay đó là cái đẹp vô cùng và tuệ giác sâu thẳm

NGHE KHÔNG QUA MẠNG CHE

Bạn nghe cách nào đây? Phải chăng bạn nghe thông qua chính những dự phóng tham lam, dục vọng, sợ hãi, âu lo của mình, phải chăng bạn chỉ nghe điều bạn muốn nghe, điều làm bạn hài lòng, thỏa dạ, thấy dễ chịu, tạm thời xoa dịu khổ đau?
Nếu bạn chỉ nghe theo dục vọng của mình, rõ ràng bạn chỉ nghe theo tiếng nói của bạn, bạn chỉ nghe theo tiếng nói dục vọng của mình.
Có cách nghe nào khác chăng? Việc khám phá làm thế nào để nghe không chỉ những việc được trình bày ở đây mà là nghe tất cả – cái ồn ào của phố thị, tiếng chim hót, tiếng tàu điện, tiếng lao xao không dứt của biển cả, tiếng nói của vợ hay chồng bạn, tiếng khóc của trẻ thơ – việc đó không quan trọng sao?
Cái nghe chỉ hệ trọng khi ta không nghe qua chính những dục vọng của mình. Có thể dẹp bỏ mọi mạng che trong cái nghe để thật sự nghe không?

NGHE CÁI VƯỢT NGOÀI VÒNG NGÔN TỪ

Nghe là một nghệ thuật không dễ gì đạt được nhưng trong cái nghe có cái đẹp và trí tuệ tối thượng. Ta nghe ở nhiều độ sâu của con người ta, nhưng thường ta luôn luôn nghe với một ý niệm có sẵn hoặc nghe từ một quan điểm đặc biệt.
Ta không chịu nghe một cách đơn giản mà luôn luôn có sự can thiệp của một mạng che làm bằng tư tưởng, kết luận, định kiến… của chính mình.
Muốn nghe nội tâm, tất phải tĩnh lặng, thoát khỏi mọi trạng thái căng kéo vì muốn thu đạt, phải chú tâm trong thư giản. Chỉ có tâm thái vừa tĩnh lặng vừa cảnh giác mới có thể nghe cái vượt ngoài vòng ngôn từ.
Từ ngữ chỉ gây nhiễu thôi, từ ngữ chỉ là những phương tiện truyền đạt bên ngoài, nhưng để truyền đạt cái ngoài vòng ngôn từ thì trong cái nghe phải có tĩnh giác.
Người biết yêu thương mới biết nghe, nhưng tìm thấy người biết nghe là vô cùng hiếm hoi. Phần đông chúng ta chỉ biết theo đuổi kết quả, thực hiện mục tiêu, luôn mong muồn chiến thắng và chinh phục cho nên không lắng nghe, chỉ trong lắng nghe, ta mới nghe tiếng ca của TỪ.

NGHE KHÔNG TƯ TƯỞNG

Tôi không biết có khi nào bạn nghe tiếng chim hót không? Để nghe điều gì đòi hỏi trí não phải tĩnh lặng – không phải một sự tĩnh lặng huyền bí nào mà chỉ tĩnh lặng thế thôi.
Tôi nói với bạn một điều gì đó và để nghe tôi, bạn phải tĩnh lặng, đừng để trí não bị nhiễu loạn bởi đủ thứ ý tưởng.
Khi bạn nhìn một đóa hoa, hãy cứ nhìn, đừng gọi tên, đừng phân loại, đừng bảo nó thuộc loài nào, giống nào – làm thế là bạn không còn nhìn hoa nữa.
Vì vậy, tôi mới nói, nghe là vụ việc khó khăn bậc nhất, nghe người cộng sản, đảng viên xã hội, vị dân biểu, nhà tư bản, bất kỳ người nào, vợ bạn, con bạn, người hàng xóm, người lái xe buýt, tiếng chim – chỉ nghe một cách đơn giản thôi – chỉ khi bạn nghe mà không kèm theo ý tưởng, tư tưởng, niệm tưởng, bạn mới tiếp cận trực tiếp và có tiếp cận bạn mới hiểu điều người ấy nói là thực hay giả, đúng hay sai, bạn không cần phải thảo luận.

NGHE MANG LẠI TỰ DO

Khi bạn làm một cố gắng để nghe, liệu bạn có nghe không? Phải chăng chính cố gắng đó gây nhiễu, ngăn chặn cái nghe?
Bạn có cố gắng khi nghe điều khiến bạn vui thích không?…Bạn không tri giác cái thật, cũng như bạn không thấy cái giả, cái ảo, bao lâu trí não còn bị bấn loạn bởi cố gắng, bởi so sánh, biện minh, hay lên án…
Tự thân cái nghe là một hành động hoàn chỉnh, tự thân cái nghe là tự do giải thoát. Bạn có thực sự quan tâm đến cái nghe hay đang lo làm thay đổi sự nhiễu loạn nội tâm? Nếu bạn chịu lắng nghe – nghĩa là bạn tri giác những xung đột và mâu thuẫn của nội tâm mình mà không thúc ép chúng rập theo bất kỳ khuôn mẫu tư tưởng nào, có lẽ bấy giờ, chúng mới hoàn toàn chấm dứt.
Bạn thấy chứ, ta luôn cố sức để được là thế này, thế khác, để thành tựu một tâm thái độc đáo, đạt kinh nghiệm này và chối bỏ kinh nghiệm khác, vì thế trí não bận rộn triền miên, không bao giờ được yên để lắng nghe chính những đấu tranh và khổ đau náo loạn của mình. Hãy đơn giản thôi…, đừng cố sức trở thành cái gì cả hay nắm bắt bất cứ kinh nghiệm nào.

NGHE MÀ KHÔNG CỐ GẮNG

Bây giờ bạn đang nghe tôi, bạn đang chú tâm mà không phải cố gắng chi cả và nếu quả là có sự thật trong những điều bạn đang nghe, bạn sẽ thấy trong bạn có một đổi thay đáng kể diễn ra – một đổi thay không dự đoán được hay mong muốn được, một cuộc chuyển hóa, một cuộc cách mạng trọn vẹn trong đó chỉ duy có sự thật là độc tôn chứ không phải là những tạo tác của trí não bạn, và nếu tôi có thể đề nghị bạn: bạn hãy nghe tất cả bằng cung cách ấy, nghe không chỉ điều tôi nói mà cả của những người khác nữa, nghe tiếng chim hót, tiếng còi tàu hỏa rúc hú, tiếng xe buýt ào ào chạy qua.
Bạn sẽ thấy càng lắng nghe tất cả thì sự tĩnh lặng càng mênh mông và không bao giờ bị phá vỡ bởi tiếng động. Chỉ khi nào bạn tỏ ý kháng cự, chỉ khi nào bạn dựng rào cản ngăn chặn những điều bạn không muốn nghe – chừng đó mới có đấu, tranh xung đột.

SỐNG THIỀN 365 NGÀY
KRISHNAMURTI
Bản Dịch: Đào Hữu Nghĩa
NXB – THỜI ĐẠI
Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Truyện Cổ Phật Giáo: 1. Chân Lý - 2. Sau Bửa Đại Yến - 3. Dưới Bóng Từ Bi




1. - CHÂN LÝ

Ngày xưa có một chàng trai trẻ mang nhiều tâm sự u uất về cuộc đời, một sớm lên đường đi tìm sự thật.
Anh nghe nói ở một ngôi đền nọ có một vị Đạo Sĩ chân tu, luyện được nhiều phép mầu nhiệm, thông đạt được nhiều lẽ tinh vi, huyền diệu của vũ trụ, bèn quyết tìm đến học.
Đường đi muôn nỗi khó khăn, nhưng chí người sắt đá nên không kể hiểm nghèo. Từ chân trời, một hôm đền thiên đã lồ lộ hiện ra, uy nghi, rạng rỡ. Lòng người trai bừng rộn lên nỗi hân hoan. Anh tìm đến biệt phòng của Đạo Sĩ, qùy dưới chân người:
- Thưa Thầy! kẻ hèn này vốn từng ngưỡng mộ uy danh của Thầy, tin tưởng ở phép mầu nhiệm ở đạo, nên từ xa xôi muôn dậm đến đây để cầu mong Thầy chỉ cho con đường đi tìm chân lý.
Đại Sĩ bảo rằng:
- Cửa đền không hẹp với một ai, lòng đền cũng chứa rộng mọi người. Con đường chân lý phát xuất từ đền thiêng ấy là vì sự thật phải bắt đầu tìm thấy bằng sự “yên tĩnh của tâm hồn, bằng lòng tin cẩn tin yêu của trí tuệ”. Từ đây đến chót đền, con đường chia làm ba bậc: bậc
thứ nhất của sự khổ hạnh, bậc thứ nhì của lòng vô tư, bậc thứ ba của tình nhân ái. Ba bậc ấy dạy rằng: không dày công chịu khổ nhọc để biết rõ cuộc đời, không dứt bỏ được ý riêng tư khách quan nhìn xét sự vật, không thiết tha vì lòng thương mà đòi hỏi sự thực, thì không bao giờ tìm thấy sự thực. Sự thực hay chân lý là của mọi người, nhưng phải tìm đến bằng con đường ba bậc ấy.
Người trai trẻ cảm thấy vui mừng khôn xiết, vội hỏi:
- Thưa Thầy, vậy chân lý hiện ở trên chót đền?
Đạo Sĩ ôn tồn bảo:
- Chính thế. Ta biết chắc rằng ở cuối cùng ba bậc, trên chót vót của đền Thiêng là tượng Thần Chân Lý. Tượng ấy hình dáng thế nào ta cũng chưa biết được, vì ta chỉ mới đi khỏi con đường khổ hạnh xong và đang vào bậc vô tư. Khó nhất là bậc thứ hai này vì gạt bỏ được những tư ý là điều hết sức nhọc nhằn đối với mọi người chúng ta. Còn qua một đoạn đường cuối cùng, đoạn đường nhân ái, là ta sẽ thấy muôn vẻ huy hoàng của Chân Lý, nhưng con đường nhân ái khá gần mà cũng khá xa, bởi vì con người thường lầm lạc tình yêu, lòng yêu mình với lòng yêu kẻ khác, nên chỉ có ba mươi bước nữa mà ta còn lầm lẫn.
Đạo Sĩ lại tiếp:
- Hiện nay trong đền có vô số người tìm học. Có kẻ xong bậc thứ nhất, có kẻ đang bước lên bậc thứ nhì, có kẻ đang loay hoay khởi sự từ đầu và biết bao kẻ đã thối chí trở về từ chối tìm hiểu sự thật, vì lòng họ không đủ tha thiết để chịu đựng bao nhiêu thử thách. Cửa đền vẫn luôn luôn mở rộng hãy tìm lối mà đi.
Từ đấy người trai trẻ bắt đầu học tập. Anh bước lên con đường khổ hạnh để cảm thông nỗi khổ của người đời. Từ đấy đối với anh, cảnh sắc chung quanh đã có phần thay đổi. Tiếng khóc lời reo, nước mắt và nụ cười cũng đượm vẻ khác lạ hơn xưa.
Anh không tiếp xúc sự vật bằng sự hời hợt của não tủy. Anh thấy được bề rộng, bề sâu và bề cao của mỗi âm thanh, mỗi ngày tưởng như gần gũi thêm được với loài người.
Nhưng mỗi sớm nhìn lên đỉnh đền chót vót, anh cảm thấy đường đi quá sức xa vời. Lòng anh không định nên con đường ba bậc kia tuy ngắn mà quá dài vô tận. Anh ngắm những bức tường ngăn cách, những bậc cấp cheo leo và muốn rút ngắn đoạn đường. Một hôm anh bỗng nảy ra một ý kiến. Nhân một đêm trăng lặng anh dùng dây leo tường. Vốn từ nhỏ đã quen luyện tập, nên anh không mất bao nhiêu công phu để vượt khỏi những bức tường dày lởm chởm cheo leo.
Càng lên cao nhìn xuống trở lại, anh thấy mình đã làm được một kỳ công. Khi lên đến chót vót đền thì trăng đã về khuya, rọi bóng anh trên vách đá như một người to lớn dị thường, anh tự thấy mình xa cách hẳn loài người và cao hơn mọi vật. Anh tự nhủ:
- Đi tìm thực sự không phải có một con đường ba bậc. Với óc thông minh, với lòng dũng cảm, với trí quyết đoán, ta vẫn tìm được chân lý mau chóng hơn mọi người. Rồi anh bước vào đền, nơi đặt tượng thần chân lý. Anh đi giữa đêm khuya, trên chốn thượng tầng im lặng, dọc theo các dãy hành lang hun hút gió lạnh, chỉ thấy bóng mình lủi thủi bên cạnh và chỉ nghe chân mình dội vang trên sân đền gây nên những âm hưởng dị kỳ. Anh đi lần vào trong, cảm thấy trong mỗi bước đi sự tịch mịch càng nặng nề. Khi mảnh trăng khuya đã khuất hẳn ngoài đền, anh thấy rúng động, nhưng lòng kiêu hãnh về cái kỳ công của mình lại khiến anh dẹp hết lo âu. Anh tự nhủ:
- Bây giờ chỉ còn mình ta với sự thực. Tượng thần Chân Lý ở sau cánh cửa kia. Anh lại gần thu hết can đảm để xô cửa…!
Bỗng anh rú lên ôm lấy mặt và như một người bị xác chết dậy đuổi, anh hoảng hốt chạy ra khỏi đền, luống cuống húc đầu vào các cột đá, vấp trên bục cửa, ngã trên nền gạch nhưng sự kinh hoàng quá độ khiến anh tìm cách thoát thân.
Anh bám vào tường, tìm giây leo, vội vàng tuột xuống dưới chân đền. Sáng hôm sau người ta tìm thấy xác anh đã cứng lạnh dưới chân đền, nét mặt vẫn còn co túm lại trong một vẻ hãi hùng tột độ. Vị đạo sĩ trầm ngâm đứng nhìn xác anh, rồi quay bảo học trò:
- Đây là một kẻ không muốn tìm sự thực bằng chính đạo. Y đã đi theo con đường tà đạo, vì y cho rằng con đường ấy mau chóng hơn và chỉ có tài năng của y mới giúp y tới mau được. Y quên rằng cái tâm của người là chính yếu trong sự tìm kiếm chân lý. Khi cái tâm đã chính thì tài năng sẽ là những chiến công, những thành tích rỡ ràng. Khi cái tâm đã tà thì tài năng chỉ là những thủ đoạn, những mưu mô hèn hạ. Kết quả mà y tìm thấy là một sự thực gớm ghiếc, đã làm y khủng khiếp phải hủy diệt đời mình.
Các con hãy ghi nhớ: sự thực tốt đẹp, sự thực an ủi và nâng cao được lòng người chỉ có thể đi đến con đường ba bậc: Con đường khổ hạnh, con đường vô tư, và con đường nhân ái. Kẻ nào không đi bằng ngã ấy mà muốn dùng mưu mô thủ đoạn, đàn áp lừa phỉnh thì không
phải chỉ một cá nhân mà cho đến một chế độ cũng phải bị hủy diệt thảm khốc. Đạo sĩ ngừng lại một lát rồi nói tiếp:
- Từ lâu ta đã nhắc các con điều đó, bây giờ đây là chứng cớ hiển nhiên. Các con hãy đem chôn xác y trước cửa đền và đồng thời tạc trên mộ bia y nét mặt kinh hoàng, khủng khiếp của một kẻ đã tìm gặp sự thực bằng con đường phản chánh đạo, để làm gương cho bao nhiêu kẻ khác.
***
2. SAU BỮA ĐẠI YẾN

Xưa kia có năm vị Quốc Vương. Việc bang giao qua lại rất là thân mật chẳng hề gây hấn với nhau. Dân chúng nơi nơi làm ăn thịnh vượng. Vị Quốc Vưong đàn anh tên là Phổ An. Việc trị nước của Vua Phổ An rất là minh chánh mà bốn vị kia lại theo tà đạo.
Có một hôm, năm vị mở một yến hội bảy ngày ca hát đàn nhạc, đủ thứ vui thú dục lạc. Khi mãn hội các vua sắp sửa lên long xa ai về nước nấy.
Bấy giờ vua Phổ An đích thân tiễn chân bốn vị kia ra trước hoàng môn và hỏi rằng:
• Các bạn ưa thích những lạc thú gì, nói cho ta nghe thử?
Các vua tuần tự trình bày:
Vua thứ nhất đáp:
• Tôi thích mùa xuân ba tháng cảnh vật nên thơ cỏ hoa tươi thắm để dạo chơi thưởng thức, thích thú biết bao.
Vua thứ hai:
• Tôi thích được làm vua lâu dài mỗi khi lâm triều mặc triều phục uy nghiêm sang trọng ngự giữa điện rồng, lầu các ngập tràn ngọc ngà châu báu, bá quan thần dân hầu hạ hai bên, tiếng chuông trống long phụng vang rền, cờ xí đôi hàng rực rỡ.
Vua thứ ba:
• Tôi lại thích vợ đẹp như tiên, con xinh như ngọc, cùng nhau tận hưởng cảnh vui thú sang giàu.
Ông vua thứ tư đáp:
• Tôi muốn cha mẹ tôi được trường thọ bách niên, vợ con sum họp, anh em đông đảo, mặc những quần áo đẹp, ăn những món ngon, và cùng nhau chung hưởng vui đời hạnh phúc.
Đoạn bốn ông vua đồng thanh hỏi lại:
• Chúng tôi đã trình bày xong thì đại vương cũng nên tỏ sở thích của mình cho anh em chúng tôi nghe với chứ?
• Những sở thích mà các bạn vừa trình bày đều không phải là thú vui vĩnh cửu. Riêng tôi, tôi chỉ thích cái vui: chẳng sinh, chẳng tử, chẳng khổ não, chẳng lạnh, chẳng nóng.
Bốn ông kia lấy làm quái lạ đồng thanh khen và hỏi dồn:
• Hay quá! Vậy chớ ai dạy những điều ấy cho Đại Vương và vị ấy hiện ở đâu?
Vua Phổ An nói:
• Đức Thế Tôn, hiện giờ Ngài đương ngự tại Tịnh xá Kỳ Viên.
Bốn vua nói:
• Vậy chúng tôi có thể yết kiến Ngài được không?
• Được chớ, quý lắm đấy.
Thế rồi năm nhà vua đồng đi đến Tịnh xá Kỳ Viên để ra mắt Phật.
Khi năm nhà vua hành lễ và thưa thỉnh xong, đều lui về chỗ ngồi.
Đức Phật mới bắt đầu thuyết:
• Nầy các Đại Vương hãy lắng tai nghe: Vì người đời ngu ám không chính trí nên nhiều kẻ say mê vui đời mà chẳng hề biết tội phước là gì cả, cho nên bị khổ. Nhưng khổ của đời quá nhiều, mà gọn lại chỉ còn tám thứ:
Sinh, già, đau, chết, tình yêu ly biệt, cầu mong chẳng được, gặp kẻ oán giết, và rầu lo khổ não.

1/ “Những khổ về sinh”: người chết rồi thần thức chẳng biết đi về hướng nào. Sống cái thân trung ấm với thời gian hai mươi mốt ngày, gặp khi cha mẹ giao hợp liền thọ vào thai, bảy ngày ban đầu hình trạng như chất mỡ lỏng, bảy ngày thứ hai như mỡ đông đặc, bảy ngày thứ ba như mỡ đông cứng, bảy ngày thứ tư như lát thịt mỏng. Đến bảy ngày thứ năm mới bắt đầu thành bào thai, nhờ gió vào bụng mẹ mà thổi nơi thân thể, thời sáu căn mới mở khai. Nếu mẹ ăn phải đồ ăn nóng, thì bào thai như bị nằm trong chảo nước sôi, hoặc uống phải một chén nước lạnh thì như nằm trong băng tuyết và lấn ép thân thể của mẹ, mẹ rất đau khổ. Đầy đủ tháng ngày, đứa con mới quay đầu xuống nơi sản môn của mẹ, như hai viên đá ép, mạng mẹ nguy hiểm, lòng cha lo sợ và thân con cũng cực khổ muôn phần. Ra khỏi cửa lòng mẹ, da thân mỏng manh rủi phải lá cỏ đụng vào cũng đau như bị dao cắt, hoảng hốt thất thanh khóc lớn.

2/ “Những khổ về già”: Chịu nhờ ơn nuôi nấng của cha mẹ, lớn to mạnh mẽ, nhưng lần lựa đã già đầu bạc răng rụng, mắt mờ, tai điếc, và sức mạnh lui dần nhường cho sự suy yếu thay thế. Da đùn, mặt nhăn, trăm đốt xương đau nhức, bước đi cực khổ, ngồi đứng không yên lòng dạ lo buồn, và tinh thần dần dần tiêu giảm.

3/ “Những khổ về đau”: thân người do bốn đại: đất, nước, gió và lửa hiệp lại mà thành. Nếu một món chẳng điều hòa thời phát sinh trăm lẽ bệnh, mà bốn đại không đều hòa thì thân thể nặng nề; thủy đại chẳng điều hòa thân thể phù thủng, hỏa đại chẳng điều hòa thân thể nóng nảy, phong đại chẳng điều hòa thân thể động chuyển. Cảm giác trăm đốt đau khổ; nên tay chân cử động chẳng theo ý muốn, khí lực mòn dần ngồi và đứng dậy phải nhờ người phò trợ. Miệng khô, lưỡi thụt, mũi nghẹt, mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe, những đồ nhơ nhớp tuôn trào, rồi ngồi nằm trên ấy: tâm thần khổ não, giọng nói bi ai, buồn thảm. Bà con đến thăm nuôi, ngày đêm chăm sóc chẳng chút nghỉ ngơi, món ngon vật quý ngọt thơm, khi đưa vào miệng biến thành vị đắng.

4/ “Những khổ về chết”: thân người đến lúc sắp chết thì một trăm lẽ một bệnh nhất tề phát khởi, bốn đại phân tán thần thức chẳng an, gió thổi tới như dao cắt, đau nhức toàn thân, toát mồ hôi trắng, hai tay buông xuôi; Phong đại tản đi là hết hơi thở; Hỏa đại đi theo là tấm
thân lạnh ngắt như đồng...

5/ “Những khổ về tình yêu ly biệt”: trong ngoài gia đình cha mẹ anh em, vợ chồng con cháu giòng họ yêu mến lẫn nhau, một khi bị phá hoại lưu vong, mỗi người mỗi ngã, cha đông con tây, vợ nam chồng bắc, chia ly buồn khổ.

6/ “Những khổ về mong cầu chẳng được”: của mất cầu được lại, cầu quan, cầu giàu, khi khổ cực cầu đủ cách, nhưng cầu mãi nào dễ được đâu?

7/ “Những khổ về gặp kẻ oán ghét”: con người trong cảnh ái dục một việc nhỏ cũng vẫn tranh giành rồi do đó mà giết hại lẫn nhau gây thành oán lớn, tuy cố tình lánh mặt nhưng không nơi tránh thoát, chỉ còn nước mạnh ai nấy mài dao chuốt tên hại lẫn nhau, rốt cuộc đôi bên đều bị tổn hại.

8/ “ Những khổ về lo rầu khổ não”: người đời có sống lâu lắm cũng chừng trăm năm, trong đó hết năm mươi năm thuộc về ban đêm, năm năm say rượu hoặc bệnh tật là những năm bất tri nhân sự, mười lăm năm thơ ấu chẳng biết việc gì. Và qua tám mươi tuổi thời già nua hết trí tuệ, tai điếc mắt mù. Và giảm kiếp hai mươi năm nữa, cho nên chỉ còn mười năm mà thôi. Trong khoảng mười năm ấy, chỉ có lo rầu chiếm hết phần nhiều, lo rầu thời cuộc biến loạn, thiên thời nắng hạn, bão lụt mùa màng hư mất, bà con nội ngoại đau ốm, nghèo khổ. Lại còn lo sợ của cải mất mát, người nhà bị quan quân bắt bớ, vào tù ra tội, anh em bà con đi xa...
Như vậy người sống ở trên trần gian này, hầu hết thì giờ bỏ vào việc lo buồn mà phải bị hao tổn tâm thần rồi già chết.
Năm vị vua nghe xong đều thấm thía lời dạy của Đức Phật và tự nhiên thấy mình đầy rẫy tội lỗi (nhất là bốn vị vua theo tà đạo) đã được chân lý soi sáng và giác ngộ từ đây. Bá tánh từ đó mà an cư lạc nghiệp, biên cương yên tĩnh, quốc gia mỗi ngày thêm mạnh, hưng cường hơn trước.
***

3. DƯỚI BÓNG TỪ BI

Ngôi sao mai vừa lên chót đọt cao xa, thì đạo quân tiểu trừ của Đô Đốc họ Đào cũng vừa đến đầu cánh đồng Phượng Vĩ đang chìm đắm trong giấc ngủ mê say, lệnh bao vây đã truyền đi tức khắc.
Người ngựa câm lặng tràn đi dưới một bầu trời sao trong sáng... Đó là đạo binh của triều đình khét tiếng bạo tàn trên khắp núi rừng, thôn xóm của suốt bảy tỉnh miền Nam Trung, bạo tàn với tất cả những kẻ đã chống lại triều đình, chống lại nhà nước Bảo Hộ, tất cả dù là trong hàng vương tôn qúy tộc, hay ngoài tiện dân lê thứ là võ sinh, nho sĩ hay nông phu.
Bao nhiêu tiếng cười ngạo mạn đã tắt đi theo đầu rơi long lốc! Bao nhiêu cái thân trẻ ngang tàng ngã gục xuống dưới vó ngựa thanh trừng! Bao nhiêu mái tranh nghèo vô tội đã bốc lửa giữa đêm khuya.
Không ai đếm được bao nhiêu cảnh chết chóc đó trong bao nhiêu năm nay!
Cũng không ai đếm được thanh Ngân tuyền kiếm của Đô đốc họ Đào đã bao nhiêu lần đỏ máu của anh hùng trong thiên hạ!
Người ta bảo rằng viên tướng trẻ ấy chưa hề biết rung động trước một đôi mắt sầu ngập lệ , trước một tiếng thất thanh não nùng của người sắp chết hay trước một tiếng ré thét kinh hoàng của một đôi môi hồng mọng sữa. Hình ảnh ấy chỉ làm cho Đào bật tiếng cười hả hê, như mỗi lúc được nghe âm thanh ghê rợn của tiếng thép phập vào thân người.
Nhưng người ta cho biết rằng, Đào không bao giờ hả hê cả: hay là như chính Đào đã nghiến răng mà nguyền, là Đào chưa bao giờ hả hê được! Bởi vì Đào còn một mối phụ cừu chưa rửa xong!
Ngày nào thanh Ngân tuyền được vấy máu kẻ đại cừu, họa mới có thể là ngày Đào mới coi lại bàn tay tanh máu của mình...
Nhưng mà chao ôi! Nào có biết được ngày đó là ngày nào. Giữa thời ly loạn, ai kia như hạc nội mây ngàn, có dễ gì để cho Đào thanh toán được. Một thâm thù chẳng đội chung trời?
Cho nên, hận thù xưa, Đào vẫn trút lên đầu dân lành mấy cõi... Và đêm nay, vó ngựa tiểu trừ của Đào lại hướng về Phượng Vĩ thôn vô tội... Phượng Vĩ vẫn êm đềm say ngủ dưới trời sao, không hay biết vòng hung thần đang vây xiết chặt quanh mình.
Tiếng gà xao xác gáy, lẻ loi, rải rác...rồi lan đều khắp trong lòng thôn xóm... Vài tiếng trẻ khóc tu oa... Một giọng hát ru rười rượi... đứt quãng. Xa hơn, hình như ngay từ hướng gió heo mây, tiếng đại hồng chung công phu đang đi dần về sáng.
Lỏng tay cương, Đào khoanh tay ngồi im trên lưng ngựa. Hơi sương làm Đào chợt thấy lạnh.
Quay sang nhìn tùy tướng Đào hỏi:
• Đã chặt chẽ cả chứ?
• Bẩm đã.
• Cẩn mật chứ?
• Bẩm vâng! Và quân binh đang chờ tướng công hạ lệnh.

TIẾNG CHUÔNG NGÂN TRONG SƯƠNG MÙ

• Chưa vội! Hãy chờ đến sáng rõ. Này có ai từng biết Phượng Vĩ thôn?
• Bẩm mùa thu năm ngoái mạt tướng có đi ngang đây.
• À, Võ Nhân!... Thế ngươi biết tiếng chuông kia chứ? Của một ngôi chùa nào gần đây chăng!
• Bẩm vâng! Đó là Bạch Liên Tự. Và tiếng chuông ấy chắc hẳn là của Hòa Thượng Khổ Hạnh đang công phu...Băng tắt cánh đồng này, có thể đến đó mà không bị người hay biết...
• Tiếng chuông hình như vang từ một cao điểm... Bạch Liên Tự nằm trên một ngọn đồi cao có lẽ...
• Bẩm đúng thế! Chùa nằm trên chót đồi Bạch Liên.
• Đồi Bạch Liên! Nghe hay nhỉ! Ngươi có biết vì sao chùa có được cái tên đó chứ?
• Bẩm vì ngay trên trung tâm đỉnh có một cái hồ sen trắng đẹp vô ngần. Có lẽ bây giờ đã nở và đồi đã thơm hương...
• Thế à! Thì ta đến đó vậy! Ngươi cho lệnh ngựa lên trước đi.
Rồi ghìm giây cương Đào nói tiếp như nói với mình:
• Ngồi bên một ấm trà bốc khói trong lúc này hẳn là ấm cúng! Lâu quá rồi ta chẳng biết đến cái hương vị một chén trà mạn sen.
Tiếng đại hồng chung công phu vẫn ngân. Chuông ngân chầm chậm...rời rạc... đều đều... cho lời kinh trầm trầm, dìu dịu... của một vị sư có lẽ đã già.
Nhảy xuống yên, ném cương cho tên quân hầu, Đào bước vào cổng tam quan. Hương sen thoang thoảng quanh người mát rượi thơm tho. Đang đi Đào bỗng dừng lại, lặng ngắm cái đẹp hiển nhiên giữa lòng hồ vòng nguyệt trải rộng trước chân đi.
Quả như lời Võ Nhân, sen đã trổ đầy rồi. Trong ánh sáng mờ đục hơi sương, những cánh sen trắng ngần rung rinh đẹp như những nụ cười thanh khiết, đẹp như những chấm trắng linh động của những cánh chim trên nền trời hoàng hôn trong sáng. Đào lẩm bẩm:
• Lạ! Đồi cao thế này, mà lại tụ thủy được?
Nghe nói Võ Nhân vội đáp:
• Bẩm không phải! Hồ chỉ trũng sâu trong lòng đá, chứ không có mạch thủy. Nước lưng đầy theo mưa sa, nhưng nghe nói không hề cạn người ta bảo thế...Không rõ đó là công trình của hóa công hay của con người. Chỉ biết là nó đã có từ ngàn xưa, bao nhiêu đời trước khi ngôi chùa này có và trước khi có một vị hòa thượng biến nó thành một hồ sen bạch cho đến mãi bây giờ.
Đào gật gù... Rồi cùng với các tùy tướng. Đào đi vòng theo hồ để đến cửa chính Đào bỗng hỏi Võ Nhân:
• Pháp danh của vị Hòa thượng này là gì nhỉ, ta quên mất.
• Bẩm người hiệu là Khổ Hạnh!
• Ra sao?
• Bẩm, người quả là một bậc chân tu! Mạt tướng đã từng nghe người thuyết pháp. Chắc chắn là tướng công sẽ được hài lòng khi gặp người.
Võ Nhân bước lên các bậc cấp đá hoa, đến gõ nhẹ vào cửa. Và cửa mở khi tiếng gõ lần thứ nhì vừa dứt.
Một khuôn mặt đẹp dịu hiền của một ni cô hiện ra giữa khung cửa với ngọn nến hồng trên tay.
Đào sáng mắt nhìn trong lúc ni cô cúi đầu thi lễ:
• Mô Phật! Xin rước quý ngài vào trong... Hòa thượng người cũng vừa xong thời kinh công phu. Rồi trang nghiêm, người đứng về một bên chừa lối, tay giơ cao ngọn nến cháy chập chờn.

HẬN XƯA BỪNG CHÁY.

Tiếng chuông không rõ đã dứt tự bao giờ. Trước Phật đài, vị sư già đang đốt thêm một tuần hương. Khói thơm quyện lấy người, mờ tỏa màu áo cà sa và màu sáng của tượng Phật bằng đồng.
Đào cảm thấy ấm áp nhẹ nhàng...Mắt Đào thong thả nhìn cái dáng lưng gầy gò của sư cụ, qua những bức tượng màu, đến những nét chữ chân chữ thảo trên mặt hoành, mặt liễn. Rồi cuối cùng lại trở về lại cái lưng áo cà sa đã loãng khói. Sư cụ vẫn giữ nguyên tay giữa ngực, và ung dung quay lại. Nét mặt khắc khổ hiền từ, với cái nhìn dìu dịu buồn, sáng rõ dưới ánh nến.
Đang vừa muốn thi lễ, Đào bỗng giựt phắt người, tay đặt ngay vào chuôi gươm. Sư cụ không thấy cái khác lạ của khách. Cái trán cao của người đã cúi xuống với tiếng chào:
• Mô Phật!...
Nhưng một tiếng quát đã bật lên, ghê rợn như tiếng sét:
• Nguyễn Quốc!
Vị sư già giật mình trông thấy đôi mắt sáng như hai tia lửa liền ngửng vội lên đăm đăm. Xung quanh, bao nhiêu ánh mắt cũng ngửng lên, lạ lùng nhìn Đào rồi nhìn sư cụ.
Đôi môi già bỗng lẩm bẩm:
• Đào Kim Vũ?!...
Nghe được, Đào bật lên một tràng cười điên dại, rồi lại tắt ngay, răng nghiến vào nhau trèo trẹo:
• Oan gia!... Oan gia!... Quả trời cao có mắt.
Thanh Ngân tuyền được rút phắt ra, mũi thép sáng ngời tiến chầm chậm đến ngực áo ca sa. Một tiếng kêu hốt hoảng bật khẽ từ bên cạnh.
Đó là tiếng của Võ Nhân. Và một tiếng rú từ trước mặt, giữa khung cửa vào hậu liêu. Đó là tiếng của Ni Cô.
Nhưng Đào không lệch mắt nhìn, mũi Ngân Tuyền vẫn không lệch đích đi... Tiếng rít Đào vẫn đanh đá, dữ tợn:
• Chính ta đây, Nguyễn Quốc!... Đào Kim Vũ này đã tìm người khắp bốn phương trời, trong suốt năm năm nay... Ta đã ngỡ... Ha... Ha! Trời đã giúp ta! Hồn thiêng của thân phụ ta đã giúp ta!... Nguyễn Quốc! Nguyễn Quốc!... Đào lại bật lên cười như điên dại.
• Mô Phật! Công tử đã không lầm, Nguyễn Quốc chính là bần đạo!
Đào dừng chân, và tắt tiếng cười, sòng sọc nhìn cái vẻ điềm nhiên trên nét mặt già khắc khổ của cừu nhân. Điềm nhiên cả giọng nói trầm buồn, như đang ngồi trước một chén trà thơm khói, nhà sư nói tiếp.
• Bao năm nay quả bần đạo không chờ có một ngày nay...
• Không chờ...! Hừ!... Để mà yên thân làm một tên ác tăng dối đời gạt chúng!...
• Đức Thích Ca Mâu Ni sẽ soi sáng cho Phật tâm của bần đạo!... Nhưng giờ đây cái ngày này đã đến, thì bần đạo vui lòng để công tử rửa mối thâm cừu...
• Vui lòng! Vui lòng!... Đừng tỏ ra cái khí phách vạn bất đắc dĩ ấy với ta! Bẩn tai ta lắm!... Này thanh gươm này của ai ngươi nhớ chứ?
Mũi Ngân tuyền ghim sát vào ngực áo gầy, hơi thép rờn rợn lạnh.
Lại một tiếng rú khẽ từ trước mặt, giữa khung cửa vào hậu liêu. Nhưng ở đây gương mặt vẫn không đổi sắc. Vẫn điềm nhiên ở giọng nói:
• Bần đạo chưa quên! Nó chính là người bạn đường oanh liệt của cánh tay này trong suốt một thời gian ngang dọc. Nhưng trong bao năm nay lại cũng chính nó đi đẫm máu dân lành... Thân này chết, nếu còn có điều gì ân hận, thì chính là điều đó...
Đào gầm lên:
• Câm đi!... Oanh liệt!... Thu tay gươm, Đào quay lại đám tùy tướng hạ lệnh:
• Bắt sạch tất cả người của thôn xóm Phượng Vĩ lên đây cho ta.
• Tuân lệnh!
Người tùy tướng vừa muốn quay ra, bỗng phải dừng lại vì tiếng kêu của Khổ Hạnh Hòa Thượng vội vàng:
• Xin đừng!... Xin công tử đừng làm thế mà kinh động dân lành tội nghiệp!... Bần đạo xin trả thân già để công tử gia hình nhưng xin đừng hành hạ người vô tội mà bần đạo không nhắm mắt được... Công tử có muốn họ chứng kiến cái chết của bần đạo cũng được, nhưng xin để cho bần đạo gọi họ... khỏi phải nhọc sức quân binh... Rồi không chờ đợi Đào bằng lòng, sư cụ quay lại gọi:
• Diệu Liên!
• Mô Phật!
• Con ngân đại hồng chung cho tất cả chúng dân biết rằng ta đang cần gọi họ về chùa...
• Mô Phật!
Diệu Liên Ni cô bủn rủn bước đi với đôi mắt ướt long lanh...
Đào và tướng tá đứng quanh không một lời nói.
Cảnh tượng ghê rợn làm sao!
Riêng Võ Nhân cúi đầu suy nghĩ...

MÓN NỢ XƯƠNG MÁU

Dưới thôn xa, gà đang rộ tan canh... Tiếng Khổ Hạnh Hòa Thượng vẫn đều đều, trầm trầm thanh thản như những khi người thuyết pháp...nhưng lại không giống như người thuyết pháp...
Hòa Thượng đã kể rằng:
• “Vào một sớm cách đây bảy năm, cùng cái tin Đức Vua Duy Tân rời Hoàng Thành đi biệt tích, là tin lãnh binh Đào Kim Văn bị giết ngay cửa thành nội...
Cái tin kia đã làm xúc động toàn cả Huế Đô bao nhiêu thì cái tin này, đã khiến phần đông người kể cả dân chúng lẫn quân binh hài lòng bấy nhiêu.
Bởi vì người ta biết mục đích sự ra đi của Đức Vua Duy Tân! Và bởi vì, Văn không được lòng dân lúc sống. Tuy nhiên, người ta đã phân vân không rõ vì sao Văn bị giết? Và ai là người giết Văn?
Nhưng rồi sau đó người ta biết: Kẻ giết Văn chính là Nguyễn Quốc, một bằng hữu thân thiết đồng cấp với Văn trong một đạo quân phòng thành! Biết chính là Quốc, bởi vì gần nơi Văn chết không xa, người ta tìm thấy thanh gươm Ngân Tuyền của Quốc rơi lại. Người ta
chỉ biết có thế, chứ cái lẽ vì sao Quốc giết bạn, thì chưa mấy ai được rõ... Cái lẽ đó như thế này...
Bình sinh chí hướng của đôi bạn một người một khác, Văn thân Pháp, Quốc chống Pháp. Nhập vào đội quân thành Quốc chỉ vì đại cuộc. Đêm đó vâng mật lệnh của chí sĩ họ Trần, Quốc sẵn sàng trông giữ cửa thành để hộ giá Đức Vua Duy Tân lìa Hoàng cung...
Đó là giờ phút quan trọng của lịch sử... Cả một khối dân tộc đang chờ giờ phút ấy... Thế mà buồn biết chừng nào! Văn đã không muốn biết đến, mà còn dụng tâm phá hoại.
Quốc gặp người nghinh giá bên cửa thành ngay lúc vô tình hay cố ý, Văn bỗng đột ngột đến, để rồi chỉ một thoáng nhìn, Văn hiểu ngay được âm mưu của Vua tôi - Quốc. Và tất nhiên, Quốc được lệnh phải bảo vệ cho kỳ được cái kín nhẹm của mưu đồ. Linh hồn của một phong trào chống Pháp, nhất định phải được an toàn, và nếu cần, Quốc không ngại chịu xương rơi thịt nát.
Cuối cùng, chỉ còn Quốc, một người một gươm đối diện với Văn... Hai người như một nhưng chí hướng khác nhau.
Quốc biết việc làm của mình rất khó: “Nhiệm vụ và nghĩa tình” Cho nên Quốc đã rơi nước mắt mà khuyên Văn theo mình nghe theo lời phủ dụ của Đức Vua Duy Tân.
Văn không thuận nghe cũng không tỏ ra phản nghịch. Nhưng cuối cùng, Văn chạy vụt đi... Và rồi điều đau lòng đã phải xảy ra, Quốc phải rút gươm và gươm Quốc phải nhúng vào máu Văn... Cũng chỉ vì đại cuộc của dân tộc!
Khổ Hạnh Hòa Thượng ngưng nói, nhìn bao quát tất cả. Người cảm biết những nét mặt lo âu kia, đã hiểu được phần cuối cùng của sự việc. Và có lẽ họ cũng đã hiểu được điều gì xảy ra trong sớm nay, trước khi mặt trời lóe mọc. Tuy vậy người cũng nói, sau một cái hướng mắt về phía Đào:
• Đề Đốc Đào Kim Vũ chính là công tử đây! Và Nguyễn Quốc chính là bần đạo, cho nên bên cạnh cái đau lòng vì phải tan vỡ cái nghĩa tình trong suốt bảy năm nay, lương tâm của bần đạo đã không có cái ân hận nhục nhã đối với dân, đối với nước, bần đạo cũng không thẹn, không hổ khi khoác chiếc áo cà sa, khi niệm lên lời kinh Đại Từ Đại Bi trước Phật Đài, thẹn chăng, hổ chăng là bần đạo đã đi liệm phần cuối cùng cuộc đời mình trong an nhàn, cạnh một mối sầu vong quốc không tan!... Cho nên trước khi đem cái chết để giải một oan cừu, bần đạo xin mượn lời người xưa để gởi lại đời những nỗi niềm không bao giờ nói... Rồi lại quay về Diệu Liên, người nhẹ bảo:
• Nghiên bút cho thầy!...
Trong khoảnh khắc, vách chùa hồng lên những giòng thơ sắc nét ngang tàng.

LẠI THÊM MỘT CHIẾC ĐẦU RƠI

Đào đứng im lặng nhìn. Nét sát khí như dịu đi trên gương mặt trẻ. Từ nãy, Đào đã nghe có cái gì gợn nhẹ trong lòng. Và trong một thoáng Đào như quên đi việc phải làm, quên đi những điều đã gậm nhấm đêm ngày.
Nhưng chỉ một thoáng, chỉ một thoáng, hình ảnh đẩm máu cái thân của cha hiện rõ trước mắt... Oán cừu lại nổi giận... Mặt Đào lại nóng lửa sát khí... Đào thét:
• Thôi đi! Kẻ khẩu Phật tâm xà! Đừng nhiều lời để mong ta tha thứ! Ngươi phải chết!...
Lưỡi gươm hoa lên theo tiếng nói.
Tất cả như toàn thân ớn lạnh...
Nhưng Võ Nhân đã bước tới nâng lưỡi gươm, cùng với tiếng vội vàng:
• Xin tướng công cho mạt tướng được nói ít lời! Đào dừng tay, long mắt:
• Ngươi muốn gì?
Võ cuối đầu đáp:
• Bẩm, mạt tướng chưa bao giờ dám hé lời mỗi lúc tướng công rút gươm ra khỏi vỏ.
Nhưng hôm nay...
• Thì sao?... Ngươi ngăn ta chăng?
• Bẩm không! Mạt tướng không dám thế! Mạt tướng chỉ cầu xin tướng công xét lại... Không hiểu vì sao... bẩm tướng công, nói điều này mạt tướng biết sẽ chịu ngay sấm sét, búa rìu, nhưng xin tướng công thương, chứ quả tình, không hiểu vì sao mạt tướng lại cảm thấy Khổ Hạnh Hòa Thượng đáng kính hơn đáng hờn.
Đào quát ngay:
• Im đi! Ngươi lại có thể kính được kẻ đã giết cha chủ tướng ngươi sao? Lui đi đừng điên cuồng nói với ta những lời bất hiếu bất mục mà chết bây giờ!
Võ vẫn một giọng van nài:
• Xin cho mạt tướng cạn lời...
• Ta bảo im!... Có nghe chưa?
Đào bỗng nghiến răng... Và chớp mắt, vung mạnh một đường gươm không thương xót...
Người ta chỉ kịp nhìn thấy cái đầu trai trẻ của Võ băng đi và rơi bõm xuống lòng hồ sen bạch.
Một khoảng hoa lá rung rinh... Một ít máu hồng vương trên nhụy vàng cánh trắng... Và khối thịt của Võ văng đi lăn lông lốc trên các bực thềm... Bao bàn tay bụm lấy mặt.
Trời sương hải hùng, nức nở... Máu đã tuôn trên thôn Phượng Vĩ, và lệ sầu còn tuôn mãi nhiều hơn.
Diệu Liên Ni Cô đã quỵ xuống tự bao giờ, toàn thân rung rung trong lớp áo nâu sồng.
Và Khổ Hạnh Hòa Thượng cũng đã quỳ xuống! Mấy giọt nước mắt long lanh, nâng cái hình hài tắm máu lên tay thảm thiết:
• Mô Phật! Thân này của bần đạo có đáng gì để phải lụy đến người!... Có đáng gì!...
Đào vẫn như không nghe thấy gì cả với đôi mắt đỏ ngầu sòng sọc. Hết nhìn bọn tùy tướng len lét cúi đầu, Đào lại nhìn đám dân đen đang bàng hoàng trong nước mắt. Và Đào quát giọng gằn gằn ghê gớm:
• Còn kẻ nào nữa? Muốn điên cuồng chết thế cho kẻ kia thì bước ra ta xem?...
Thâm tâm Đào tự cho đó là câu hỏi thừa. Nhất định là không có đến hai kẻ cuồng như Võ Nhân. Nhưng kia... Đào giật mình, nhìn một mái tóc già, một lưng khọm bước ra với một tiếng lạnh lùng.
• Tôi!
Không nói không rằng, Đào tím mặt nhảy vụt xuống bờ hồ vòng nguyệt.
Nhưng vừa đứng vững, Đào bỗng giật mình quay lại.
Ni cô Diệu Liên cũng đã đứt phắt dậy, và cũng với một tiếng lạnh lùng.
• Tôi!
Đào quắc mắt nhưng chân mày Đào cau lại. Giữa lúc Khổ Hạnh Hòa Thượng vội thẳng người dậy vươn tay về phía trước, như cản ngăn:
• Mô Phật! Đừng! Đừng! Hãy để cho linh hồn bần đạo nhẹ nhàng siêu thoát.
Rồi hướng về phía Đào người nói:
• Hãy giết tôi đi! Công tử! Và hãy tha cho những người vô tội, chao ôi! Đức Phật tổ vì người mà xả thân... Còn kẻ hèn này lại để cho người vì mình mà uổng tử!... Biết bao giờ!... Biết bao giờ ta mới được trả cho tròn!...
• Ngươi muốn gì nữa?
• Không! Không! Bần đạo không còn muốn gì nữa, ngoài cái muốn đem thân này để giải mối oan gia cho hai họ... Vì dân vì nước mà bần đạo gieo cái nhân thì bây giờ gặt cái quả, bần đạo cũng muốn vì dân vì nước... là mãn nguyện cho bần đạo lắm rồi! Công tử hãy cứ xuống tay đi, cho bần đạo khỏi còn rơi nước mắt và cho khỏi đổ thêm máu dân lành.
• Ngươi khỏi cần nài!... Nhưng ta muốn ban cho ngươi một ân huệ cuối cùng, để thiên hạ thấy rằng ta độ lượng khi giết một kẻ tay không...
• ....
Đào thu gươm lại, dằn dằn từ tiếng:
• Sám hối đi!... Ta cho ngươi một khắc cuối cùng để mà dọn mình...
• “Đại từ đại bi mẫn chúng sanh Đại hỷ Đại xả tế hàm thức Tướng hảo quang minh dĩ tự nghiêm Ngã đẳng chí tâm quy mạng lễ” Boong!...
Nam Mô Quy Y Kim Cang Thượng sư... Boong!...
Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng ...Boong!...
Tiếng chuông đồng sám hối ngân trong gió sớm, buồn như tiếng thở dài không bao giờ dứt... Và lời kinh sám hối trên đôi môi già ướt lệ, cũng buồn như một lời than não nùng...
Khổ Hạnh Hòa Thượng cảm nghe lòng mình cũng đang ngân hồi nức nở. Chưa bao giờ người nghe mình đau đớn trong thời kinh sám hối như hôm nay. Cũng chưa bao giờ với lời kinh này, tiếng chuông này, người lại nghe cái nguyện vọng cảnh tỉnh của mình tha thiết như hôm nay! Và tất cả người dân Phượng Vĩ, cũng chưa bao giờ như hôm nay lại nghe lòng mình ấm ức nghẹn ngào, vì một âm thanh đồng vọng, cái âm thanh của hai buổi sớm chiều quen thuộc...
Diệu Liên Ni Cô nghe đau nhói theo từng mỗi tiếng đồng...
Ni cô cảm nghe, đó là tiếng đếm của tử thần đang lăm le lưỡi hái... Người cảm thấy nó sẽ giơ lên và nó sẽ hạ xuống... ghê gớm trên tấm thân già của sư phụ khi tiếng đếm cuối cùng vừa dứt... Than ôi! Suốt bốn năm đằng đẵng, công ân dẫn dắt qua khỏi vòng nghiệp chướng tham, sân, si... Công ân truyền dạy lẽ cứu đời... nào biết là bao nhiêu?
Giờ đây không thể không đền đáp! Không thể không giữ cho tấm áo cà sa kia của sư phụ đừng vấy máu! Boong!
• Xin ngài hãy giết tôi! Hãy giết tôi!... Và xin tha cho một công đức tuổi tác để người sống nốt quãng đời đạo hạnh của người!... Van ngài... Van ngài bằng lòng đi đừng để đến dứt tiếng chuông cuối cùng...
Bờ mi đẹp đọng lệ long lanh, như sương tươm đầu lá ướt.
Đào nhìn vào đó chân mày cau lại. Rồi bỗng quay đi, răng cắn lấy bờ môi... Nhưng mắt Đào lại vấp phải trăm ngàn bờ mi khác cũng đang đọng lệ long lanh.
Và từ nơi đó, và khắp cả rền lên những lời cầu nguyện tha thiết:
• Mô Phật xin hãy thoa dịu hờn căm trong lòng người, xin đừng để... đừng để máu rơi thây ngã... Đừng để cho oán thù truyền kiếp chất chồng.
Đào quay mặt đi cố giữ cho lòng không rung động. Nhưng cái hình hài không đầu chưa khô máu lại đón mặt Đào. Đào nhìn thấy từ nơi đó... từ khắp cả, từ trên mỗi lòng hoa, mặt lá, hiển hiện đôi mắt sầu ai oán của Võ... Những đôi mắt sầu ngập lệ khác... Những lời than não nùng, những tiếng thét kinh hoàng, những đầu rơi lông lốc, những hình hài máu đỏ... Chao ôi sao mà thê thảm thế này! Sao mà ghê tởm thế này! Và những lời kinh, những tiếng chuông kia! Oan hồn nức nở đó chăng?
Bất giác Đào rùng mình, có cái gì ớn lạnh luồn nhanh trong đường gân thớ thịt... Và thanh Ngân tuyền rời khỏi bàn tay đang nắm. Trong kia, qua khói trầm xao động, tượng Đức Thích Ca buồn rầu ánh mắt, Đào thấy như đang đau xót nhìn mình.
Không còn kềm chế được nữa, xúc cảm dâng tràn... thổn thức. Đào ngoảnh mặt quay ra... Rồi giữa tiếng đại hồng chung vừa vang dậy, Đào chạy vụt đi ra cửa tam quan... lệ mờ đất sớm... Từ đó bóng Đào biệt tích.
Mười năm sau, những ai thường đi ngang qua thôn Hoàng Mai yên lành ở cuối dãyTrường Sơn đều biết vị Hòa Thượng trụ trì am Đại Hạnh. Người còn trẻ, da mặt hồng hào mặc dù trải bao nhiêu năm tu khổ hạnh. Không ai biết người từ đâu đến tên thật là gì ngoài pháp danh Giác Minh. Đạo Hạnh của người đã truyền tụng cả một vùng rộng lớn.
Người ta kể rằng:
• Giác Minh Hòa Thượng đã từng cởi áo cà sa của mình đắp cho một người ăn xin nghèo đói đang run rẩy bên đường. Người đã từng thức trắng bao nhiêu đêm để dỗ giấc ngủ, Người đã từng nắm lấy tay cày, cày giúp cho một quả phụ nghèo, mảnh ruộng cao cằn cỗi bên đồi. Những đêm khuya tăm tối, dù giữa trời giông gió, dù dưới cơn rét tận tâm can, hay mưa dầm gió buốt, người ta vẫn thấy một ánh đuốc lập lòe của Hòa Thượng xuống đồi đi lần vào lòng thôn xóm đang cần đến người... Và không biết bao nhiêu lần nữa... Mọi việc người làm để cứu nhân độ thế, chưa từng có một ai tích cực bằng.
Người thường nói rằng:
• Tội lỗi ngày xưa của bần đạo rộng như Đông Hải, nặng như núi Trường Sơn, bốn đại dương nước mắt của chúng sinh quả đã có bàn tay của bần đạo làm nên trong đó không ít, thì khổ hạnh mười năm nào có nghĩa gì?... Cho nên đêm đêm, giữa thảo am chập chờn ánh nến khói hương tỏa mịt trước Phật Đường, lời kinh sám hối của người vẫn buồn như một lời than não nùng.
Và cùng với lệ nến, nước mắt của người chảy mãi không ngừng...

Pháp Siêu Nguyễn Thanh Dương
Trích từ: Chùa Hương Sơn
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2015

Xoa Bóp, Bấm Huyệt gan Bàn Chân Để Phòng Chữa Bệnh Thông Thường



Xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân là một trong nhiềuphương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, là xu hướng được ưa chuộng của thế giới hiện nay. Ta có thể tự chẩn đoán và chữa trị được một số bệnh thông thường. Có thể dễ dàng thực hiện bất kỳ chỗ nào, lúc nào: lúc nghỉ giải lao, lúc ngồi tàu xe, lúc xem ti vi... chỉ cần 5-10 phút ai cũng làm được.

Tại sao phải xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân?

Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người đều có những vùng đại diện ở hai bàn chân. Bàn chân trái ứng với nửa người bên trái (như mắt trái, thận trái, tim, lách, hậu môn, trĩ...), bàn chân phải ứng với nửa người bên phải (như mắt phải, thận phải, gan, mật, ruột thừa...). Trong mỗi người có tới 35km các loại ống (mạch máu ruột, ống tuyến...) từ lớn nhỏ tới li ti, chạy ngang dọc khắp mọi nơi trong cơ thể. Phần lớn những ống đó là những dây thần kinh và các mạch máu lưu thông với mọi tế bào. Chỉ cần một ống dẫn nhỏ đâu đó bị tắc là ảnh hưởng tới cả một nhánh hay cả một hệ thống. Đôi bàn chân chúng ta là điểm tận cùng của hệ thống thần kinh và là điểm thấp nhất của các đường ống vì phần lớn thời gian con người hoạt động là đứng hay ngồi. Cho nên máu chúng ta có những “cặn bẩn” thường bị tồn đọng và dễ bị ứ tắc tại đây.Việc nắn bóp những điểm có ách tắc vì có những “cặn bẩn” của máu ở hai bàn chân sẽ làm các chất cặn bị tan hay phân tán nhỏ ra khiến máu dễ lưu thông và đào thải ra ngoài.

Sự lưu thông máu ở hai bàn chân không tốt còn do một nguyên nhân khác. Khi các cơ bắp của chúng ta hoạt động yếu toàn bộ khung xương bị chùng xuống. Cả hệ thống các đốt xương chân cũng vậy. Các khớp co hẹp lại có thể làm cho một số dây thần kinh và mạch máu bị kẹt gây ra sự ách tắc lưu thông của máu. Những “cặn bẩn” trong máu dễ bị ứ đọng ở những điểm này.

Nếu những điểm đó có các dây thần kinh và mạch máu có liên quan đến gan, gan hoạt động yếu đi, nếu liên quan đến thận, sẽ làm việc thải các chất acid uric qua đường nước tiểu kém hiệu quả. Chất “cặn bẩn” trong máu tụ lại lâu bị cô đặc thành những tinh thể. Nếu những tinh thể đó tụ tập ở đầu dây thần kinh, sẽ gây cảm giác nhức buốt và ảnh hưởng tới các cơ quan có liên quan. Do đó, trong quá trình xoa bóp, bấm huyệt bàn chân, nhìn nét mặt của bệnh nhân, ta có thể xác định được những điểm đau và suy ra cơ quan nội tạng nào đó trong cơ thể đang bị yếu hay hoạt động không bình thường.

Phương pháp xoa bóp:

- Dùng lòng bàn tay xát mạnh và xoa tròn khắp bàn chân, chú ý tìm những vùng cảm ứng đau hoặc rất đau.

- Dùng đầu ngón tay cái ấn tìm chính xác những điểm đau nhưng không ấn quá mạnh và lâu vào một điểm.

- Bấm các huyệt đau này 15 - 30 giây, sau day tròn mỗi huyệt 10 vòng xuôi, 10 vòng ngược, mỗi ngày bấm 1 - 2 lần làm cho tới khi khỏi bệnh.

Có thể day bấm bằng đầu ngón tay cái (ngón tay thẳng đứng với điểm bấm) hoặc dùng đầu bút chì đầu có tẩy ấn cho êm. Riêng các huyệt ở ngón chân cần thêm động tác bóp các cạnh bên và vê tròn xoay quanh ngón chân.

Dù là bệnh gì cũng nên bấm day thêm 4 huyệt của các tuyến nội tiết là: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục để 4 tuyến này tiết ra đầy đủ các hormon rất quý, quyết định và duy trì bình ổn mọi hoạt động chức năng của cơ thể để nâng cao sức khỏe chống mệt mỏi, mất ngủ và tránh các rối loạn bất thường.

Ngoài ra không được quên kiểm tra huyệt tác động đến thận, gan, tim, lách... là những nội tạng quan trọng thường dễ bị đau yếu.

Đối chiếu các điểm đau này với hình vẽ các huyệt ở hai bàn chân có kết hợp với các triệu chứng đang xảy ra để suy đoán được cơ quan nội tạng nào có vấn đề. Nếu có bấm day nhầm huyệt cũng không sao. Xoa bóp bấm huyệt gan bàn chân thật đơn giản, an toàn, tiết kiệm mà rất hiệu nghiệm.

BS. Nguyễn Đức Lê

Sưu tầm: Quảng Phổ Chiếu

Ghi chú: Ngoài phương pháp xoa bóp bấm huyệt như hướng dẫn của BS. Nguyễn Đức Lê, quý anh chị em cũng có thể xoa bóp, bấm huyệt gan bàn chân theo cách rất đơn giản và có thể thực hiện được mọi lúc như sau: lấy ngón cái của bàn chân trái mát xa cho gan bàn chân phải và ngược lại; hoặc dùng cả 2 bàn chân mát xa trực tiếp lên chân ghế hoặc chân bàn khi mình đang làm việc. Nên mát xa toàn khắp gan bàn chân (từ mắt cá chân trở xuống lưng bàn chân và lòng bàn chân), nên mát xa thật thường xuyên vào huyệt Dũng Tuyền – một trong những huyệt đạo rất quan trọng của cơ thể. Việc xoa bóp, bấm huyệt gan bàn chân thường xuyên sẽ giúp cho cơ thể thải được nhiều độc tố ra ngoài và giúp cho các đường kinh mạch trong cơ thể hoạt động được tốt nhất.


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Lương Hoàng Sám (Kinh Sám Hối)




Ta đi giữa lối sa mù,
Với thân tứ đại kết từ phù du,
Vì vô thỉ kiếp không tu,
Xuống lên ba cõi phiêu lưu sáu đường
Đời khi đã thấu đoạn trường,
Tự nhiên trân quý con đường tịnh tu,
Kinh chiều như tiếng Mẹ ru,
Âm ba: sóng biển gợi thiên thu về,
Trầm thơm hương quyện bốn bề,
Trang lương hoàng sám phá mê ngộ rồi,
Người ơi nhân quả luân hồi,
Ta thương ta kiếp lạc loài - nhớ quên
Ơn đời gian khổ bấp bênh,
Cho ta tỉnh mộng: ghập ghềnh do tâm!
Ừ thôi mượn chốn thăng trầm....
Nương kinh sám hối lỗi lầm hôm xưa,
Trần gian còn lắm gió mưa,
Nên trang kinh mở cho chừa tỉnh mê!
Cảm ân Lương Đế vẹn thề
Đẹp đời -sáng đạo vong thê được nhờ (*)
Sử xanh truyền đến bây giờ,
Lời kinh đưa khách sang bờ an vui.

Diệu Thuỷ

(*) Hi Hoàng Hậu vợ đã qua đời của Vua Lương Vũ Đế thời xưa .



Thứ Tư, 2 tháng 9, 2015

Suy ngẫm Vấn đề số 5: Đức Phật A Di Đà Có Hay Không?

Phần lớn những kinh hiện nay chúng ta được biết chỉ xuất hiện rất lâu sau khi đức Phật Thích Ca nhập diệt. Như kinh Địa Tạng, Lương Hoàng Sám xuất hiện thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, có nghĩa là sau 800 năm




Câu hỏi 5: Hiện tại pháp môn niệm Phật đang rất phổ biến tại Việt Nam cũng như Trung Quốc và Đài Loan. Thượng tọa cũng đã giải thích, để được về Tây phương thì phải loại trừ tham, sân, si, còn đối với một người xuất gia muốn đạt được đến sự giải thoát chắc chắn phải tu tập giới-định-tuệ. Kinh A-di-đà có nói đến cảnh giới Tây phương cực lạc. Con muốn hỏi: Đức Phật A-di-đà có hay không, và khi niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà thì có được sanh về thế giới Tây phương hay không?

Trả lời: 

Thầy Nhật Từ

Để thảo luận vấn đề này chúng ta nên phân biệt hai khái niệm “Đức Phât lịch sử” và “Đức Phật tôn giáo”.

“Đức Phật lịch sử” là khái niệm chỉ đức Phật Thích Ca, một con người thật, từ các việc tu tập thật cho nên đã biến thân phàm của mình trở thành bậc tuệ giác đầu tiên trong lịch sử tư tưởng của nhân loại ở tuổi 35 và qua đời ở tuổi 80. Đức Phật lịch sử cũng giống như bao nhiêu con người bình thường khác, cũng từng sai lầm trong quá trình học đạo, suýt chết vì sáu năm tu khổ hạnh, cho tới khi phát hiện ra con đường trung đạo là bát chính đạo, trở thành bậc giác ngộ đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Lấy hành tinh mà chúng ta đang sống làm hệ quy chiếu, chỉ có một đức Phật lịch sử duy nhất là đức Phật Thích Ca. Không có đức Phật thứ hai.

Khái niệm “Đức Phật tôn giáo” phát triển trong giai đoạn Phật giáo Đại thừa phát triển, sớm nhất là thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, đỉnh cao nhất của nó là thế kỷ thứ nhất Tây lịch. Đại thừa có hai trường phái: Đại thừa Ấn Độ gồm có tông Du Già truyền bá về Duy thức học và tông Trung quán, truyền bá về trí tuệ phá chấp, và trường phái Đại thừa Trung Quốc lập ra mười tông phái Phật giáo Trung Quốc, mà hiện nay ngự trị và ảnh hưởng các nước theo Đại thừa.

Đại thừa Trung Quốc không phải là Đại thừa gốc của Ấn Độ, vì Đại thừa Trung Quốc đề cao “Đức Phật tôn giáo. Ngay cả đức Phật Thích Ca lịch sử họ cũng tô vẽ lên một hình ảnh đức Phật tôn giáo đang đóng kịch (thị hiện). Phật giáo Trung Quốc đặt ra khái niệm “thị hiện”, theo đó đức Phật đóng kịch với vai của vị thánh đã giác ngộ, xuống trời Đâu Suất làm Bồ-tát Hộ Minh, sau đó nhập thai vào thánh mẫu Maya, mấy tuổi đã biết ngồi thiền, 19 tuổi giả vờ làm đám cưới với công chúa Da-du-đà-la, sau đó đi tu, năm năm tìm đạo sai, sáu năm tu tập khổ hạnh sai, rồi giác ngộ ở tuổi 30. Theo thuyết này, toàn bộ giai đoạn từ mới sinh ra cho đến tuổi 30 của đức Phật là đóng kịch, là giả vờ. Đó là quan niệm về đức Phật tôn giáo, hoàn toàn là một sản phẩm ý thức của Đại thừa Trung Quốc, không có trong đạo Phật Đại thừa tại Ấn Độ.

Từ đức Phật tôn giáo đó Trung Quốc mở rộng thêm số lượng các đức Phật như Tam Thiên Phật, Vạn Phật... Đây là điều do Phật giáo Trung Quốc đặt ra, không có trong Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ. Đức Phật A-di-đà là một trong các đức Phật tôn giáo, xuất phát từ Ấn Độ và được Trung Quốc đề cao. Kinh A-di-đà có gốc rễ từ tiếng Sanskrit tại Ấn Độ, điều đó không ai phủ định. Hình ảnh đức Phật A-di-đà trong kinh A-di-đà là một biểu tượng sâu sắc.

Tôi vừa phân tích trong câu hỏi trước đây, Tây phương Tịnh độ không quan trọng, do vậy, đức Phật A-di-đà có thật hay không cũng không quan trọng. Quan trọng là chúng ta phải hội tụ được: (i) căn lành lớn (tức thoát khỏi tham, sân, si), (ii) có công đức lớn (tức là nhập thế và làm các việc công đức), (iii) tạo nhân duyên tốt lớn (là mở đạo tràng cho mọi người cùng tu), (iv) quán pháp âm lớn (là lấy dữ liệu Ta-bà xây dựng Tịnh độ hiện tiền) và (v) nhất tâm bất loạn, tức cốt lõi của chính niệm và chính định trong bát chính đạo.

Nghĩa đen của chữ A-di-đà trong ngôn ngữ Sanskrit là trí tuệ không giới hạn (Vô lượng quang). Trung Quốc đặt thêm hai nội dung mới là Vô lượng công đức và Vô lượng thọ, tức là tuổi thọ không giới hạn, trái với quy luật sinh, già, bệnh, chết mà đức Phật đã công bố, đồng thời, cũng trái với quy luật thiên nhiên. Vô lượng thọ là điều không có thật. Phật giáo Trung Quốc thêm thắt thứ nầy thứ nọ để dẫn dụ quần chúng đi theo các tông phái Phật giáo của họ.

Trên thực tế, “bốn mươi tám lời nguyện” trong Tịnh độ tông của Trung Quốc không phải của đức Phật A-di-đà như đã bị ngộ nhận và truyền bá trong nhiều thế kỷ qua. Bốn tám lời nguyện thực chất là của thầy tỳ-kheo Pháp Tạng, khi còn là một phàm tăng, giống bao nhiêu các tu sĩ phàm khác. Khi còn là một người phàm, chúng ta được quyền phát nguyện.

Phát nguyện là một ứng dụng nhỏ của lòng từ bi. Phát nguyện là thể hiện sự quan tâm của chúng ta với chúng sinh khổ đau và với cuộc đời bất hạnh. Hồi hướng công đức cũng là một ứng dụng nhỏ của lòng từ bi, có nghĩa là “ngoái nhìn về, quan tâm về, quan hoài đến” nỗi khổ niềm đau của tha nhân. Phát nguyện dẫn đến hồi hướng công đức. Hồi hướng công đức dẫn đến phát nguyện. Phát nguyện và hồi hướng là cặp bài trùng, hỗ trợ lẫn nhau.

Ứng dụng của lòng từ bi theo đức Phật là tạo ra các hành động phụng sự cụ thể, như đức Phật đã yêu cầu sáu mươi vị A-la-hán đầu tiên: “Này các tỳ kheo, mỗi người nên đi một đường, hai người không nên đi trùng hướng nhau để mang lại hạnh phúc, an lạc cho số đông, cho chư thiên và loài người.” Đức Phật xác định tông chỉ của Ngài là phụng sự nhân sinh.

Do vì ngộ nhận bốn mươi tám lời nguyện là của đức Phật A-di-đà nên rất nhiều Phật tử, ngay cả các pháp sư Tịnh độ tông của Trung Quốc đã mê tín khi cho rằng chỉ cần niệm mười niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà là được vãng sinh Tây phương Cực lạc. Điều này là không thể được, vì phi nhân quả. Nếu chỉ niệm Phật mười niệm mà sinh Tây phương Cực lạc được thì Đức Phật đã chẳng phải nhọc công 45 năm thuyết pháp với gần ba chục ngàn bài kinh để giúp con người thoát khỏi vô minh và khích lệ sự thực tập giới-định-tuệ để nâng cao đời sống tinh thần.

Phương tiện có khi là con dao hai lưỡi, mặt tích cực cũng nó mà tác dụng phụ cũng nó. Khi tu Tịnh độ tông, hành giả không nên dựa vào bốn mươi tám lời nguyện của thầy Pháp Tạng. Có lẽ dựa vào đây mà Trung Quốc đặt ra pháp tu gồm ba yếu tố: tín, hạnh và nguyện, vốn rất xa lạ với tông chỉ vãng sinh Cực lạc trong kinh A-di-đà.

Chúng tôi kính đề nghị ai tu theo Tịnh độ tông thì nên dựa vào hai bài kinh căn bản: Thứ nhất là kinh A-di-đà, chú trọng năm tiêu chí vãng sinh Tây phương, như đã nêu trên, và thứ hai là Kinh niệm Phật Ba la mật, vì trong kinh này, ngoài chương nói về thần chú vốn được biên tập về sau, thì nội dung còn lại chứa đựng các triết học của đạo Phật Đại thừa. Không có triết học Đại thừa nào mà không có Kinh niệm Phật Ba la mật. Tu theo hai bài kinh này, người theo Tịnh độ sẽ không ăn những chiếc “bánh vẽ”, không đặt nặng vào sự cầu nguyện và phát nguyện; hành giả Tịnh độ trở thành những người phát triển trí tuệ, năng động, nhập thế để xây dựng Tịnh độ trong từng ngôi nhà và ở nơi làm việc. Đó một Tịnh độ nhân gian, khác với Tịnh độ Tây phương được Tịnh độ tông của Trung Quốc chủ xướng.

Trung Quốc có hai phương pháp Tịnh độ. Tịnh độ nhân gian được Hòa thượng Tinh Vân khởi xướng qua ba phương diện: Xây dựng Tịnh độ qua giáo dục, xây dựng Tịnh độ qua văn hóa, xây dựng Tịnh độ qua từ thiện. Về giáo dục thì Hòa thượng có trường đại học Tây Lai ở Hoa Kỳ, ba trường đại học được Bộ Giáo dục thừa nhận ở Đài Loan, nhiều trường tiểu học và trung học cho giới chính trị và giới kinh doanh gửi con đến học. Hòa thượng có đài truyền hình Phật giáo, có tờ nhật báo Nhân gian phước báo, có nhiều tạp chí Phật giáo để phục vụ cho việc giáo dục Phật giáo. Về văn hóa, trong số gần ba trăm ngôi chùa ở năm châu lục, nhiều chùa có viện bảo tàng để giới thiệu về văn hóa Phật giáo, có thư viện lớn để giới thiệu về triết lý Phật giáo, có phòng thiền trà lớn để trải nghiệm thiền, có phòng thư pháp để trải nghiệm văn hóa chữ viết của Trung Quốc, có nhà hàng buffet chay để du khách có thể ở lại trong đó một ngày cho đến nhiều ngày và có khách sạn chuẩn ba sao đến năm sao để dành cho những người sang trọng muốn ở lại tu tập tại Chùa lâu hơn.

Về phương diện nhập thế, hòa thượng Tinh Vân là người phá kỷ lục. Về hoạt động từ thiện, hòa thượng cứu trợ các nạn nhân thiên tai, người già, người tàn tật, người khiếm thính, khiếm thị, trẻ mồ côi... Ba phương diện hoạt động này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của kinh A-di-đà và kinh niệm Phật Ba la mật, và rất phù hợp với tông chỉ nhập thế của đức Phật Thích Ca.

Tịnh độ Tây phương phổ biến nhất hiện nay là do Hòa thượng Tịnh Không chủ trương. Tịnh độ tông đó có nhiều mê tín, đi theo một thiên cực. Nếu tiếp tục hưởng ứng và truyền bá Tịnh độ này thì Phật giáo Việt Nam sẽ đi vào con đường suy vong. Tịnh độ tông do HT. Tịnh Không chủ trương mỗi ngày phải lạy 500 lạy thì còn thời gian đâu để dành cho việc phụng sự người thân và xã hội? Suốt ngày chỉ biết niệm Phật, lạy Phật, sám hối… thì còn thời gian đâu để làm việc thiện và Phật sự! Cách tu cực đoan này làm cho những người tại gia trở thành những người thiên cực, bỏ bê công ăn việc làm, chỉ tu để mong sớm được vãng sinh Tây phương.

Năm 2012, có một lần HT.Tịnh Không bị hớ, vì chủ trương ngày 21/12/2012 là tận thế theo niềm tin mê tín của lịch cổ Maya. Điều này đã khiến cho nhiều người bỏ công ăn việc làm, ngồi ở nhà chờ chết tập thể với những người thân. Vì mặc cảm dân tộc, nhiều người Việt Nam cứ chuộng ngoại, chạy theo Tịnh độ tông cực đoan như vừa nêu, vô tình làm chết đạo Phật Việt Nam.

Trên thực tế, cũng khó trách HT.Tịnh Không được vì Hòa thượng không được học Phật pháp tại trường Phật học đến nơi đến chốn, mà chỉ học Phật pháp với cư sĩ Lý Bĩnh Nam. Bản thân cư sĩ Lý Bĩnh Nam cũng không học Phật pháp bài bản ở các trường lớp Phật học. Do đó, những giới hạn về tri thức Phật pháp ở HT. Tịnh Không là điều dễ hiểu và thông cảm được.

Truyền bá Tịnh độ tông Tây phương theo kiểu thiên cực nêu trên sẽ làm cho người ta mê chấp, vì sự hứa hẹn vãng sinh Tây phương thông qua hộ niệm vãng sinh với các thoại tướng vốn do Trung Quốc đặt ra, không do đức Phật dạy. Do lòng tham dẫn dắt mà rất nhiều người chạy theo Tịnh độ tông kiểu này, tu quá đơn giản, quá dễ. Thực tế, nếu không hội đủ năm tiêu chí như kinh A-di-đà đã nêu thì dù cho có được “hộ chiếu Tây phương” đi nữa, cũng bị “từ chối Visa” thôi, vì nghiệp quyết định cảnh giới tái sinh chứ không phải ước muốn của con người quyết định. Ta nên nhớ điều này.

Dù cho các vị Phật có phát nguyện thế nào đi nữa, trong độ sinh, các ngài không thể làm ngược lại với tứ diệu đế. Đó là lời đức Phật Thích Ca đã khẳng định. Phật quá khứ truyền bá Tứ diệu đế. Phật hiện tại, tức Phật Thích Ca truyền bá Tứ diệu đế. Phật tương lai, tức Phật Di Lặc cũng truyền bá Tứ diệu đế.

Về điều này, đức Phật đưa ra ẩn dụ về con đường đến tòa lâu đài. Giống như tòa lâu đài bị che giấu và ẩn khuất ở trong rừng sâu nhiều năm, Ngài may mắn tìm ra được con đường đi đến tòa lâu đài đó, mở được các cánh cửa, đi vào bên trong, nhìn thấy các báu vật. Trong ẩn dụ này, các báu vật được hiểu là tứ diệu đế. Đức Phật truyền bá lại báu vật đó bằng cách vẽ con đường (tức các kinh điển) và hiến tặng miễn phí cho chúng. Đức Phật cho rằng Ngài không phải là tác giả của chân lý. Đức Phật chỉ là người khám phá ra chân lý. Chân lý đã có sẵn. Đức Phật chỉ đường chân lý. Các đức Phật quá khứ và đức Phật tương lai cũng chỉ là người chỉ đường. Bát chính đạo là con đường. Công bố Bát chính đạo là truyền bá con đường giải phóng khổ đau.

Dù phát nguyện là một phần của tâm từ bi, ta không thể làm đạo trên nền tảng phát nguyện đơn thuần được. Nên nhớ rằng “cầu bất đắc khổ” là một trong tám loại khổ thuộc về tinh thần. Do đó ta đừng bận tâm là Phật A-di-đà có thật hay không, Tây phương Tịnh độ có thật hay không. Triết lý của Tịnh độ tông nằm ở chỗ, khi đạt được công đức lớn, căn lành lớn, nhân duyên tốt lớn, quán pháp âm lớn và nhất tâm bất loạn thì người đó đã trở thành thánh nhân trong hiện tại rồi. Thánh nhân có mặt ở chỗ nào thì cực lạc, niết bàn có mặt ở chỗ đó. Đó là chiều sâu của kinh A-di-đà. Sẽ là sai lầm nếu ta tu Tịnh độ theo cách “yểm Ta-bà, hân Tịnh độ,” do Trung Quốc chủ trương. “Yểm Ta-bà” là chán ghét Ta-bà, mà chán ghét thuộc về tâm sân. Đang khi, “hân Tịnh độ” là đam mê, thuộc về tâm tham. Xây dựng pháp môn trên tâm sân và tâm tham thì không thể có được chính niệm và chính định.

Giữa hai trường phái Tịnh độ tông nêu trên (Tịnh độ nhân gian và Tịnh độ Tây phương), tôi khích lệ Tịnh độ tông nhân gian theo mô hình của HT. Tinh Vân, vốn rất chuẩn. Rất tiếc là mô hình Tịnh độ tông nhân gian đó ít được biết đến tại Việt Nam, bởi vì nó đi đúng đạo Phật gốc, đúng đạo Phật nguyên chất. Tịnh độ tông nhân gian khích lệ tinh thần tự lực, tự mình thắp đuốc lên mà đi. Con người dễ làm biếng, dễ ỷ lại, không muốn làm gì nhiều mà muốn có thành quả lớn. Đó là tâm lười cộng với tâm tham, bị chi phối bởi tâm vô minh. Người ta có thể chạy theo hình thức Tịnh độ tông Tây phương và kết cục là tự mình bị thiệt thòi và trở thành nạn nhân của cách tu không phù hợp với bát chính đạo.

Trong lúc làm đạo, các tăng sĩ nên tránh tình trạng mong có quần chúng nhiều, quần chúng sớm mà truyền bá một đạo Phật mê tín. Dụ dỗ người khác thì rất dễ nhưng rồi chúng ta không thể thoát khỏi luật nhân quả. Có quần chúng để làm gì nếu họ hiểu sai đạo Phật, làm sai những điều Phật dạy? An ủi những người khổ đau có nhiều cách. Lời dạy của đức Phật là triết lý sâu sắc. Không xem mình là nạn nhân là cách góp phần kết thúc khổ đau. Không xem người khác là tác giả của khổ đau, ta sẽ không gây tạo thêm hận thù chồng chất. Để có các công bằng xã hội mà mình xứng đáng được hưởng, ta được quyền nhờ đến luật pháp, trong vài tình huống, chứng minh mình vô tội. Để làm công việc đó, chúng ta có thể nhờ đến luật sư nhưng đừng để tâm sân chi phối, dẫn dắt. Không nên tìm đến sự an ủi bằng những điều mang tính hứa hẹn quá nhiều, giá trị thật của hứa hẹn không cao.

Nói tóm lại, tu theo Tịnh độ tông phải dựa vào kinh A-di-đà và Kinh niệm Phật Ba la mật. Tịnh độ tông phương tiện thì hứa hẹn nhiều. Nên nhớ lời hứa hẹn không phải là hiện thực, đừng để cho lời hứa hẹn dẫn dắt chúng ta.

Trong quá trình làm đạo, chúng tôi kính mong chư tôn đức Tăng Ni đừng bận tâm và thiên nặng về lời phát nguyện đơn thuần. Hãy bận tâm đến chủ nghĩa hành động cụ thể. Thay vì lời cầu nguyện mơ hồ và thiếu thiết thực như “cầu cho tất cả chúng sinh đều thành Phật” thì mỗi người Phật tử hãy phát nguyện mỗi năm tôi phải độ được một vài người thân và bạn bè làm Phật tử. Làm như thế, trong một kiếp người sáu bảy chục năm, ta độ được tối thiểu sáu bảy chục người làm Phật tử. Vậy là tạo nhân duyên tốt lớn rồi và có được công đức lớn rồi. Nếu lúc nào cũng nói “cầu cho chúng sinh” thế này, thế kia mà chẳng làm gì hết, chỉ ngồi niệm và cầu nguyện đơn thuần thì không thể có kết quả được.

Trong kinh Trung bộ, đức Phật đưa ra ẩn dụ vắt sữa bò ở sừng, lưng, chân… của con bò cái, dù có ước nguyện chân thành cũng không thể có sữa bò được. Phải vắt sữa ở vú bò mới có sữa được. Ý đức Phật muốn nói rằng ước nguyện chỉ là một yếu tố tâm lý, giúp ta vững tin trên con đường mà chúng ta đang làm. Người mê tín nghĩ rằng do cầu nguyện, do phát nguyện mà tôi được cái này, cái khác.. là không đúng. Phải làm, phải có trí tuệ, có nỗ lực tinh tấn, có kiên trì không gián đoạn mới có kết quả. Cùng là một vấn đề, người hiểu đúng Phật giáo sẽ lý giải theo nhân quả, người “lơ tơ mơ” sẽ lý giải bằng mầu nhiệm và ban phước.

Đạo Phật không phải là đạo mầu nhiệm, mà là đạo trí tuệ. Trong bát chính đạo không có cầu nguyện, không có trì chú. Đức Phật nói trong Kinh Trung bộ rằng ai sống với nghề trì chú là đang sống với tà hạnh và không thể đạt được đạo đức cao. Trong ba bộ Veda thời đức Phật, có một bộ chứa đựng mấy ngàn câu thần chú. Mấy trăm năm sau khi Đức Phật qua đời, các tu sĩ Ấn Độ vay mượn thần chú của Bà-la-môn giáo, giới thiệu vào đạo Phật. Qua đến Trung Quốc thì Trung Quốc sáng tác thêm bài kinh Thủ Lăng Nghiêm để mặc nhiên thừa nhận thần chú là lời Phật dạy. Đại đa số quần chúng chạy theo Tịnh độ tông và Mật tông vì họ được hứa hẹn, họ bị nghiện phước báu, nghiện Cực lạc, nghiện hạnh phúc mà không cần phải làm nhiều, tu tập nhiều. Tu bát chính đạo thì nghiêm túc và khó hơn. Vấn nạn nằm ở đó.

Đức Phật dạy chúng ta: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, hãy tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình, không nương tựa vào một ai khác, không lệ thuộc vào bất cứ cái gì khác, lấy chính pháp và đạo đức làm nơi nương tựa.” Chính pháp và đạo đức là thầy của chúng ta, chứ không phải thần chú và danh hiệu Phật.

Trong thời đức Phật, niệm Phật là niệm danh từ chung, khác với Trung Quốc niệm danh từ riêng. Niệm danh từ chung là niệm mười đức hiệu của đức Phật, gồm có Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Do vậy, mỗi khi niệm mười đức hiệu này, chúng ta phải nỗ lực đạt được các nhân cách Phật nêu trên. “Ứng cúng” là đáng cúng dường, muốn đáng cúng dường phải có giới hạnh thanh cao. Niệm Phật theo cách này là cách tu và học theo nhân cách Phật để đạt được các nhân cách vĩ đại đó.

Qua đến Trung Quốc, niệm Phật trở thành niệm danh từ riêng: “Nam Mô A-di-đà Phật”. Về sau, người ta cường điệu hóa năng lực mầu nhiệm của đức Phật A-di-đà qua bốn mươi tám lời nguyện của thầy Pháp Tạng, vốn không phải của đức Phật A-di-đà. Phật giáo Tịnh độ tông của Trung Quốc mặc nhiên xem thầy Pháp Tạng là hóa thân của Phật A-di-đà và truyền bá bốn mươi tám lời nguyện đó như là chân lý của đức Phật A-di-đà. Đó là ngộ nhận cần điều chỉnh.

Hai cách niệm Phật danh từ chung và danh từ riêng nêu trên hoàn toàn khác nhau. Niệm Phật danh từ chung là cách niệm để học các đức hiệu tốt đẹp để đạt được chính niệm. Niệm Phật danh từ riêng là để cầu phước báu vãng sinh Tây phương. Muốn đạt tới chính niệm thì phải loại trừ hết tất cả các ước nguyện.

Đang niệm Phật mà để cho ước nguyện, phát nguyện, hay hồi hướng công đức xen lẫn vào thì hành giả không còn chính niệm nữa, vì đang bị vọng niệm và tham chi phối. Khi niệm Phật đúng cách thì không cầu nguyện đang lúc niệm. Khi kết thúc thời niệm Phật rồi mới hồi hướng công đức. Lúc đó, hành giả đang thực tập từ bi, hướng tâm về người khác. Từ việc hướng tâm về tha nhân một cách tích cực, ta mới có các hành động phụng sự con người một cách cụ thể, như một hệ quả kéo theo sau.

Ngày nay, phần lớn chúng ta ít chú trọng đến hành động từ bi cụ thể, mà chỉ tập chung vào phát nguyện. Cuối cùng, tu theo cách này là “tu trên mây”, tu thiếu hiện thực và tu thiếu nhập thế.

Cần xác nhận ở đây rằng tôi không tấn công cá nhân, không phê phán Tịnh độ tông, mà chỉ nói về các hình thái của Tịnh độ tông, phái nào gần với đạo Phật gốc và phái nào quá xa với đạo Phật gốc. Sự lựa chọn còn lại là của người đọc và nghe mà thôi. Đúng hay sai tùy mọi người phán xét. Chúng tôi không tư biện. Chúng tôi dựa vào kinh điển để đánh giá vấn đề, chứ không dựa vào thành kiến, định kiến cá nhân, thể hiện quan điểm với một trường phái hay con người nhất định nào đó. Mục đích duy nhất của chúng tôi là làm thế nào để truyền bá lời Phật dạy một cách chính xác, giúp quần chúng lắng nghe, rồi áp dụng lời Phật dạy vào đời sống hàng ngày, để đạt được an lạc, hạnh phúc, bây giờ và tại đây.

Thích Nhật Từ
Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Ông Giáo Già, Và Nỗi Quê Nơi Đất Khách



Sông dài buồn ứ đọng
Muôn dặm nhớ về nhà
Chiều lộng gió ngàn thổi
Lá rơi vàng núi xa

Chim bay trắng sóng lặng

Hoa rộ đỏ non xa
Xuân lại qua rồi đó
Năm nao trở lại nhà

Sông ơi ra biển cả

Có chảy ngang quê ta
Xin gửi theo dòng lệ
Cho vưòn xưa nở hoa

Đầu giường ánh nguyệt chiếu

Ngỡ đất trời buông sương
Vời vợi vầng trăng bạc
Nao nao tình cố hương

Chú Thích: Mấy Vần Thơ Xưa, Ông Giáo Già, Và Nỗi Quê Nơi Đất Khách được cảm tác trong xúc động từ các bài tứ tuyệt xưa của các Thi Nhân Đời Đường : Tư Quy của Vương Bột , Tuyệt Cú của Đỗ Phủ, Kiến Vị Thuỷ Tư Tần Xuyên của Sầm Than , và Tĩnh Dạ Tư của Lý Bạch
* * *
Tư Quy - Vương Bột (648 - 675)

Trường Giang bi dĩ trệ
Vạn lý niệm tương quy
Huống phục cao phong vãn
Sơn sơn hoàng diệp phi

Tạm Dịch : Trường Giang buồn ứ đọng / Muôn dặm nhớ về nhà / Lại thêm gió ngàn thổi lồng lộng / Lá vàng bay khắp núi non
* * *
Tuyệt Cú - Đỗ Phủ (717 - 770)

Giang bích điểu du bạch
Sơn thanh hoa dục nhiên
Kim xuân khán hựu quá
Hà nhật thị quy niên

Phạm Khắc Trí Tạm Dịch: Chim trắng bay qua sông biếc trông càng thêm trắng / Hoa đỏ nở rộ núi xanh trông càng thêm đỏ /
Xuân này lại đang qua rồi đó / Ngày nào năm nao trở về nhà

* * *
Kiến Vị Thuỷ Tư Tần Xuyên - Sầm Than 9715 - 770)

Vị Thuỷ đông lưu khứ
Hà thời đáo Ung châu
Bằng thiềm lưỡng hàng lệ
Ký hướng cố viên lưu

Phạm Khắc Trí Tạm Dịch: Sông Vị chảy ra biển đông / Khi nào tới Ung Châu / Xin trôi theo đôi dòng lệ / Gửi về vườn xưa dùm nhau

* * *
Tĩnh Dạ Tư - Lý Bạch ( 701 - 762)

Sàng tiền khán nguyệt quang
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương

Phạm Khắc Trí Tạm Dịch:  Trước giường ngắm ánh trăng / Ngỡ là đất bốc sương / Ngẩng đầu nhìn trăng sáng / Cúi đầu nhớ quê xưa

Phạm Khắc Trí
* * *
Những  Bài Dịch của Mailoc:



Tư Quy (Vương Bột)

Man mác Trường Giang nước lạnh lùng
Ngày về quê cũ nỗi hoài mong
Phương chi gió lộng hoàng hôn xuống
Tan tác vàng bay núi chập chùng 
Mailoc 
* * *
Tuyệt Cú ( Đỗ Phủ )
Sông xanh chim trắng rợp khung trời
Hoa nở non xanh rợp khắp nơi
Có biết chúa Xuân rồi mất hút?
Ngày về xa lắc nhớ tơi bời!
Mailoc 
* * *
Kiến Vị Thuỷ Tư Tần Xuyên (Sầm Tham)

Dòng sông Vị xuôi đông chảy mãi

Nước bao giờ tới bãi Châu Ung?
Cho ta gởi lệ nhớ nhung
Về nơi quê cũ vô cùng luyến thương! 
Mailoc 
* * *
Tĩnh Dạ Tư. ( Lý Bạch )

Trong vắt như gương nguyệt trước giường

Lờ mờ mặt đất ngỡ hơi sương
Ngước trông thăm thẳm trăng vằng vặc
Buồn rượi gục đầu chạnh cố hương 
Mailoc 
Cali 6-8 15
* * *
Những Bài Dịch của Quên Đi:




Tư Quy (Vương Bột)


Sông dài sầu lắng đọng

Vạn dậm muốn quay về
Gió cuối mùa đang đến
Lá vàng núi ủ ê.
Quên Đi
* * *
Tuyệt Cú 2 (Đỗ Phù)

Sông xanh chim trắng lượn

Núi biếc hoa thêm hồng
Lần lựa xuân qua nữa
Ngày về mòn mỏi trông
Quên Đi
* * *
Kiến Vị Thuỷ Tư Tần Xuyên(Sầm Tham)

Sông Vị chảy về đông

Ung xứ ngày về mong
Cho gởi đôi dòng lệ
Nhớ quê cũ chạnh lòng.

Quên Đi
* * *
Tĩnh Dạ Tứ(Lý Bạch)

Trước giường trăng chiếu rọi
Ngỡ đất phủ đầy sương
Ngẩng mặt nhìn trăng sáng
Gục đầu nhớ cố hương

Quên Đi
***
Những Bài Dịch của Kim Phượng:



Tư Quy ( Vương Bột)

Sông dài lắng đọng nỗi bi ai
Canh cánh quê xa lụy cảm hoài
Xào xạc tiếng thu mùa gió lộng
Núi non cùng khắp lá vàng bay


Kim Phượng
***
Tuyệt Cú ( Đỗ Phủ)

Sông biếc chim kia điểm trắng trời
Núi xanh hoa thắm rộ nơi nơi
Xuân này lần lựa qua rồi đấy
Mong mỏi ngày về dạ chẳng vơi


Kim Phượng
***
Kiến Vị Thủy Tư Tần Xuyên ( Sầm Tham)
Vị thủy xuôi đông chảy một dòng
Ung Châu bến đợi mãi chờ mong
Nước ơi mang hộ ta dư lệ
Gửi đến vườn xưa một tấc lòng


Kim Phượng
***
Tĩnh Dạ Tứ ( Lý Bạch)

Đầu giường lơ lững ánh trăng trong
Cứ ngỡ sương giăng khắp cả phòng
Dõi mắt trông lên vầng sáng bạc
Gục đầu quê cũ dạ hằng mong

Kim Phượng
***
Theo huynhhuuduc.blogspot.com