Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Thu Dạ Tức Sự (Phạm Tông Ngộ)


   秋夜即事                 Thu Dạ Tức Sự
              范宗悟                        Phạm Tông Ngộ *            
破屋看星夜未央, Phá ốc khan tinh dạ vị ương
簫簫四璧遶寒螿。 Tiêu tiêu tứ bích nhiễu hàn tương.
青燈對影雙蓬鬢, Thanh đăng đối ảnh song bồng mấn,
黃卷論心一炷香。 Hoàng quyển luân tâm nhất chú hương
風送秋聲隨樹遠, Phong tống thu thanh tuỳ thụ viễn
月分夜氣入窗涼。 Nguyệt phân dạ khí nhập song lương.
羈懷冷卻渾無事, Ky hoài lãnh khước hồn vô sự
時聽庭梧落曉霜。 Thời thính đình ngô lạc hiểu sương.

Dịch Nghĩa :  Chuyện Đêm Thu


Ở trong ngôi nhà rách nát, nhìn sao chưa qua nửa đêm.
Quanh bốn tấm vách, vang tiếng côn trùng thở than
Bên ngọn đèn xanh, đối diện với bóng, hai mái tóc rối bù
Châm chú vào quyển sách cũ vàng bên một thẻ nhang
Gió tiễn tiếng thu theo đám cây từ xa
Trăng hắt hơi đêm vào cửa sổ nghe mát mẻ
Nơi quê người với cõi lòng lạnh vắng, chán nản, không còn tha thiết đến chuyện gì
Thỉnh thoảng nghe từ cây ngô đồng ngoài sân giọt sương ban sớm rơi.

Dịch Thơ: 


       Đêm Thu Tức Cảnh
Đêm khuya vắng nhìn sao mái rách ,
Dế tỉ tê than trách bên tường .
Cùng đèn đối bóng tóc sương ,
Bên chồng sách cũ nhan hương nao lòng .
Tiếng thu vẳng reo trong rừng thẳm ,
Trăng mơ màng , hơi lẩn vào song .
Tha hương buốt giá tâm hồn ,
Cành ngô sương điểm mênh mông sân ngoài
                                   Mailoc phỏng dịch
*** 
     Chuyện  Đêm Thu
Mái lủng nhìn sao đêm mới nửa
Quanh nhà tiếng dế não nùng than
Bên đèn đối bóng hai đầu bạc
Trước sách chuyên tâm một thẻ nhang
Thu đến rừng cây trong tiếng gió
Đêm len song cửa lạnh trăng tàn
Quê người buồn bả lòng ngơ ngẩn
Sương sớm sân ngoài từng giọt tan

                                  Quên Đi


* Phạm Ngộ 范悟 cũng thường gọi là Phạm Tông Ngộ 范宗悟 hiệu Liêu Khê, sinh và mất năm nào chưa rõ. Người hương Kính Chủ huyện Giáp Sơn, phủ Tân Hưng, nay thuộc tỉnh Hải Hưng, là anh em ruột của Phạm Mại. Ông nguyên họ Chúc tên Kiên sau vì vua Trần Nhân Tông cho rằng họ Chúc không phải là họ lớn nên đổi làm họ Phạm. Còn Kiên thì lại trùng với tên của Phán thủ Huệ Nghĩa nên đổi làm Ngộ. 
Pham Ngộ tính tình ngay thẳng, làm quan nổi tiếng thanh liêm. Bắt đầu vào triều với chức Thị nội học sinh, dưới triều Trần Minh Tông (1314-1329) ông giữ chức Tri thẩm hình viện sự, sau được thăng Tả ty lang trung rồi lại thăng Tri chính sự, đồng tri thượng thư tả ty sự.

Về thơ văn, sáng tác của Phạm Ngộ hiện còn rất ít, tuy vậy cũng có thể nhận ra ở ông một ngòi bút tả cảnh và trữ tình tinh tế, một thi vị man mác của người hiểu rõ ý nghĩa cuộc đời. Thơ ông rất cô đọng, nhiều ý ít lời. 

Tác phẩm: hiện còn 8 bài thơ, chép trong các bộ hợp tuyển. 

***
Theo huynhhuuduc.blogspot.com

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Bác Sĩ, Ni Sư Liên Thanh nhập thế cứu người



Cách đây hơn 40 năm về trước, một sư cô đi hành khất, trong lúc di tản dưới làn mưa đạn nơi một vùng chiến tranh ác liệt của miền Trung bèn ghé vào trú tại một ngôi miếu hoang ở Quảng Trị. Nghe tiếng khóc của một em bé, sư cô đã đến cứu em bé mới vài tháng tuổi bị bỏ rơi.

Em bé được mang về chùa để chăm sóc đồng thời đặt tên là Nguyễn Kim Anh. Sư cô đã giảng về đạo, về đời, về thế nào là bể khổ, bi ai cùng hành thiện và nhiều triết lý nhà Phật sâu xa khác vào tâm hồn em bé Kim Anh. Em bé Kim Anh đó sau này trở thành sư cô Thích nữ Liên Thanh. Sư cô thông minh, học thành tài và trở thành một bác sĩ giỏi.

Năm 2010, sư cô vào khoảng 43 tuổi. Đến bây giờ sư cô cũng không hề biết rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán của mình. 

Sư cô tâm sự là bà học được nhiều điều nhân ái trong đạo và nhiều triết lý nhà Phật. Sư cô tự nhủ sẽ làm điều gì đó thật có ý nghĩa để không phụ lòng những người đã cứu mạng và nuôi dưỡng. Bởi thế, trong những ngày ấu thơ, dù theo chân thầy hành đạo khắp nơi, việc học hành gặp nhiều cản trở, nhưng sư cô vẫn gắng học và mơ ước trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho người nghèo khổ và bệnh tật, những người lang thang không nhà, không cửa và không có tiền chạy chữa. Sư cô đã vượt qua bể khổ, học được cả nghìn thứ trên đời, để rồi tự suy ngẫm và rút ra chân lý rằng nếu không có kiến thức thì sẽ không thể giúp được họ.

Sư cô nói việc học hành chủ yếu là học lỏm những người đi trước. Hồi sư cô thi đậu vào lớp 10 cũng là lúc sư thầy của bà nhận trụ trì chùa Trụ Yên ở một huyện ngoại thành Tp.HCM nên sư cô có cơ hội được theo học chính quy. Để đến trường, bà phải đi xe đạp 30km, mang theo mấy cuốn sách cũ, ít cơm nguội cùng muối vừng... Cực khổ là thế, nhưng năm nào sư cô cũng đạt danh vị học sinh giỏi. Sau khi tốt nghiệp lớp 12, thi đậu vào Khoa Tim mạch, Trường Đại học Y khoa Tp.HCM với số điểm rất cao. Sau 7 năm trời tốt nghiệp đại học và được nhận về công tác ở Khoa Tim mạch, bệnh viện Chợ Rẫy Tp.HCM.

Cùng thời điểm đó, sư cô tốt nghiệp Khoa Sử học Phật giáo, Trường Cao cấp Phật học Tp.HCM, và còn học thêm hai bằng Thạc sĩ (Master) là thạc sĩ Xã hội học và thạc sĩ Sử học Phật giáo.

Là một trong những sinh viên xuất sắc nhất của Đại học Y dược Tp.HCM nên sư cô được nhận học bổng sang Nhật Bản du học. Nhưng nặng tình với quê hương và những người đã cưu mang mình, và có lẽ cũng vì một nhân duyên nào đó nên sư cô quyết định từ chối đi du học, ở lại và học tập tại Việt Nam. 

Không phụ lòng mong mỏi của thầy cô, bạn bè, khi đang tiếp tục theo học tại Đại học Y dược Tp.HCM, sư cô là 1 trong 5 sinh viên xuất sắc được nhận học bổng của Nhật Bản tài trợ. Với tư chất thông minh, sư cô đã sử dụng số tiền học bổng để mua một đồn điền cà phê tại địa bàn tỉnh Đắk Nông với niềm tin: “Những cây cà phê sau một thời gian được chăm bón sẽ đơm hoa, kết trái. Thành quả đó có thể chuyển hoá được thành những viên thuốc quý để giúp đỡ những bệnh nhân nghèo không có tiền chữa bệnh sau này.” 



Có trong tay nhiều bằng cấp như thế, nhiều người nghĩ sư cô sẽ có vị trí làm việc cao trong xã hội nhưng sư cô xin chính quyền lên vùng sâu, vùng xa lập nghiệp. Duy chỉ có thầy trụ trì chùa Trụ Yên là không nói gì, có lẽ thầy trụ trì đã hiểu tâm ý sâu xa của người đệ tử ngộ đạo.

Thời điểm đó, tỉnh Bình Dương có chính sách kêu gọi nhân tài, sư cô Liên Thanh tâm sự: Nếu làm việc tại Bệnh viện Chợ Rẫy thì sẽ chỉ phục vụ được một số đối tượng nhất định đến bệnh viện mà thôi. Chính vì vậy, sư cô đã “bỏ phố lên rừng”, làm đơn xin về chùa Long Bửu, một ngôi chùa nằm hẻo lánh bên những cánh rừng cao su hun hút gió. Chùa được xây dựng khá lâu, thiếu người trông coi nên bị xuống cấp nghiêm trọng, hoang vắng và rêu phong dột nát.

Với quyết tâm, sư cô Liên Thanh đã thành lập một Phòng khám bệnh đa khoa từ thiện trên khuôn viên chùa Long Bửu để chữa bệnh miễn phí. Bước đầu gặp vô vàn khó khăn, thiếu tiền bạc, thuốc men, nhưng người dân cảm mến nên đã cùng sư cô gây dựng một phòng khám dành cho người nghèo trong chùa. 

Sau đó cơ sở gồm 5 khu vực: Tây y (gồm các khoa nội, ngoại, tổng quát, tim mạch, sản, tai - mũi - họng, vật lý trị liệu...); Xét nghiệm (chẩn đoán); Đông y; Dinh dưỡng (bếp ăn tình thương) và An dưỡng (dành cho chư tôn đức tăng ni.)

Với gương mặt phúc hậu, sư cô ngày thì khoác áo blouse trắng, ban đêm lại khoác áo cà sa của vị chân tu, nhưng, dù mặc áo gì chăng nữa thì "cô tiên" ấy chỉ làm việc nhân nghĩa ở đời tại một bệnh viện, mà nói đúng hơn là ngôi chùa mới phải.

Sư cô tâm sự là có hạnh nguyện đem sở học của mình để chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, làm một chiến sĩ từ thiện xã hội, chữa trị tâm bệnh và thân bệnh cho chúng sinh. Bà nhận thấy, y phương minh (trong ngũ minh) là phương thức thực hành công tác xã hội rất thích hợp với lòng từ bi, là phương cách thể hiện tinh thần cứu thế tích cực của đạo Phật vì chủ trương của đạo Phật là “từ bi hỉ xả”.

Cuối năm 1999, sư cô được giao trọng trách trụ trì chùa Long Bửu, kiêm Giám đốc Bệnh viện nhân đạo Long Bửu. Người dân trong vùng quen gọi bà là bác sĩ, sư cô, "cô tiên" của người nghèo. Sư cô nói: "Tôi đã chọn nghề bác sĩ để thiết thực xoa dịu nỗi khổ của những người nghèo khi đau yếu và những người già neo đơn khi bệnh tật. Chính giai đoạn người bệnh ở bờ vực "sinh tử", ánh mắt nhân ái, cử chỉ ân cần cùng tấm lòng từ bi của người bác sĩ mà cũng là nhà tu hành sẽ dễ dàng cảm hoá, đem đến sự bình an cho người bệnh".


Cũng thời gian đó, nhiều khu công nghiệp được quy hoạch xây dựng gần chùa, sư cô treo bảng khám bệnh miễn phí cho công nhân. Bệnh nhân đến đông, làm một mình không xuể, sư cô nhờ các đồng nghiệp ở bệnh viện Chợ Rẫy tiếp sức. Ban Giám đốc Bệnh viện 175 (Tp.HCM) đã luân phiên cử bác sĩ xuống chùa giúp đỡ vật chất, thuốc men và hỗ trợ kiến thức y học để nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh. 

Nhiều người đồng cảm, các mạnh thường quân khắp nơi tìm đến chùa giúp sức. Từ việc khám bệnh miễn phí cho bà con nghèo, phòng khám phát luôn cả thuốc chữa trị và cho họ cả những bữa ăn miễn phí. Tổ chức nhân đạo Agape Foundation của Thụy Điển hay tin, đã cử người sang tìm hiểu. Khi trở về nước, họ đã gửi trang thiết bị hiện đại như máy scan, x-quang... trị giá hàng triệu USD cho phòng khám. 

Sư cô Liên Thanh đã chia sẻ một phần thiết bị y tế cho các bệnh viện nghèo ở Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, Đồng Nai... Đến thời điểm này, Phòng khám Đa khoa từ thiện Long Bửu có hơn 20 phòng khám và điều trị bệnh, trang thiết bị không thua gì những cơ sở y tế khác, chỉ khác một điều là khám, chữa bệnh không lấy tiền. Mỗi ngày có khoảng 20 y, bác sĩ, hộ lý ở các bệnh viện lớn khác tình nguyện đến phục vụ bệnh nhân nghèo. Bên cạnh đó, sư cô Liên Thanh còn tổ chức phòng khám cổ truyền để châm cứu, chữa trị vật lý trị liệu cho những bệnh nhân già, đó là cách kết hợp phương pháp y học cổ truyền và y học hiện đại, một cách điều trị có hiệu quả với người dân nghèo.

Từ năm 2002 đến 2009, sư cô Liên Thanh cùng các y sĩ, bác sĩ ở đây đã khám, phát thuốc miễn phí cho 200.000 bệnh nhân không chỉ trong tỉnh Bình Dương mà còn ở nhiều tỉnh thành trong nước. 

Đặc biệt, Phòng khám còn là chiếc cầu nối với nhiều tổ chức nhân đạo quốc tế như Apape Foundation (Thụy Điển), Long Bửu Charity Foundation (Úc), American Club (Hoa Kỳ) ... và nhận được sự giúp đỡ về kiến thức chuyên môn, thuốc men, trang thiết bị hiện đại. Cũng từ sự hỗ trợ của các tổ chức này, phòng khám đã tiếp nhận xe lăn, xe đẩy, xe trợ đi, giường inox... để trao tặng người khuyết tật ở 15 tỉnh, thành trong nước. 

Trong Đại hội nữ giới Phật giáo thế giới (Sakyadhita) lần thứ 11 tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo - Thành hội Phật giáo Tp.HCM từ ngày 28/12/2009 đến ngày 3/1/2010, Ni sư Thích Nữ Liên Thanh được đề cử phụ trách Tiểu ban Y tế. Bằng kinh nghiệm chuyên môn, Ni sư đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ tạo nên sự thành tựu viên mãn cho hội nghị.

Ni sư tổ chức những đoàn từ thiện đi thăm và phát quà cho trẻ em vùng sâu, vùng xa, trẻ mồ côi, người già neo đơn, gia đình chính sách. Được biết, tính riêng trong năm 2009, số tiền làm từ thiện của phòng khám lên đến gần 2 tỷ đồng (VN). Ngoài tấm lòng từ bi của Ni sư Liên Thanh, các y sĩ, bác sĩ ở đây đều làm việc bằng sự tự nguyện. Nếu ai không có cái tâm thì không thể trụ lại lâu ở đây, vì họ làm việc không lương, chùa có bồi dưỡng nhưng không đáng kể. Đã làm từ thiện thì phải dẹp bỏ tính toán về danh lợi, phải có tấm lòng và tinh thần phục vụ bệnh nhân.


Ni sư Thích Nữ Liên Thanh cùng các bác sỹ tại phòng khám 

Ni sư Liên Thanh đang xúc tiến làm thủ tục nâng cấp từ phòng khám lên bệnh viện nhân đạo có sức chứa khoảng 500 giường bệnh. Được biết, từ đầu năm 2010 đến nay, Ni sư đã tổ chức 4-5 đợt tặng quà, xe lăn, khám bệnh từ thiện cho người nghèo, trẻ em mồ côi, khuyết tật ở vùng sâu, vùng xa. Trong 5 năm qua, Phòng khám đa khoa từ thiện Long Bửu đã khám, điều trị, cấp thuốc miễn phí, tặng quà, tặng trang thiết bị y tế cho các cơ sở y tế với tổng trị giá trên 8,5 tỷ đồng (VN). Mong sao, ý tưởng xây dựng bệnh viện nhân đạo sớm trở thành hiện thực.

Nhằm góp phần để nhiều người nghèo được đón Tết Quý Tỵ an vui, ấm cúng, ngày 27.1 2013, Phòng khám Đa khoa từ thiện Long Bửu và các Mạnh Thường Quân phối hợp cùng Báo NTNN tổ chức trao quà Tết, khám chữa bệnh cho người nghèo, trẻ em tàn tật…Ni sư cho biết, có hơn 800 phần quà trao tận tay cho bà con, mỗi phần trị giá hơn 800.000 đồng (VN), gồm tiền lì xì, mì gói, gạo, đường, sữa, bánh mứt… Đặc biệt là các bác sĩ đang công tác ở nhiều bệnh viện lớn từ TP. HCM về tận nơi khám chữa bệnh và phát thuốc miễn phí cho bà con. Tổng kinh phí cho chương trình từ thiện này là gần 700 triệu đồng (VN).

Một cụ bà gần 80 tuổi nói: “Các bác sĩ khám bệnh rất tận tâm. Nghe các bác sĩ chỉ cách phòng bệnh tuổi già, tui cảm thấy nhẹ cả người, khỏe hẳn ra…” Ôm phần quà tết, một bác khác vui mừng nói: “Hôm nay lên đây, được các bác sĩ khám bệnh, phát thuốc, rồi được các cô chú tặng quà, tiền đầy đủ như thế này, tui cảm động lắm…” Các Mạnh Thường Quân tiếp tay đều có chung một tâm sự: “Ngay sau khi nghe Ni sư Liên Thanh kêu gọi ủng hộ Tết cho người nghèo, lập tức chúng tôi lên kế hoạch tiết kiệm chi tiêu và kêu gọi nhiều bạn bè ủng hộ. Chúng tôi rất vui vì được tận tay trao cho bà con những món quà nhỏ nhưng hết sức ý nghĩa này…” Một bác sĩ cho biết: “Mệt thì có mệt nhưng niềm vui lại nhân đôi bởi góp sức cho người nghèo an tâm đón Tết. Sang năm, tôi sẽ tiếp tục đồng hành với chương trình hết sức ý nghĩa này…”

Ni sư Thích nữ Liên Thanh là một người giàu từ tâm, có lòng bao dung với sự khả kính đã và đang cống hiến một cách hết sức hiệu quả những kiến thức cũng như chính sức lực của mình để góp phần mang lại hạnh phúc cho nhân loại. Có người làm thơ ca ngợi tâm nguyện cao cả của vị bác sĩ mặc áo cà sa này như sau:

“Nhẹ gót phong trần Người bước đi
Phố thành hoa lệ có màng chi
Quảy gánh lên vai ngàn hoa đạo
Chữ Tâm ngời sáng lửa từ bi.”


Tâm Minh Ngô Tằng Giao
Sưu tầm: Giới Nghiêm

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Ba Sắc Thái Biết


Ni Sư Thích Nữ Triệt Như
Từ Nguồn Thiền Tánh Không
Sưu Tầm: Tuệ Nghiêm

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Suy ngẫm: Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi



Phần lớn những kinh hiện nay chúng ta được biết chỉ xuất hiện rất lâu sau khi đức Phật Thích Ca nhập diệt. Như kinh Địa Tạng, Lương Hoàng Sám xuất hiện thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, có nghĩa là sau 800 năm.

Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi - Thích Minh Châu

Đức Phật nhấn mạnh hai điểm, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.

Một lần, khi đức Phật nhuốm bệnh ở Beluvà, trước sự lo âu buồn khổ của tôn giả Ananda (Trường III, trang 101), và một lần khác, trước tin tôn giả Sàriputta (Xá lợi Phất) đã mệnh chung và trước sự lo âu của tôn giả Ananda (A Nan) (Tương V, 170), đức Phật đã tuyên bố Lời dạy này, vừa là lời chỉ dạy tóm thâu mọi phương pháp tu hành của Ngài được cô đọng lại, và cũng là một lời trăn trối của một bậc Ðạo sư biết mình sắp lâm chung, nên có những lời nhắn nhủ và khích lệ đệ tử của mình những gì các đệ tử cần phải tu tập, sau khi bậc Ðạo sư viên tịch:

-- "Vậy nên này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (atta-dipà viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attàsaranà) chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác ...

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ kheo trú quán trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Trú quán thọ trên các cảm thọ ... trú quán tâm trên các tâm, trú quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Như vậy này Ananda, Tỷ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.

Này Ananda, những ai, hiện nay hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi".

Ở đây vì chữ Dipa vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo nên có thể dịch: Tự mình thắp đuốc lên mà đi, hay Tự mình xây dựng hòn đảo cho chính mình. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình.

Trong lời dạy đặc biệt quan trọng và hy hữu này, đức Phật nhấn mạnh hai điểm. Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy y tựa chính mình, không y tựa một ai khác. Hãy lấy chánh pháp làm ngọn đèn, hãy lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác. 

Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Thế Tôn dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài và cũng gói ghém trọn vẹn tất cả giáo pháp Ngài dạy trong suốt 45 năm thuyết pháp độ sinh của Ngài để truyền lại cho hàng đệ tử.

Thật vậy, chúng ta thấy rõ, trong hơn sáu năm tầm đạo, hành đạo và chứng đạo, Thế Tôn đã tự mình dùng nỗ lực cá nhân, đã tự mình tự lực tìm đạo, hỏi đạo với hai vị đạo sư ngoại đạo thời danh là Alara Kalama và Uddaka Ràmaputta, đã tự mình tự lực hành trì khổ hạnh, đã tự mình tự lực hành thiền, và cũng tự mình tự lực phát triển trí tuệ và cuối cùng thành đạo dưới gốc cây Bồ Ðề, thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. 

Ngài không nhờ một thần lực nào, không phải là hiện thân của một đấng thiêng liêng nào, không phải là hóa thân của một đấng tối cao nào. Ngài chỉ là một người, với sức mạnh thể lực và trí lực của con người, đã tự mình tìm đạo và tìm đạo thành công, đã tự mình hành đạo và hành đạo có kết quả, đã tự mình chứng đạo và chứng đạo hoàn toàn viên mãn, như chúng ta đã thấy rõ trong đời sống của Ngài, nếu chúng ta gạt bỏ qua một bên những thêm thắt về sau để thần thánh hóa đời sống của Ngài.

Ngài đã tự lực tìm đạo và học đạo và tự diễn tả như sau:
"Không phải chỉ Alara Kalama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin. Không phải chỉ Alara Kalama có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn. Không phải chỉ Alara Kalama có niệm, Ta cũng có niệm. Không phải chỉ Alara Kalama có định, Ta cũng có định. Không phải chỉ Alara Kalama có tuệ, Ta cũng có tuệ. 

Vậy ta phải cố gắng chứng cho được pháp mà Alara Kalama, sau khi tự tu, tự chứng, tự đạt đã tuyên bố. Rồi này các Tỷ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú" (Trung I, 164b).

Về sau tu khổ hạnh, Ngài cũng tự mình tự hành trì khổ hạnh như Ngài đã tự diễn tả:
"Vì Ta ăn quá ít, chân tay Ta đã trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, nên bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu ..." (Trung I, 80).

Ðức Phật sau khi hành trì khổ hạnh không có kết quả. Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu tự mình hành thiền, chứng được sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, phát triển tuệ trí, chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết như thật khổ, biết như thật các lậu hoặc, thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. 

Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa" (Trung I, 248). Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, tự mình từ bỏ khổ hạnh, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ, đức Phật chứng quả Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Ðối với bậc Ðạo sư đã dựa vào tự lực để tầm đạo, học đạo và chứng đạo, nên trong 45 năm hoằng pháp độ sinh, lời dạy chủ yếu của Ngài cho các đệ tử cũng là lời dạy tự lực tự tri: "Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác".

Trước hết, đức Phật xác nhận "cầu xin" và "ước vọng" không có lợi gì, không những trên con đường thực hành chánh pháp mà còn cả vấn đề ước vọng thế gian.

Kinh Tương Ưng, Tập IV, trang 313 nêu rõ:

"Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần chúng đông đảo đến cầu xin cầu khẩn chấp tay, mong rằng người ấy sẽ được sanh thiện thú, thiện giới. Sự cầu khẩn như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay cầu rằng tảng đá ấy sẽ được nổi lên. Sự cầu khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy, với sức nặng của nó, không thể nổi lên, không thể trôi vào bờ, như lời cầu xin của quần chúng ấy.

Trái lại, một người từ bỏ mười ác hạnh, làm mười hạnh lành, nếu có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng người ấy sẽ bị sinh vào địa ngục, đọa xứ, thời lời cầu xin ấy cũng không được thành tựu. 

Người ấy vẫn được sanh lên thiện thú, thiện giới, cõi người. Ví như một người nhận chìm một ghè dầu vào trong hồ nước rồi đập bể ghè dầu ấy, thời số dầu ấy sẽ nổi lên trên mặt nước. 

Dẫu cho có một quần chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn, chấp tay, cầu rằng số dầu ấy chìm xuống đáy nước. Lời cầu xin ấy tất nhiên không có kết quả, số dầu ấy vẫn nổi lên trên mặt nước. Như vậy, có cầu khẩn, có cầu xin cũng không có lợi ích gì".

Kinh Tăng Chi IIIA, trang 123 xác chứng thêm sự vô ích của cầu xin và cầu khẩn. Một vị Tỷ kheo không chú tâm trong sự tu tập, khởi lên ước muốn được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ, ước muốn ấy nhất định không được toại nguyện. 

Như con gà mái có tám, mười hay mười hai trứng gà, nó ấp ngồi không đúng cách, ấp nóng không đúng cách, ấp dưỡng không đúng cách, thời dầu cho con gà ấy có khởi lên ý muốn mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với miệng, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, con gà mái ấy cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì con gà mái không ấp ngồi một cách đúng đắn, không ấp nóng một cách đúng đắn, không ấp dưỡng một cách đúng đắn.

Ngược lại, một Tỷ kheo sống chú tâm trong sự tu tập, dầu không khởi lên ước muốn: "Mong rằng tâm Ta được giải thoát các lậu hoặc, không có chấp thủ", tuy vậy tâm vị ấy vẫn được giải thoát không có chấp thủ. Vì cớ sao? Phải nói rằng vị ấy có tu tập. Có tu tập gì? Có tu tập bốn niệm xứ, có tu tập bốn chánh cần, có tu tập bốn như ý túc, có tu tập năm cần, có tu tập năm lực, có tu tập bảy giác chi, có tu tập Thánh đạo tám ngành. 

Ví như con gà mái, có tám, mười hay mười hai trứng. Nó ấp ngồi một cách đúng đắn, nó ấp nóng một cách đúng đắn. Dẫu con gà ấy không khởi lên ước muốn, mong rằng các con gà con của nó, với chân, với móng, với mỏ, làm bể vỏ trứng và thoát ra một cách an toàn, các con gà con của nó cũng phá vỏ trứng và thoát ra ngoài một cách an toàn. Như vậy, có ước nguyện hay không ước nguyện không thành vấn đề. Vấn đề chính là có hành động đúng đắn, đúng pháp để đưa đến kết quả mong muốn mà thôi.

Một đoạn kinh nữa (Trung I, trang 303) càng nhấn mạnh sự vô ích của cầu xin. Nếu hành Phạm hạnh không chánh đáng, không làm sao đạt được quả vị. Hành Phạm hạnh không chánh đáng ở đây có nghĩa là theo tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Vì cớ sao? Vì đây không phải phương pháp để đạt được quả vị. 

Rồi Ðức Phật ví dụ người đi tìm dầu, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước ép cát cho ra dầu, thời dẫu người ấy có ước nguyện tìm cho ra dầu cũng không được toại nguyện. Vì cớ sao? Vì đây không phải là phương pháp tìm ra dầu. Ðức Phật dùng một ví dụ nữa, ý nghĩa hơn, là một người đi tìm sữa, đến một con bò cái, lại nắm lấy cái sừng con bò cái mà vắt sữa, thời dẫu có ước nguyện hay không ước nguyện, nó cũng không lấy được sữa.

Trái lại, nếu có vị sa môn hay Bà la môn nào, có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, hành Phạm hạnh sẽ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Vì đây là phương pháp đạt được quả vị. Ví như một người đi tìm dầu, sau khi để những hột dầu vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép các hột dầu cho ra dầu. 

Dù người ấy có ước nguyện hay không ước nguyện, cũng sẽ lấy được dầu. Vì cớ sao? Vì biết phương pháp làm ra dầu. Cũng ví như người đi tìm sữa, đến con bò cái, vắt sữa từ nơi vú con bò mới sanh con, thời dù có ước nguyện hay không ước nguyện cũng tìm ra được sữa.

Ðối với sự việc ở đời cũng vậy, không phải do cầu xin, do nhân ước nguyện mà thành tựu. Ðã là người, thường hay mong ước được năm điều khả lạc, khó tìm được ở đời như: tuổi thọ, dung sắc, an lạc, tiếng đồn tốt, và được sanh cõi trời. Trong Kinh Khả Lạc (Tăng IIB, trang 74), đức Phật nêu rõ năm điều pháp này không do nhân cầu xin, không do nhân ước vọng mà được, vì nếu có do nhân cầu xin, do nhân ước vọng mà có được, thời ở đời này còn có ai héo mòn vì một lẽ gì, khi mà chỉ cầu xin là được toại nguyện. 

Ðức Phật nói rất rõ: Muốn có thọ mạng không thể cầu xin thọ mạng hay tán thán thọ mạng để làm nhân đem lại thọ mạng. Vị Thánh đệ tử muốn có thọ mạng cần phải thực hành con đường đưa đến thọ mạng, đưa đến dung sắc, đưa đến an lạc, đưa đến tiếng đồn tốt, đưa đến sanh thiên, vị ấy mới thành tựu được, mới đạt được năm điều khả lạc mà mình ước muốn ở đời.

Trong định nghĩa của Nghiệp và vai trò của nghiệp đức Phật tuyên bố rất rõ chữ Nghiệp (Karma) có nghĩa là hành động, từ động từ Karoti nghĩa là làm, là hành động về thân, về lời và về ý, nhưng hành động ấy phải là hành động có từ tâm sở, tức là một hành động tự ý mình làm, tự mình quyết định làm, không ai xúi giục, không do ai sai bảo.

Vì đã là hành động tự mình ý thức làm, tự mình quyết định làm, nên đức Phật xác định chúng ta là chủ nhân của Nghiệp (Kammassako) chúng ta là thừa tự của Nghiệp (Kamma-dàyadà), chúng ta vừa chịu trách nhiệm những hành động của chúng ta, chúng ta vừa tự mình chịu kết quả các hành động của chúng ta làm. Kinh Pháp Cú nêu rõ:



"Ðiều ác tự mình làm, 
Tự mình sanh, mình tạo,
Nghiền nát kẻ ngu si,
Như kim cương ngọc quý". 
(Pháp Cú 16)

Một câu kệ nữa xác định rõ ràng hơn:

"Tự mình, điều ác làm, 
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh, không tịnh, tự mình,
Không ai thanh tịnh ai".
 (Pháp Cú 165)

"Tự mình chỉ trích mình, 
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ,
Chánh niệm trú an lạc".
(Pháp Cú 379)

Trong một bài kinh rất có danh tiếng, Kinh Kalamasutta (Tăng I, 213-216), đức Phật khuyên các đệ tử của Ngài hãy tin ở nơi mình, không tin một ai khác, tin ở nơi khả năng phán xét thiện ác của mình, chớ có tin vào một phương pháp nào khác:

-- "Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình. 

Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: 'Các pháp này là bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí chỉ trích, các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đết bất hạnh khổ đau. Thời này Kalama, hãy từ bỏ chúng' ... Nhưng này Kalama, khi nào tự mình biết như sau: 'Các pháp này là thiện. Các pháp này là không có tội. Các pháp này, được người có trí tán thán. Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc, thời này các Kalama, hãy chứng đạt và an trú'...".

Khi đã ý thức được khả năng của mình có thể phân biệt thiện ác, thời Ðức Phật dạy hãy nên tự y chỉ mình, không y chỉ một ai khác, như các bài kệ sau nêu rõ:

"Vị du sĩ không tựa,
Không y chỉ một ai,
Không làm thành thương yêu, 
Không tác thành ghét bỏ.
Do vậy, trong sầu than,
Trong xan tham keo kiệt,
Như nước trên lá cây,
Không dính ướt làm nhơ". 
(Kinh Tập, câu 811)


"Ai không tìm lõi cây
Ðối với các sanh y,
Có thể nhiếp phục tham,
Ðối với các chấp thủ 
Vị ấy không y chỉ
Không để ai dắt dẫn,
Tỷ kheo ấy chơn chánh,
Du hành ở trên đời". 
(Kinh Tập câu 364)

Nhưng đức Phật có sự thận trọng. Dẫu cho Ngài đã được giải thoát và giác ngộ hơn Ngài, nhưng Ngài vẫn thấy là Ngài cần phải y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn:

"Vậy Ta hãy đảnh lễ, cung kính và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà la môn, với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn ... định uẩn ... tuệ uẩn ... giải thoát uẩn chưa được đầy đủ ... nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà la môn, chư Thiên và loài người, không có một Sa môn hay Bà la môn nào khác, với giới, với định, với tuệ và với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà Ta có thể cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ. Rồi này các Tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: 'Với Pháp mà Ta đã chân chính giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ Pháp ấy'".

Như vậy Ðức Phật với tâm khiêm tốn, muốn tìm một Sa môn hay Bà la môn để nương tựa y chỉ nơi chánh pháp. Ðó là lý do vì sao Ðức Phật lại dạy các Tỷ kheo "Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình (attà-dìpàviharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (attà-saranà), chớ y tựa một cái gì khác. 

Dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác". Thái độ này của đức Phật giải thích vì sao Ðức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử của đức Phật luôn luôn có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa.

Trong Tương Ưng III, 51, đức Phật xác định lời khuyên một lần nữa cho các đệ tử của mình lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa: "Hãy sống, tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ kheo, hãy nương tựa với chính mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác". 

Trong kinh Gopaka Moggallàna, Trung III, trang 111, chúng ta sẽ thấy các đệ tử của đức Phật sau khi Ngài nhập diệt, đã xử sự đúng như lời Ngài dạy. Bà la môn Gopaka Moggallàna hỏi tôn giả Ananda: "Thưa Tôn giả, có một vị Tỷ kheo nào được Sa môn Gotama sắp đặt: 'Vị này, sau khi Ta diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi và các ngươi sẽ y chỉ vị này?'".

Tôn giả Ananda trả lời: "Này Bà la môn không có một vị Tỷ kheo nào được Thế Tôn, bậc Trí giả, bậc Kiến giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác sắp đặt: 'Vị này sau khi Ta diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho các ngươi', và chúng tôi sẽ y chỉ vị này."

"Thưa Tôn giả Ananda, có một vị Tỷ kheo nào được chúng Tăng thỏa thuận và một số đông các vị Tỷ kheo Trưởng Lão sắp đặt là vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ, sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ y chỉ vị này?".

Tôn giả Ananda trả lời: "Không có một vị Tỷ kheo nào, này Bà la môn, được chúng tăng thỏa thuận và được số đông các vị Tỷ kheo Trưởng lão sắp đặt: 'Vị này, sau khi Thế Tôn diệt độ sẽ là chỗ nương tựa cho chúng tôi', và chúng tôi sẽ y chỉ vị này".

"Và như vậy là (quý vị) không có chỗ nương tựa. Thưa Tôn giả Ananda, như vậy do nhân gì quý vị có thể hòa hợp?".

"Này Bà la môn, chúng tôi không phải không có chỗ nương tựa. Này Bà la môn, chúng tôi có chỗ nương tựa. Và Pháp là chỗ nương tựa của chúng tôi."

Lấy Chánh pháp làm chỗ nương tựa, đó cũng chính là lời Phật dạy chúng ta.

Tỳ kheo Thích Minh Châu
Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2015

Chân Như



Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Tuyển Tập Thư Thầy số 22 - 23




[Thư số22]



Ngày ..... tháng ..... năm .....

Con thân mến,

Khi người ta nói "một tâm hồn thánh thiện trong một cơ thể tráng kiện" là người ta lý tưởng hóa đời sống quá, người Tây phương ưa cái gì cũng hoàn hảo như thế đó. Trái lại người bình dân Ðông phương có khi thực tế hơn. Họ nói: "Một mái nhà tranh, hai quả tim vàng". Hai vấn đề tuy không cùng một lãnh vực vậy mà vẫn nói lên hai cái nhìn khác biệt về đời sống, người nói câu "Un esprit saint dans un corps sain" ắt cũng sẽ nói "hai quả tim vàng trong một tòa cung điện".

Như vậy người Ðông phương chú trọng đến quả tim vàng hơn là tòa cung điện, chú trọng đến tâm hồn thánh thiện hơn là một cơ thể cường tráng. Họ có lý bởi vì quả tim vàng hay tâm hồn thánh thiện thì cần gì phải có một điều kiện lý tưởng đến thế! Họ càng có lý hơn vì thực tế đời sống bao giờ cũng có thăng, có trầm, có vinh, có nhục, có được, có mất, có hơn, có thua, có thành, có bại, có vui, có khổ, có lành mạnh, có bịnh tật, có trẻ, có già, có sinh, có chết v.v... Nếu ta cứ mong cái gì cũng tốt cả thì làm sao ta chịu nổi sự biến đổi vô thường?

Chính vì thế trong mười điều tâm niệm mới dạy: "Nghĩ tới thân không cầu vô bịnh vì thân không bịnh tất tham dục dễ sanh". Thứ nhất khi ta cầu mong không bịnh là tâm hồn ta đã bịnh hoạn rồi, nếu tâm hồn ta lành mạnh ắt không cần đòi hỏi thân phải cường tráng.

Thứ hai nếu thân không bịnh thì quả là tham dục dễ sanh, như người tham ăn mà không đau bao tử ắt sẽ tham ăn hơn nữa; người nóng nảy không đau gan thì còn ai chịu được. Vậy bịnh là thiên sứ của vô thường, hay bậc thiện tri thức của ta đó, người ta cứ xem bịnh như kẻ thù mà không biết rằng nó là bản thân. Khi đưa tay vào lửa nếu tay không nóng, không phỏng ắt là nó sẽ cháy tiêu mà không hay biết. Vậy nóng, phỏng là bạn của ta chứ sao gọi là thù. Vì thế ta còn phải học hỏi nơi người bạn chí thân này nhiều lắm.

Khi con ăn một chất âm hàn nhiều quá con thấy đau bụng lạnh, vậy là nó dạy con phải dùng một cái gì dương nhiệt để chế lại. Khi con đi nắng bị nhức đầu vậy là nó dạy con lần sau phải đội vào một cái nón v.v... Cho nên ta còn phải học hỏi nơi người bạn này rất nhiều bài học giá trị. Nhưng nếu ta xem nó là kẻ thù, ta tiêu diệt nó thì e rồi ta cũng phải chết theo, vì còn ai báo cho ta biết tử thần sắp tới đâu!

Trong khi bịnh con thấy đau đớn, thế mà một bức thư Thầy lại viết: "Ðau chính là tu. Ôi đau đớn mới tuyệt vời làm sao!". Thầy nói vậy vì trong một cơn đau thập tử nhất sinh Thầy đã giác ngộ lại chính mình, nhờ đó Thầy mới biết tất cả chân lý ở nơi mình, Thầy đã thấy ra bản lai diện mục cũng chẳng là ai khác. Thầy nhớ có một hành giả đến hỏi đạo, bị thiền sư đóng sầm cánh cửa khi ông ta vừa bước chân vào, chân gãy, thiền sinh đại ngộ. Như vậy có tuyệt vời không.

Bây giờ nếu con đau mà con an ổn được trong chính cơn đau thì con còn tuyệt vời hơn khi con lành mạnh mà con lại bị đắm chìm. Con không thấy như thế sao? Lão Tử nói: "Phù duy bịnh bịnh thị dĩ bất bịnh". Ôi, bịnh chỉ là bịnh thì đâu có gì là bịnh!

Khi bịnh con biết con có bịnh. Khi đau đớn, con biết con có đau đớn. Khi phải uống thuốc, con biết con uống thuốc... Mọi việc đều trầm tĩnh an nhiên, rồi con sẽ học ra mọi lẽ, rồi con sẽ thấy thật là tuyệt vời.

Thầy ngừng bút nhé.

Thầy.


[Thư số23]


Ngày ..... tháng ..... năm .....

Con,

Quả là thư trước của con bị lạc nếu không Thầy đã trả lời rồi, Thầy rất thông cảm với tâm trạng của con lúc này. Ðó chỉ là một giai đoạn khủng hoảng tất yếu khi con lột bỏ những quan niệm cũ để sống một đời sống mới. ở ngoài đời cũng vậy, một cuộc cách mạng tất yếu phải trải qua thời kỳ khủng hoảng với bao nỗi mâu thuẫn khó khăn. Nhưng con hãy an tâm, chẳng qua là vì con đang mất chân đứng cũ mà chưa lấy lại được thăng bằng trên bước chân mới mà thôi và rồi việc gì cũng đâu vào đó.

Khi chưa biết đạo, người ta thấy núi là núi, nhưng sau thuần đạo rồi người ta lại thấy núi cũng vẫn là núi mà thôi. Cũng vậy, người đời làm cái gì thì kẹt vào cái đó, như con đã kẹt vào cái tu, cái học. Sau khi được khai thị cho thì lại bỏ tu, bỏ học, bỏ hết tất cả. Cuối cùng khi đạo đã thâm trầm thì té ra cũng tu, cũng học, cũng làm tất cả, không bỏ thứ gì.

Lúc đầu là thụ (chấp trước), lúc giữa là xả (buông bỏ), sau cùng là bất thụ bất xả (không nắm mà cũng không buông) như Lão Tử nói: "Vô vi nhi vô bất vi". Vô vi nhưng không việc gì không làm.

Vì vậy Thầy khuyên con trước hết hãy học hành lại như lúc đầu, xem như đó là chuyện bình thường. Có thể con sẽ học siêng năng hơn, có thể con sẽ ganh đua với chúng bạn, có thể con phải quyết chí đỗ đạt cao v.v... Tuy vậy mà con vẫn thấy bình thường, không một chút bận tâm như ngày xưa còn mê muội, còn tham đắm. Ðáng lẽ với sự thanh thản ấy con phải tiến hơn các bạn trên mọi mặt chứ không thể sa sút được. Thầy e rằng trong lúc giao thời con còn quá nhiều phân vân lưỡng lự nên nó đã làm cho con chưa lấy lại được khả năng của con người ổn định.

Lúc Thầy học lớp 12 bị chi phối bởi ý nghĩ xuất gia, Thầy đã bị sa sút nhiều trong việc học, và bị thi hỏng một keo, thế mà vào tu Thầy lại học rất giỏi. Ở Phật Học viện, Thầy lãnh bằng danh dự hạng nhất, ở trường London School Thầy dẫn đầu lớp học, ở đại học Thầy dẫn đầu các môn mà Thầy học sau chúng bạn.

Chính nhờ sự sáng suốt, bình thản, an nhiên mà Thầy mới học khá như vậy. Cho đến bây giờ thì Thầy mới hiểu rằng đạo không thay đổi bất cứ một sinh hoạt nào của ta cả. Ðạo chỉ soi sáng tâm hồn để ta có thể sinh hoạt chân, mỹ, thiện hơn mà thôi.

Một người làm nông ngộ đạo sẽ không bỏ cày mà cày cấy với năng suất cao hơn.

Một người đi học ngộ đạo, sẽ không bỏ học mà học hành giỏi hơn.

Bây giờ ở tuổi con là đi học. Hãy học một cách sáng suốt, trầm tĩnh là đạt được chỗ chân của đạo. Hãy học một cách chân thành, bài nào thông suốt bài đó, môn nào chu tất môn đó là đạt được chỗ mỹ của đạo. Hãy học với thiện ý giúp mình, giúp cha mẹ, gia đình, xã hội v.v...là đạt đuợc chỗ thiện của đạo.

Ðạo là sáng suốt vững chắc, không thể là trạng thái buông lung, hững hờ trước mọi sự. Trái lại mỗi mỗi hành động, mỗi mỗi ý nghĩ, mỗi mỗi lời nói phải rõ ràng, minh bạch, phải đạt chỗ chân, mỹ, thiện vô cùng giản dị của nó.

Học đạo quý vô tâm
Làm, nghĩ, nói không lầm
Sáng trong và lặng lẽ
Giản dị mới uyên thâm.

Ðạo chính là việc học của con. Khi con học, con nghĩ, con nói minh bạch, không lầm lẫn là đạo. Khi con học với tâm sáng suốt là chân, với tâm trong sạch là thiện, với tâm lặng lẽ là mỹ. Việc học của con như vậy sẽ vô cùng giản dị và vô cùng uyên thâm.

Vậy ra con tưởng có một lý tưởng đạo nào đó ngoài công việc hàng ngày, ngoài bổn phận làm người, ngoài uống, ăn, đi, đứng hay sao?

Người ta thường tưởng rằng mình phải đâm bổ vào một lý tưởng siêu thoát, một đạo lý cao siêu, một lối sống phi phàm ra ngoài thế sự. Nhưng họ lầm to, họ chỉ càng trầm luân như những con thiêu thân lao đầu vào ánh sáng.

Ngày nọ có một người Phật tử lật đật dựng xe đạp để vào chùa nghe giảng Siêu lý (Abhidhamma) đã không biết rằng chiếc xe đạp của anh ta đè gãy một cành hoa bên tường chùa! Anh ta tưởng có cái gì siêu lý ngoài việc dựng chiếc xe đạp sao cho đàng hoàng, trầm tĩnh, sao cho đừng hại tới ai. Và cứ thế anh ta thả mồi bắt bóng, tìm cái giả, bỏ cái chơn, tìm sinh tử bỏ Niết-bàn mà cứ tưởng rằng mình sẽ đến nơi siêu việt.

Con thương mến,

Hãy sáng suốt, hãy trầm tĩnh, hãy hiền hòa trong mỗi bước đi của mình trên đường đời. Bỏ mất mỗi giây phút là bỏ mất tất cả, vì thế tướng dụng trọn vẹn chính là mỗi bước đi, trong từng giây phút thực tại hiện tiền.

Quá khứ không truy tầm
Tương lai không ước vọng
Quá khứ đã đoạn tận
Tương lai thì chưa đến
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính là đây
Không động, không rung chuyển
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết
Trụ như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mỏi mệt
Xứng gọi nhất dạ hiền
Bậc an tịnh trầm lặng.

(KINH NHẤT DẠ HIỀN GIẢ)

Nhưng pháp hiện tại là gì? Là khi con đang học hãy hoàn toàn vào việc học. Khi con dựng xe hoàn toàn vào việc dựng xe v.v... Không phải học mà bỏ bê, không phải dựng xe mà mơ siêu lý.

Con thương mến,

Ðạo giản dị biết là bao phải không con? Nào, hãy bắt tay trở lại việc học của con, không động, không rung chuyển, hôm nay nhiệt tâm làm...

Khi nào rảnh con hãy mượn thư Thầy viết cho các bạn mà đọc lại chứ con còn yếu lắm đó.

Chào con thương mến.

Thầy.

Trích trong Tuyển Tập Thư Thầy
Thiền Sư Viên Minh
Sưu tầm: Hanh Nghiêm