Sưu tầm: Hanh Nghiêm
Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015
Đức Phật Không Thấy Ai Là Kẻ Thù
Đức Phật bình đẳng giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán, không oán giận kẻ hại mình mà còn khoan dung độ lượng để cho họ có cơ hội cải tà quy chánh. Thứ đến, Ngài tùy căn cơ chúng sinh mà nói pháp thích hợp để giúp họ chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Bất kể là thành phần nào trong xã hội khi gặp Phật đều được lợi lạc, an vui.
Uy tín và danh tiếng của đức Phật ngày càng vang xa, nhất là thành Xá Vệ. Mọi người đến Tịnh xá Kỳ Viên cúng dường Phật cùng Tăng đoàn, đồng thời nghe Phật giảng dạy giáo lý nhân quả, đạo làm người và giáo lý giác ngộ-giải thoát ngày càng đông. Những người ngoại đạo thấy vậy nên càng bực tức hơn nữa vì quyền lợi của họ ngày càng sa sút, các vị trước đây cúng dường họ bây giờ đã chuyển sang cúng dường và phát tâm tu học theo lời Phật dạy.
Đức Phật của chúng ta ngày xưa cũng bị nhiều người vu oan hủy nhục trước mặt vua quan, thần dân thiên hạ. Khi bị cô gái giả làm bụng bầu bêu xấu trước mặt đại chúng khi đang thuyết pháp Ngài vẫn an nhiên, không lời đính chính, minh oan cho mình. Sự thật vẫn là sự thật, trời xuôi đất khiến thế nào mà trong lúc cô đang diễn kịch thì cái bụng bầu giả rớt xuống, cô quá xấu hổ nên nhanh chân bỏ chạy. Chuyện đó xảy ra không lâu thì một chuyện khác lại kinh hoàng, khủng khiếp và độc ác, dã man hơn nữa làm rúng động lòng dân cả nước. Bọn người đê tiện, thấp hèn muốn hại Phật lần này đã tung một chiêu đòn quyết định. Chúng muốn tẩy chay cả giáo đoàn đức Phật nên lập mưu bày kế tinh vi hơn gấp ngàn lần.
Kỳ này chúng mướn bọn nghiện rượu giết một cô gái trẻ đẹp rồi giấu trong Tịnh xá chỗ Phật ở và lên trình báo với vua quan cô gái ngoan đạo của họ thời gian gần đây hay đến Tịnh xá nghe pháp đã bị mất tích. Chúng yêu cầu nhà vua phải làm sao tìm cho được cô gái ngoan đạo ấy. Vua Ba Tư Nặc cho mở cuộc điều tra và cuối cùng tất cả mọi người đều phát giác ra cô đã bị giết và xác được chôn trong Tịnh xá. Sự thật đã quá rõ ràng, đâu còn ai nghi ngờ gì nữa vì mọi người đều tai nghe mắt thấy không thể chối cãi được. Vậy ai là thủ phạm đã giết cô gái và chôn ở chỗ Phật? Phật à? Không thể nào có chuyện đó xảy ra, đệ tử Phật cũng không thể nào làm như vậy.
Bọn người xấu lúc này lợi dụng thời cơ đem xác cô gái bỏ lên xe chở đi khắp thành Xá Vệ và rêu rao Sa môn Cồ đàm đã bức tử cô gái. Sự việc xảy ra quá bất ngờ làm cho vua Ba Tư Nặc không biết giải quyết ra sao. Ông biết rõ đức Phật trước kia là thái tử Sĩ Đạt Ta có vợ là hoa hậu đẹp nhất thời bấy giờ và có cả hàng trăm cung phi mỹ nữ tuyệt đẹp mà vẫn từ bỏ hết để sống đời tu hành đơn giản. Nhà vua tin chắc đây là âm mưu sâu độc của bọn xấu ác vì lòng tham lam ích kỷ, ganh ghét tật đố mà làm nên chuyện tày trời để vu oan hủy nhục đức Phật.
Cuộc điều tra bắt đầu, nhà vua cho tung ra nhiều thám tử tài ba lỗi lạc có mặt khắp nơi để dò la tin tức. Bốn chúng đệ tử xuất gia và tại gia thì buồn rầu, lo lắng chờ đợi kết quả cuối cùng. Riêng bọn người xấu ác thừa dịp này rêu rao, tuyên truyền, tung tin việc cô gái do sa môn Cồ Đàm thất nhơn ác đức hãm hiếp rồi giết chết, chôn xác ngay Tịnh xá. Lúc này, những người hiểu biết đạo chỉ biết trông chờ kết quả điều tra để minh oan cho Phật. Người không hiểu đạo thì nguyền rủa đức Phật sao mà quá tàn ác, nhẫn tâm. Kẻ bêu rếu, người chửi bới làm náo loạn khắp cả thành Xá Vệ.
Lệnh khẩn cấp được ban hành giới nghiêm 24/24, toàn thể chư Tăng đều phải ở yên một chỗ, không ai được rời khỏi trú xứ cho đến khi nào điều tra được vụ án, nếu ai vi phạm sẽ bị xử trảm ngay. Một ngày trôi qua, hai ngày trôi qua nhưng vẫn không có tin tức gì sáng sủa. Nhiều người đang bất mãn, buồn chán, thất vọng, lo âu về sự thật quá phũ phàng. Từ xưa đến nay có bao giờ xảy ra vụ án mạng tày trời như thế. Nhưng trời đâu có hại người ngay, nhân quả rất công bằng, gieo gió thì gặt bão, giết người thì bị người giết lại. Đến ngày thứ ba thì ban chuyên án đã tìm ra manh mối để đem lại sự trong sạch cho Phật và giáo đoàn.
Ai hay tin cũng thở phào nhẹ nhõm và mừng thầm trong bụng vì đã qua cơn đại nạn. Số là bọn nghiện rượu sau khi giết cô gái xong đã nhận được số tiền lớn từ tay bọn xấu ác, do ăn chia không đồng đều nên trong lúc ăn nhậu chúng đã cãi cọ, tranh giành nhiều ít và bị quan quân phát giác, tóm cổ. Thế là cả bọn đều được đưa về cung chờ lệnh xét xử, bọn chúng sợ quá nên đã khai hết việc một số người ngoại đạo đã mướn họ giết cô gái để tẩy chay giáo đoàn của Phật. Vua tức giận quá cho người bắt ngay kẻ chủ mưu quăng liền vào hầm lửa thiêu sống, những tên giết mướn đều bị giam vào ngục chờ lệnh xét xử sau.
Chuyện xảy ra như vậy mà Phật vẫn bình tĩnh, an nhiên, không mảy may dao động trước sự phao du hủy nhục quá nặng nề. Phật không hề đính chính hay minh oan mà vẫn âm thầm lặng lẽ chờ đợi kết quả hiện thực. Phật an nhiên, tự tại, bất động trước mọi biến động của cuộc đời nên ngày hôm nay ta thờ Phật, cung kính lễ lạy Phật vì nhân cách siêu phàm vượt Thánh của Ngài mà cố gắng bắt chước tu tập để vượt qua cạm bẫy cuộc đời trước Tám ngọn gió được-mất, khen-chê, danh thơm-tiếng xấu và khổ-vui.
Đức Phật bình đẳng giáo hóa chúng sinh không biết mệt mỏi, không biết nhàm chán, không oán giận kẻ hại mình mà còn khoan dung độ lượng để cho họ có cơ hội cải tà quy chánh. Thứ đến, Ngài tùy căn cơ chúng sinh mà nói pháp thích hợp để giúp họ chuyển hóa nỗi khổ, niềm đau thành an vui, hạnh phúc. Bất kể là thành phần nào trong xã hội khi gặp Phật đều được lợi lạc, an vui.
Chính việc làm và hành động cao thượng của Phật đã để lại tiếng thơm muôn thuở cho đời, giúp chúng ta biết cách làm chủ bản thân mà sống bình yên, hạnh phúc. Hương thơm của các loài hoa có ngào ngạt cách mấy cũng không bằng hương thơm của người đức hạnh luôn bay ngược chiều gió để lại cho đời bằng trái tim yêu thương và hiểu biết. Trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ, người hiểu biết thì ít mà kẻ thấy biết sai lầm thì lại quá nhiều. Xã hội ngày càng thêm phức tạp về mặt quản lý, giáo dục tệ nạn xã hội và cách thức chuyển hóa tệ nạn để con người ý thức được cuộc sống này cần phải có tình thương yêu nhân loại mới có thể cùng nhau vượt qua cạm bẫy cuộc đời.
Học chuyện xưa để ta thấy con người vì si mê chấp ngã cho mình là trung tâm của vũ trụ, là đấng tối cao, là đấng bề trên nên có quyền ăn trên ngồi trước mà hưởng thụ lạc thú trần gian. Chính vì những sai lầm đáng tiếc này mà từ khi con người có mặt trong cuộc đời đã tương tàn, tương sát lẫn nhau để tranh danh đoạt lợi. Lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu theo quy luật vay trả, trả vay. Vì bảo tồn mạng sống cho mình mà ta đành lòng giết hại lẫn nhau.
Thế giới loài người từ khi có mặt trong bầu vũ trụ bao la này vì miếng ăn, sự sống mà chiến tranh chẳng khi nào thôi dứt do không giữ được 5 Giới của nhà Phật. Con người càng phát triển và tiến bộ nhiều chừng nào thì thiên nhiên, tài nguyên, cho đến các loài vật bị hủy diệt một cách tàn độc, dã man đến đó vì chén cơm manh áo loài người. Phật vì lòng từ bi thương xót chúng sinh còn đang lặn hụp, đắm chìm trong biển khổ sông mê nên Ngài từ bi thương xót chế ra 5 Giới nhằm giúp con người giảm bớt tệ nạn xã hội mà cùng yêu thương đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần chia vui sớt khổ.
_ Ta không giết hại, không ăn thịt chúng sinh, không làm khổ một ai thì thế giới này cùng vui sống hòa hợp với nhau và hòa bình sẽ có mặt khắp mọi nơi.
_ Ta không gian tham, trộm cướp, lường gạt của ai mà còn hay san sẻ, giúp đỡ mọi người khi cần thiết với tinh thần từ bi và trí tuệ thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc.
_ Ta vui vẻ chung thủy sống một vợ một chồng, luôn giữ lòng thành thật, biết cảm thông và tha thứ cho nhau; biết gánh vác, siêng năng làm việc hỗ trợ lẫn nhau; biết nuôi dạy con cái đúng cách và biết cung kính hiếu dưỡng với ông bà cha mẹ thì cõi cực lạc sẽ hiện tiền.
_ Ta luôn nói lời thành thật, không nói dối gạt nhau; luôn nói lời nhẹ nhàng, dễ nghe; không nói lời hằn học, mắng chửi, móc họng, mạt sát hay lời ngon tiếng ngọt để dụ dỗ người nhẹ dạ, cả tin và lời gian dối dua nịnh. Hãy nên nói lời yêu thương để ta và người cùng biết cảm thông, tha thứ, khoan dung và độ lượng.
_ Ta không dùng các chất say sưa có tác dụng gây nghiện như xì ke, ma túy, rượu chè be bét làm tổn hại thần kinh dẫn đến quả si mê, điên dại đời này, đời sau. Ai giữ được 5 Giới nhà Phật thì sống một đời an ổn và bình yên, hạnh phúc mà không làm đau khổ cho người và vật.
Trong thời Phật còn tại thế, một vị tỳ kheo đem lời ác hủy nhục hai tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Phật biết được nguyên nhân sâu xa của nó nên đã khuyên dạy, ngăn cản nhiều lần mà vị tỳ kheo ấy vẫn không nghe. Do nhân phỉ báng, hủy nhục hai vị Thánh tăng nên một thời gian sau vị tỳ kheo ấy bị bệnh ung nhọt đầy mình hành hạ đau nhức, khốn khổ và cuối cùng bị chết.
Phật biết vị tỳ kheo này sau khi chết bị đọa địa ngục chịu khổ báo vô số kiếp nên mới họp chúng mà chỉ dạy rằng: “Người si mê chết vì phát ngôn bừa bãi giống như búa bén để trong miệng, thế nên các thầy phải nên thận trọng trong lời nói. Nói đúng chỗ, đúng nơi, đúng sự thật và đúng đối tượng thì họa may mới tránh được những lỗi lầm đáng tiếc. Lời nói ác độc hại hơn lửa dữ, hơn rắn độc, làm cho nhân loại giết hại lẫn nhau không thương tiếc bởi sự nóng giận, thù hằn mà ra”.
Vì sao chúng ta hay nóng giận để rồi cãi vã, đánh đập nhau đến nỗi vợ chồng ly tán, cha con xa lìa vì những chuyện vô cớ đâu đâu. Chúng ta không chịu mở mắt ra mà quán xét cho kỹ trong khi lời nói như gió thoảng qua tai. Ta tranh nhau từ lời ăn tiếng nói, từ miếng cơm manh áo mà vô tình làm khổ đau cho nhau.
Phật nói bài kinh này nhằm nhắc nhở các vị tỳ kheo hãy ý thức việc tu hành mà điều phục nhiếp tâm từ ý nghĩ, lời nói cho đến hành động. Ta phải nói như thế nào để gia đình, người thân, bè bạn cùng thấm nhuần lời Phật dạy mà cùng nhau yêu thương, nói lời hòa kính. Vị tỳ kheo đó có phước duyên ra đời gặp Phật, được xuất gia tu hành nhưng không tranh thủ thời gian để gạn lọc tâm tư mà cứ một bề chấp trước, bám víu vào những cái thấy biết sai lầm của mình nên vô tình phỉ báng bậc Thánh; được Phật khuyên răn rất nhiều lần nhưng vị đệ tử này vẫn một bề ngoan cố, do đó bị khổ báo ngay hiện đời chịu thân mình ghẻ lở, cuối cùng khi chết bị đọa vào địa ngục.
Việc tu hành của chúng ta cũng vậy, trước tiên ta phải nhiếp phục ý nghĩ, không cho nó âm ỉ sôi sục bên trong mà phát ra lời nói ác độc cùng lời nói hủy nhục. Nguyên nhân chính từ sự bực tức hay không hài lòng, vừa ý một việc gì đó nên ta mất bình tĩnh mà điên tiết nói những lời cuồng nộ.
Ngày xưa vẫn có những thầy tỳ kheo tu hành chểnh mãng như vậy và đã được Phật trực tiếp khuyên nhủ, chỉ dạy nhưng vẫn không chịu sửa đổi để rồi cuối cùng phải chịu quả báo sống khổ, chết đọa. Ngày nay cách thời Phật đã quá xa nên xảy ra việc đấu tranh kiên cường để tranh hơn tranh thua bảo vệ Tông môn Pháp phái. Ai cũng cho rằng Pháp mình cao còn Tông kia thấp nên dễ dàng chống đối, phỉ báng lẫn nhau.
Chúng ta không biết rằng lời Phật dạy là tùy bệnh cho thuốc, tùy theo căn cơ, trình độ và sở thích của mỗi người mà Phật hướng dẫn Pháp tu thích hợp. Sở dĩ ta nói lời nóng giận vì ta lầm chấp mình đúng, người sai. Ai không làm theo ý mình thì ta bực bội, tức tối rồi sinh ra thù hằn, ghét bỏ mà tìm cách hủy nhục lẫn nhau. Từ sự thấy biết sai lầm mà ta cố chấp, người trước nói thế nào thì người sau bắt chước làm vậy nên mới có sự chê bai, hủy nhục lẫn nhau mà vô tình phỉ báng lời Phật dạy.
Cho nên, sống ở đời chúng ta cần phải sáng suốt nhận định đúng sai mà làm chủ bản thân để vượt qua cạm bẫy cuộc đời. Lúc này, Phật đã được giải oan nhưng vẫn khuyên vua: “Đại vương! Do bị sai sử bởi tham lam, sân hận và si mê, ba thứ tâm độc này đã làm lu mờ bản tính thanh tịnh của con người. Xin đức vua hãy giảm nhẹ tội cho họ để họ có cơ hội được ăn năn hối cải và làm mới lại chính mình”. Vua càng cảm kích trước tấm lòng vô ngã vị tha của Phật, nhờ đó uy tín của Phật và Tăng đoàn ngày càng lan xa hơn, tín tâm của mọi người tu theo đạo Phật càng thêm vững chắc.
Tham lam, sân hận, si mê, ganh tị là ba thứ được chất chứa sau bao nhiêu kiếp của chúng sinh. Tham lam và dính mắc vào sự cung kính, lợi dưỡng nên ta không đành lòng chia sẻ quyền lợi cho người khác dẫn đến thù hằn, ghét bỏ. Chúng ta không chịu chia sẻ quyền lợi nên tâm từ bi bị thui chột, không chịu vui với quyền lợi người khác có được nên tâm hỷ của chúng ta không được rộng mở.
Thích Đạt Ma Phổ Giác
Trích từ: Đạo Phật Ngày Nay
Sưu tầm: Hanh Nghiêm
Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015
Bộ Não - Cơ Quan Có Nhiều Quyền Lực Nhất
Bộ não tuy chỉ nặng có khoảng 3kilogam nhưng là cơ quan quyền lực lớn nhất của cơ thể. Nó được cấu tạo bằng chất liệu tương tự như chất keo đặc và gồm 3 phần chính:
- Đại não chiếm đa số thể tích của hộp sọ. Nhiệm vụ của nó là giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến trí nhớ, suy tư và cảm xúc, đồng thời cũng điều khiển cả vận động.
- Tiểu não nằm ở phía sau đầu, bên dưới đại não, nó điều khiển sự phối hợp và thăng bằng.
- Cuống não nằm dưới đại não ngay phía trước tiểu não. Nhiệm vụ là nối não bộ với tủy sống và kiểm soát các chức năng tự động chẳng hạn như hô hấp, tiêu hóa, nhịp tim và huyết áp.
1. Được nuôi dưỡng bởi các mạch máu
Mạch máu nuôi dưỡng bộ não
2. Bộ não được nuôi dưỡng bằng những mạng mạch máu phong phú nhất của cơ thể.
Với từng nhịp tim, các động mạch mang khoảng 20 tới 25% lượng máu cơ thể lên bộ não, nơi có hàng tỉ tế bào sử dụng 20% lượng oxy và năng lượng trong máu mang tới.
Khi đang tập trung suy nghĩ, bộ não có thể dùng tới 50% năng lượng và oxy.
Toàn bộ mạng lưới mạch máu ngoài các động mạch, còn bao gồm cả tĩnh mạch và các mao mạch
3. Vỏ não: "Các nếp nhăn tư duy"
Các nếp nhăn tư duy
Bề mặt bộ não có nhiều nếp cuộn gấp đó là lớp vỏ ngoài chuyên biệt hóa của đại não gọi là vỏ não. Các nhà khoa học đã “vẽ bản đồ” vỏ não bằng cách nhận dạng những vùng có mối liên kết chặt chẽ với các chức năng đã được xác định.
Các chức năng đặc biệt của từng phần ở vỏ não:
- Nhận biết các cảm giác của cơ thể, thị giác, thính giác và khứu giác đối với môi trường bên ngoài.
- Tạo ra tư duy, giải quyết các vấn đề và lập kế hoạch.
- Tạo ra và lưu trữ vào ký ức.
4. Điều khiển các chức năng tự động.
Thế giới thực của bộ não diễn ra trong các tế bào riêng lẻ. Não người trưởng thành chứa khoảng 100 tỉ tế bào thần kinh, hay còn gọi là nơron, với các nhánh, nối kết tại hơn 100 tỉ điểm. Các nhà khoa học gọi cái mạng lưới đâm nhánh chằng chịt này là "rừng tế bào thần kinh".
Các tín hiệu di chuyển qua rừng thần kinh tạo nên cơ sở của trí nhớ, tư duy, và cảm xúc.
Các tế bào thần kinh là loại tế bào chính bị phá hủy trong bệnh Alzheimer's.
5. Mã hóa tế bào
100 tỉ tế bào thần kinh… 100 tỉ tỉ khớp nối thần kinh… hàng chục chất dẫn truyền thần kinh… Sức mạnh “trong những con số này ” cung cấp những nguyên liệu thô cho bộ não. Qua thời gian, những kinh nghiệm của chúng ta tạo nên những vùng về dạng và cường độ của tín hiệu. Những vùng hoạt động này giải thích cơ chế bằng cách nào, ở mức độ tế bào, bộ não mã hóa các tư duy, trí nhớ, kỹ năng và cảm giác về bản thân của chúng ta.
Hình ảnh phân tích chụp cắt lớp hình ảnh phát xạ hạt nhân (PET) trên bán cầu não trái thể hiện các vùng đặc trưng của hoạt động não gắn liền với:
- Đọc hiểu chữ viết
- Nghe hiểu tiếng nói
- Tư duy qua lời nói
- Phát ngôn bằng lời nói
Hoạt động nhiều nhất ở các vùng màu đỏ và sau đó giảm dần đến các màu khác trong dải sắc cầu vồng và lần đến xanh - tím.
Các vùng hoạt động đặc trưng biến đổi suốt cả cuộc đời khi chúng ta gặp gỡ những người mới, có những kinh nghiệm mới và tiếp thu các kỹ năng mới. Các vùng cũng biến đổi khi mắc bệnh Alzheimer hay bệnh lý có liên quan phá hủy tế bào thần kinh và các liên kết của chúng với các tế bào khác.
Nguồn: Benh.vn
Sưu tầm: Hanh Nghiêm
Thứ Ba, 6 tháng 10, 2015
Truyện Kiều và Ca Dao
Kiều
là một tuyệt tác được lưu truyền rộng rãi khắp nước ta, không chỉ được
các nhà nghiên cứu hay học giả ca ngợi; mà Truyện kiều còn đi sâu vào
tâm hồn của giới bình dân. Chính vì thế mà giữa Truyện Kiều và Ca Dao có
sự ràng buộc, sự tương thông hiếm thấy trong các tác phẩm Thi ca của
Việt Nam.
Khi đọc Kiều, chúng ta thấy có rất nhiều câu ca dao, cũng như trong ca dao có rất nhiều câu đề cập đến các nhân vật trong Kiều.
1- Nhân Vật Truyện Kiều Trong Ca dao
Những nhân vật vật trong truyện Kiều, đã được dùng làm đối tượng so sánh trong ca dao.
Gặp gỡ, tỏ tình:
Con cá trừng Đông Ngô
Lâu Hớn mới gặp Hồ
Tỷ như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều
Tỷ như Kim Trọng gặp cô Thúy Kiều
Bạc với vàng còn đeo còn đỏ
Đôi đứa mình còn nhớ thương nhiều
Nghe tiếng em,
Anh muốn như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa
Đôi đứa mình còn nhớ thương nhiều
Nghe tiếng em,
Anh muốn như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa
Bây giờ tôi mới gặp tình
Khác gì Kim Trọng, thanh minh gặp Kiều
Khác gì Kim Trọng, thanh minh gặp Kiều
Lòng dặn lòng ai đổ đừng xiêu
Ví như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa.
Ví như Kim Trọng Thúy Kiều thuở xưa.
Sông Tiền Đường cá lội giao đuôi,
Kiều thương Kim Trọng giả như tui thương mình.
Kiều thương Kim Trọng giả như tui thương mình.
Chia ly:
Sen xa hồ, sen khô sen cạn
Liễu xa đàng liễu ngã liễu nghiêng .
Anh xa em như bến xa thuyền
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi
Liễu xa đàng liễu ngã liễu nghiêng .
Anh xa em như bến xa thuyền
Như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi
Dứt tình kẻ ở người đi
Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều.
Cũng như Kim Trọng biệt ly Thúy Kiều.
So sánh tình yêu:
Chỗ anh thương ít
Sao anh xít ra nhiều
Anh hổng coi Từ Hải
Thương nàng Kiều mấy năm?
Sao anh xít ra nhiều
Anh hổng coi Từ Hải
Thương nàng Kiều mấy năm?
Chê người bội bạc:
Tui ra chợ mua đường thốt nốt
Tui mua cân bột cùng gói đậu xanh
Tui về nấu chè trôi nước đặt lại tên anh
Để cho trong trào ngoài quận
Biết tiếng thằng Sở Khanh điếm đàng
Tui mua cân bột cùng gói đậu xanh
Tui về nấu chè trôi nước đặt lại tên anh
Để cho trong trào ngoài quận
Biết tiếng thằng Sở Khanh điếm đàng
Chồng muốn có vợ hai
Anh mà bắt chước Thúc Sinh,
Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư!"
Thì anh đừng trách vợ mình Hoạn Thư!"
2- Ca Dao trong Truyện Kiều
Trong Kiều, cụ Nguyễn sử dụng khá nhiều ca dao, hoặc sửa đổi chút ít.
- Kiều : Phần mở đầu
Câu 3 Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Ca dao:
Trải qua một cuộc bể dâu
Nào người đế bá, công hầu là ai?
Nào người đế bá, công hầu là ai?
- Kiều : Trong dịp Thanh Minh, Kiều đã khóc, thương cho kiếp số Đạm Tiên:
Câu 85 - Phủ phàng chi bấy hoá công
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.
Ca dao:
Con cò lặn lội bờ sông
Ngày xuân mòn mỏi má hồng phôi pha.
Em về giục mẹ cùng cha
Chợ trưa, dưa héo nghĩ mà buồn tênh.
- Kiều: Sau khi gặp Kiều; về nhà, Kim Trọng tơ tưởng
247 - Sầu đông càng lắc càng đầy
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê
Ca dao:
Sầu đông càng khắc càng chầy,
Ba thu luận lại một ngày dài ghê.
Ba thu luận lại một ngày dài ghê.
259 - Bâng khuâng nhớ cảnh, nhớ người,
Nhớ nơi kỳ ngộ chẳng rời chân đi
Ca dao:
Ai về Quảng Cái sang sông
Viếng chùa Non Nước tiên bồng bạn ơi
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân vô
Viếng chùa Non Nước tiên bồng bạn ơi
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân vô
- Kiều: Kiều và Kim mơ kết nghĩa trăm năm
453 - Chén hà sánh giọng quỳnh tương
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng
Ca Dao
Chén ngà sánh giọng quỳnh tương
Mời chàng nho sĩ văn chương bước vào
Mời chàng nho sĩ văn chương bước vào
- Kiều: Kiều bị bán vào lầu xanh, toan tự tử, Tú Bà hết lời khuyên
1011 : Người còn thì của hãy còn
Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà
Ca dao:
Người còn thì của cũng còn
Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi
Miễn là nhân nghĩa vuông tròn thì thôi
Kiều: Thúc Sinh (Thúc Kỳ Tâm) năn nỉ Thúc Ông cho Kiều tiếp tục chung sống với mình, nhưng Thúc Ông không đồng ý
1397: Trót vì tay đã nhúng chàm
Dại rồi còn biết khôn làm sao đây
Ca dao
Lỡ tay trót đã nhúng chàm
Dại rồi mới biết khôn làm sao đây!
Dại rồi mới biết khôn làm sao đây!
Kiều: Kiều tiễn Thúc Sinh về nhà
1525 : Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường
Ca dao
Vừng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường
Kiều : Hoạn Thư dùng thuốc mê bắt Kiều về làm nô tỳ, Kiều không chịu bị đánh đập tàn nhẫn. Bà quản gia thấy thương tình khuyên nhủ.
1755 - Ở đây tai vách mạch rừng,
Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi
Ca dao
Ở đây tai vách mạch rừng
Người trong chưa rõ người ngoài đã hay.
Người trong chưa rõ người ngoài đã hay.
Kiều : Hoạn Thư đưa Kiều vào Quan Âm Các chép kinh, Thúc Sinh khuyên Kiều nên trốn để tránh Hoạn Thư hành hạ.
2019 - Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Ca dao
Phận bèo bao quản nước sa,
Linh đinh đâu nữa cũng là linh đinh.
Phận bèo bao quản nước sa,
Linh đinh đâu nữa cũng là linh đinh.
Kiều: Kiều gặp Giác Duyên, được Giác Duyên gởi cho một phật tử là Bạc Bà, Bị bà ép lấy cháu là Bạc Hạnh và bán vào lầu xanh.
2117 - Thiếp như con én lạc đàn,
Phải cung rày đã sợ làn cây cong.
Phải cung rày đã sợ làn cây cong.
Ca dao
Thiếp như con én lạc đàn,
Thấy cung mà sợ phải phàn mấy cung.
Thiếp như con én lạc đàn,
Thấy cung mà sợ phải phàn mấy cung.
Kiều : Cụ Nguyễn nêu lên cái nhìn của mình trong cuộc sống của con người nơi phần cuối của truyện Kiều
3247 - Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Ca dao
Khen ai sao khéo đặt bày,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
...và còn rất nhiều, nhưng với hiểu biết còn nông cạn, nên chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số ít ra đây.
Qua
những thí dụ trên, chúng ta thấy rất rõ giữa Ca dao và truyện Kiều của
thi hào Nguyễn Du ảnh hưởng và giao hoà với nhau thật tuyệt diệu. Một
số người cho rằng những câu ca dao này có nguồn gốc từ truyện Kiều,
nhưng cũng có quan điểm cụ Nguyễn đã mượn trong Ca Dao đưa vào tác phẩm
của mình.
Ai
đúng ai sai không quan trọng, điều quan trọng là chính sự tương quan
rất sâu sắc với ca dao; mà truyện Kiều ngày càng đi sâu vào giới bình
dân, biến Kiều trở thành một tác phẩm đại chúng.
Huỳnh Hữu Đức
....
Thứ Hai, 5 tháng 10, 2015
Đức Phật Trong Cái Nhìn Của Các Nhà Khoa Học
"Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". (Albert Einstein)
1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật
Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức]
Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi Đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi Đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan]
Ðiều đáng chú ý nhất nơi Đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"]
Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells]
Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman]
2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật
Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"]
Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, Đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của Đức Phật"]
Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, Đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis]
Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức]
Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France]
Sự khác biệt giữa Đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào]
Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời "không". Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer]
Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của Đức Phật. [- Tổng thống Nehru]
3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại
Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và ,hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru]
Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cửu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương]
Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi Đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]
Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài.. [- Một học giả Hồi Giáo]
Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của Đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]
Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"]
4. Giáo pháp của Đức Phật
Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật tử đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời.[-Tiến Sĩ Graham Howe]
Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào - hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara]
Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này.. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"]
Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt]
Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương]
Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"]
Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids]
Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well]
Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"]
Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"]
"Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học"…. "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein]
Trích từ: Đạo Phật Ngày Nay
Sưu tầm & chuyển ngữ: Giác Đẳng
Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015
Tiến Trình Tu Chứng Của Đức Phật
Ni Sư Thích Nữ Triệt Như
Từ Nguồn Thiền Tánh Không
Từ Nguồn Thiền Tánh Không
Sưu tầm: Tuệ Nghiêm
Thứ Năm, 1 tháng 10, 2015
Tiển Hạ Đón Thu
Bạn có biết mùa thu đang đi tới
Có nghĩa rằng mùa hạ phải qua mau
Những oi bức, những muộn phiền, bực bội
Cũng trôi theo dòng nước chảy qua cầu.
Gió sẽ thổi và mây chiều sẽ tản
Hết đêm rồi thì ngày thản nhiên lên
Cơn nắng hạ đã úa màu năm tháng
Tiếng thu về lác đác ở ngoài hiên.
Mùa thu đến mang cơn mưa dịu mát
Tưới tẩm đời đang cháy bỏng từng giây
Khi tâm tưởng đã bình yên một cõi
Thì nắng đời là phẩy nhẹ bàn tay.
Hàn Long Ẩn
Chùa Thiên Trúc, California
24/08/2015
Theo hoavouu.com
Sưu tầm: Trí Nghiêm
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









