Chủ Nhật, 7 tháng 2, 2016

Danh Ngôn Hay Truyền Cảm Hứng Cho Năm Mới - Makala D.



Mời Các Bạn và Anh Chị Em thưởng thức nhạc hay và 13 câu danh ngôn truyền cảm hứng cho những quyết tâm và mục tiêu của năm mới, trên clip YouTube Inspirational Quotes For New Year của Tác giả Makala D.
Bản dịch Việt ngữ: Huỳnh Huệ 




1. “Mỗi ngày là một khởi đầu mới. Hít một hơi thở sâu và bắt đầu lại .”
“Every day is a new beginning: Take a deep breath and start again ” ~ Ritu Ghatourey


2. “Mặc dù không ai có thể quay lui và có một khởi đầu mới , nhưng mọi người đều có thể bắt đầu từ bây giờ và tạo một kết thúc mới. “
“Though no one can go back and make a brand new start, anyone can start from now and make a brand new ending.” ~ Carl Bard


3. ” Tin rằng bạn có thể – là bạn đã đi được nửa đường ” 
“Believe you can and you’re halfway there.” ~ Theodore Roosevelt


4. ” Đừng đợi đến khi các điều kiện hoàn hảo mới bắt đầu. Khởi đầu làm cho các điều kiện trở nên hoàn hảo. “
“Do not wait until the conditions are perfect to begin. Beginning makes the conditions perfect.” ~ Alan Cohen


5. “Một mục tiêu mà không có kế hoạch thì chỉ là một điều ước.”
” A goal without a plan is just a wish” ~ Antoine de Saint – Exupery


6. ” Hành trình ngàn dặm bắt đầu bằng một bước chân” ~ Lão Tử
“The journey of a thousand miles begins with one step.” ~ Lao Tzu


7.” Có lẽ năm nay, chúng ta nên xem xét mọi cơ hội trong cuộc đời mình, chứ không phải tìm kiếm sai lầm và thất bại mà là tìm kiếm tiềm năng. “
“Maybe this year, we ought to walk through the rooms of our lives not looking for flaws, but looking for potential.” ~ Ellen Goodman


8. ” Hãy gắng hết sức. Hiện tại bạn đang gieo trồng gì, sau này bạn sẽ gặt hái. “
“Always do your best. What you plant now, you will harvest later.” ~ Og Mandino


9. “Thử mọi cái, và nếu bạn không thích một điều gì, bạn không thích nó vì bạn đã thử nó, chứ không phải vì bạn từ bỏ nó. “
“Try everything, and if you don’t like something you don’t like it because you tried it, not because you dismissed it”. ~Chris Rock


10.”Viết lên tim của bạn rằng ngày nào cũng là ngày đẹp nhất trong năm.”
“Write it on your heart that every day is the best day in the year.”~ Ralph Waldo Emerson


11.“Bí quyết của thay đổi là tập trung toàn bộ năng lượng của bạn, không phải để chiến đấu với cái cũ, mà là xây dựng cái mới. “
“The secret of change is to focus all of your energy, not on fighting the old, but on building the new.” ~ Socrates


12. “Khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác mở ra, nhưng ta thường nhìn quá lâu vào chiếc cửa đã đóng nên ta không thấy một cánh cửa đã mở ra cho chúng ta.”
“When one door closes, another opens; but we often look so long and so regretfully upon the closed door that we do not see the one which has opened for us. ~ Hellen Keller


13. “Có một sự tốt đẹp khi có cơ hội để viết lại tương lai của mình.”
“There is something beautiful about having the chance to rewrite your future.” ~ Crystal Gentilello

Từ Nguồn BANMAIHONG'S BLOG
Post on 7 tháng Một 2016 by Huỳnh Huệ
Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Kệ Vân


         偈云                    Kệ Vân

居塵樂道且隨緣, Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên
饑則飧兮困則眠。 Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
家中有宝休尋覓, Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
對鏡無心莫問禪     Đối kính vô tâm mặc vấn thiền
            陳仁宗                         Trần Nhân Tôn

Dịch Nghĩa: Kệ Rằng

Sống trong cõi trần này, muốn vui với đạo, phãy tùy duyên phận
Nếu thấy đói cứ ăn, nếu thấy mệt buồn ngủ cứ ngủ
Báu vật đã có ớ trong nhà rồi còn tìm nơi đâu nữa
Đứng trước cảnh đời thay đổi, lòng vẫn chẳng xao động thì cần chi hỏi đến thiền.

 Bài Thơ Dịch:


          Kệ Rằng
1
Vui đạo đời theo lúc
Đói ăn mệt ngủ thôi
Trong nhà sẵn của quí
Tâm lặng ấy thiền rồi.

2

Đạo đời nhàn nhã hãy tuỳ duyên
Mệt ngủ đói ăn chẳng luỵ phiền
Vật quý trong nhà không phải kiếm
Tâm an trước cảnh ấy là thiền
                        Quên Đi
***

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2016

Tuyển Tập Thư Thầy số 34 - 35




(Thư Số34)


Ngày ..... tháng ..... năm .....

Con thương mến,

Thầy đã nhận được thư và ảnh của con chụp lúc con đang sinh hoạt tại thiền đường PZC phái Lâm Tế của một thiền sư người Ðại Hàn. Thầy sắp đi Huế, sẽ đem thư và ảnh cho các Sư Thúc cùng xem.

Trong hình tướng xuất gia con có vẻ chững chạc lắm, nhưng tính con thì ưa phóng khoáng tự nhiên mà sinh hoạt thiền đường đó thì có vẻ nghiêm túc và bài bản quá như vậy, không biết con có chịu được lâu không?

Con hỏi sau này Thầy có viết gì thêm không và trong thời gian con xa quê hương, ở nhà Thầy hướng dẫn Phật tử tu tập có gì mới mẻ không?

Về viết lách thì Thầy chỉ thỉnh thoảng viết Vi Tiếu để tiêu khiển, và khi nào có thư thì trả lời cho Phật tử vậy thôi, chứ chưa viết chuyên đề gì cả. Các Sư Thúc con có đề nghị Thầy ghi lại thành sách những khóa giảng giáo lý tinh yếu ở Huyền Không, Bửu Long, Phật Bảo v.v... để Thầy xét lại xem.

Còn về việc hướng dẫn Phật tử thì vì phần đông không kham nổi tinh thần sống đạo một cách uyển chuyển tự nhiên và sáng tạo trong tự giác kiểu "vô môn" như hồi con còn ở nhà, nên Thầy đã tùy căn cơ của những Phật tử mà chia quá trình tu tập thành nhiều giai đoạn từ dễ đến khó, từ thấp đến cao khác nhau, để Thầy dễ hướng dẫn mà Phật tử cũng dễ thực hành.

Con đã biết, chung qui tất cả các phái thiền Phật giáo từ Nguyên Thủy đến Tiểu thừa, Ðại thừa, Kim Cang thừa và Thiền tông đều lấy chánh niệm tỉnh giác làm yếu tố cơ bản, chỉ khác nhau ở cách vận dụng mà thôi. Nói như vậy có nghĩa là chánh niệm tỉnh giác có nhiều mức độ khác nhau tùy theo trình độ của mỗi người.

Theo thiền tuệ quán Vipassanà Nguyên Thủy của Ðức Phật thì đối tượng của chánh niệm tỉnh giác phải là pháp có yếu tính là đệ nhất nghĩa đế (paramattha), thực tại hiện tiền (sanditthiko), phi thời gian (akàliko), hồi chiếu (ehipassiko), hướng nội (opanayiko), tự chứng (paccattam veditabbo) v.v... do đó, nhìn chung, Phật tử ngày nay ít ai trực tiếp đi vào tuệ quán ngay được.

Như vậy cần phải có những giai đoạn chuẩn bị cho những Phật tử chưa đạt tiêu chuẩn chánh niệm tỉnh giác, chưa có thể đi thẳng vào tuệ quán Vipassanà, như sau:

1. Giai đoạn nhất niệm.

- Nếu con là người thuộc căn cơ đức tin thì con có thể niệm Phật. Ngày đêm giữ một câu niệm Phật cho đến khi các tạp niệm lắng dịu, ổn định và đưa đến nhất tâm bất loạn.

Ðối với đức tin hướng về tự lực, như phần đông Phật tử Nguyên Thủy thì họ thường niệm một trong 10 ân đức Phật tính, điển hình như niệm: Araham (Arahatta) là bản lai thanh tịnh, Buddho (Buddhatà) là tính giác v.v...

Ðối với đức tin hướng về tha lực, như Phật tử Tịnh Ðộ tông thì họ thường niệm danh hiệu A-di-đà Phật, hay danh hiệu các Bồ Tát mà họ tin tưởng.

Ðối với đức tin hướng về thần lực huyền bí, như Phật tử Mật tông thì họ thường hành trì một câu chú.

Ðối với đức tin hướng về bản thể tự tánh, như Phật tử Thiền tông thì họ thường tham một công án hay một thoại đầu.

- Nếu con là người có căn cơ về thiền định thì con có thể dùng một đề mục thiền định, như hơi thở chẳng hạn, để nhiếp phục tâm.

Mục đích của giai đoạn này là giúp tâm vượt qua các tạp niệm và phát triển khả năng chú tâm, một yếu tố cần thiết trong chánh niệm tỉnh giác.

2. Giai đoạn tánh niệm.

Trong các pháp môn phương tiện như niệm Phật, trì chú, tham công án, thiền định v.v... hành giả có thể bớt được tâm tán loạn nhưng cũng nhiều người lại bị kẹt vào ngay nơi phương tiện của mình và trở thành bịnh bị ám ảnh bởi chính câu niệm Phật, câu thần chú v.v... không sao bỏ đi được. Vì vậy khi nào thấy tâm đã ổn định thì phải bỏ phương tiện (hồng danh, thần chú v.v...) rồi soi chiếu lại tự tâm để nhận ra tánh sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên của nó. Ðó chính là giai đoạn thấy ra yếu tính của bản lai thanh tịnh hay tính giác sẵn có nơi mỗi người.

3. Giai đoạn danh tướng niệm.

Nếu nhận ra được tính giác hay bản lai thanh tịnh mà không biết sử dụng thì vẫn bị kẹt vào thể tánh, không phát huy được tướng dụng để phá vỡ khối tập nhiễm sâu dày của bản ngã sinh tử luân hồi. Cho nên Ngài Huệ Khả sau khi ngộ tánh nơi Tổ Ðạt Ma đã trở về ngày đêm mỗi mỗi tự biết mình. Thể tánh của tính giác là tịch tịnh (Santì), tướng dụng của tính giác là soi chiếu (Jhàna, jhàyati). Vì vậy phải đem tính giác soi chiếu lại toàn bộ thân tâm trong quan hệ với thế giới trong ngoài. Trong thiền Tứ Niệm Xứ, tính giác tịch và chiếu được hóa thân thành chánh niệm tỉnh giác, và thế giới quan hệ trong ngoài của toàn bộ thân tâm chính là thân, thọ, tâm, pháp. Ðây không còn là phương tiện tham công án để hy vọng thấy tánh, mà chính là sử dụng ngay tính giác soi chiếu để thâm nhập vào thực tại hiện tiền, xuyên phá mọi vọng tưởng ảo giác của vô minh ái dục để đương xứ hiện rõ bổn nguyên chân như thực tánh (Yathàbhùtà sabhàva) của pháp.

Tuy nhiên nếu chưa phải là căn cơ bậc thượng, thì tạm thời tập ghi nhận danh tướng của thực tại thân, thọ, tâm, pháp trước đã. Vì vậy trong giai đoạn này hành giả chỉ cần khi đang đi niệm là đi... đi..., khi đang đứng niệm đứng... đứng, khi có cảm giác dễ chịu hay khó chịu niệm là thọ... thọ..., khi có tâm bứt rứt bực bội niệm là sân... sân... v.v...

Tâm thường dễ rơi vào hai trạng thái đối nghịch: hoặc là quá ức chế thủ động, hoặc là quá hưng phấn dao động, do đó không được sâu sắc vi tế, vậy muốn làm quen với công việc soi chiếu minh bạch (vipassanà), chánh niệm tỉnh giác phải tạm mượn đối tượng danh tướng để tự phát huy khả năng tịch và chiếu cho đến khi thật vững chãi tự nhiên.

Phái thiền Vipassanà của Ngài Mahasi Sayadaw người Myanmar dạy hành giả niệm phồng à... xẹp à... khi quán niệm hơi thở chẳng hạn, chính là vận dụng Danh Tướng niệm như một giai đoạn chuyển tiếp để chuẩn bị cho tâm có đủ chánh niệm tỉnh giác khả dĩ thâm nhập thực tại như thị của đệ nhất nghĩa đế.

Như vậy 3 giai đoạn trên chỉ là dự bị cho hành giả trước khi vào thiền Vipassanà, chúng ta tạm gọi là "giai đoạn tiền Vipassanà". Khi nào hành tướng của hầu hết thân, thọ, tâm, pháp đều được gọi đúng tên ngay khi nó diễn ra, không trước không sau, thì hành giả bắt đầu có khả năng đi thẳng vào thiền Vipassanà như giai đoạn sau đây:

4. Giai đoạn thực tướng niệm.

Ðây là giai đoạn thiền Vipassanà thực thụ. Ở đây hành giả không cần gọi tên sự kiện như giai đoạn truớc mà chỉ soi chiếu vào chính sự diễn biến của sự kiện mà thôi. Như khi đi chỉ cần chú tâm tỉnh thức trên mọi biến chuyển của cử động đi, khi ngồi chỉ lặng lẽ soi chiếu toàn bộ tư thế ngồi cùng với những hiện tượng động tĩnh, sinh diệt, thô tế đang diễn ra nơi thân. Khi có một cảm giác chỉ lắng nghe trọn vẹn diễn trình sinh diệt của cảm thọ ấy. Khi một tư tưởng khởi lên thấy rõ tâm đang sinh khởi, khi tư tưởng ấy chấm dứt thấy rõ tâm đang diệt. Khi tâm tịch tịnh vô sinh biết rõ tâm tịch tịnh vô sinh v.v...

Con có để ý là những cụm từ Thầy vừa dùng trên như chú tâm tỉnh thức, lặng lẽ chiếu soi, lắng nghe trọn vẹn, thấy rõ, biết rõ, liễu tri, tịch chiếu, quán chiếu, chiếu kiến v.v... đều đồng nghĩa với chánh niệm tỉnh giác không? Tên gọi không quan trọng mà chính yếu là con cần phải thể nghiệm thực chất nội dung của nó sao cho vừa đủ để thấy đúng thức tướng của quán xứ là được.

Nói là thực tướng niệm, thật ra trong giai đoạn này thực tại tự diễn bày đầy đủ tánh tướng thể dụng v.v... một cách toàn diện như thị như thực dưới cái nhìn trí tuệ soi chiếu minh bạch (Vipassanà-nàna) chứ không phải chỉ thực tướng mà thôi.

Ðến đây, khi hội đủ nhân duyên thích hợp tâm trí sẽ tự bừng nở những đóa hoa tuệ giác vô cùng vi diệu mà thuật ngữ thiền Vipassanà gọi là 16 tuệ giác. Ðức Phật đã mô tả trình tự 16 tuệ giác này mà không giảng giải chi tiết vì Ngài muốn để cho hành giả tự mình chứng nghiệm và liễu giải. Về sau các nhà chú giải và các vị thiền sư cũng có giảng rõ, nhưng theo Thầy, tốt hơn là để mỗi người tự chứng sự nhiệm mầu của pháp vị mới hứng thú, phải không con?

Thầy cũng xin lưu ý con mấy điểm quan trọng là mặc dù chánh niệm tỉnh giác chính là hai yếu tố tịch và chiếu của tính giác, nhưng tịch chiếu trong thiền Vipassanà Nguyên Thủy của Ðức Phật (Như Lai Thiền) không hoàn toàn giống với pháp môn tịch chiếu trong phái Tào động của Thiền Tông (Tổ Sư Thiền). Nói đúng ra, giống hay không là tùy hành giả. Nếu hành giả tịch chiếu theo phái Tào động nhưng lại đúng với Vipassanà như Thầy vừa nói trong giai đoạn 4 thì chẳng có gì khác nhau, nhưng nếu tịch chiếu chỉ là trụ tâm quán tịnh thì dù có đúng hướng cũng chỉ tương đương với giai đoạn 1 và 2 tiền-Vipassanà mà thôi. Còn nếu không đúng hướng thì chỉ là "bịnh chứ chẳng phải thiền" như Ngài Huệ năng quở trách Chí Thành vậy.

Mặt khác, nhiều người ngộ nhận chữ "quán" trong thiền tuệ quán Tứ niệm Xứ là quán tưởng, nên khi định nghĩa thiền Tứ niệm Xứ họ đơn giản cho đó chỉ là quán tưởng thân là bất tịnh, quán tưởng thọ là khổ, quán tưởng tâm là vô thường và quán tưởng pháp là vô ngã , như một công thức tiêu chuẩn để dễ bề suy tưởng.

Nhưng như Thầy đã trình bày ở trên, điều kiện tất yếu của chánh niệm tỉnh giác trong thiền tuệ quán Vipassanà là vắng bặt mọi ý niệm, suy nghĩ, tư lường, tưởng tượng v.v... hay nói một cách khác là "ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành ý diệt", nghĩa là hoàn toàn vắng bóng thế giới khái niệm (paññnatti) để cho bầu trời tâm trong sáng và mặt trời tuệ chiếu soi, như tấm gương trung thực phản ánh thực tánh đệ nhất nghĩa đế (paramattha) của pháp giới hiện tiền. Cho nên mọi hình thức sản phẩm của tưởng như tự kỷ ám thị chẳng hạn đều nằm ngoài tuệ quán Vipassanà.

Một điểm quan trọng nữa là ở giai đoạn 4 thực thụ Vipassanà này, người ta có thể hành một cách tự nhiên hoặc theo bài bản qui định đều được và đều có kết quả giống nhau như một vài trung tâm thiền đã thí nghiệm. Họ chia hành giả thành 2 nhóm, để hành giả tự do lựa chọn theo sở thích của mình, một nhóm hành theo giờ giấc và cách thức qui định nghiêm nhặt, còn nhóm kia thì sau khi nắm vững yếu tính của thiền, họ tự vận dụng lấy tùy theo điều kiện riêng của mình. Kết quả được trắc nghiệm là hai bên đều tiến triển như nhau, kể cả trường hợp áp dụng thiền để chữa bịnh ở một vài trung tâm y khoa ở Mỹ, Pháp v.v...

Ðến đây hành giả bước vào một chân trời hoàn toàn mới mẻ nhưng lại hiện đúng bản nguyên, như một người nằm mơ chợt tỉnh, mới mẻ, nghĩa là không còn chiêm bao, mà là hoàn lại con người thực đầy đủ bộ mặt xưa nay của mình, đó chính là giai đoạn thứ 5 trên hành trình tuệ quán.

5. Giai đoạn bất động niệm.

Khi những đóa hoa tuệ giác bừng nở, như những hoa sen ra khỏi bùn nh nước đục, bừng nở dưới ánh nắng mai giữa bầu trời cao rộng, thì hành giả cũng ung dung tự tại giữa cuộc đời phiền não. Chính vì tự mình thoát ly phiền não, nên dù cuộc đời có phiền não bao nhiêu thì tâm thiền vẫn an nhiên bất động. Lúc đó chánh niệm tỉnh giác không cần đến một nỗ lực cố gắng nào mà vẫn tịch tịnh soi chiếu một cách hồn nhiên trọn vẹn. Và chỉ đến lúc đó hành giả mới có thể làm công việc giác tha một cách hoàn toàn vô ngã.

Con thương mến,

Nhân con hỏi sinh hoạt thiền của Thầy ở quê nhà, Thầy trình bày đái khái vài nét như vậy, hy vọng rằng những nét cương yếu ấy có thể giúp con soi sáng thêm chương trình hành thiền: tụng kinh, tụng chú, lạy hồng danh, tọa thiền, qua đường và hỏi đáp cơ phong do thiền sư Seung Sahn hướng dẫn tại thiền đường PZC mà con đã kể cho Thầy nghe trong thư trước.

Chúc con mạnh khỏe và hưởng được thiền vị trong đời sống của một người tăng sĩ.

Thầy.


(Thư số35)


Ngày ..... tháng ..... năm .....

P.Q con,

Nhân TQ ra Thầy viết cho con. Hôm ghé ÐN vì thời gian quá ngắn nên mặc dù đã cố gắng giảng giải thế nào cho các Phật tử mới có thể lãnh hội con đường giác ngộ, Thầy vẫn phân vân không biết các con đã nắm được những nét chính chưa.

Ðạo Phật bên ngoài là những hình thức tín ngưỡng với nhiều môn phái, nhiều lễ nghi, bên trong là một rừng giáo lý vừa rộng, vừa sâu, có cao có thấp, có thật có giả, thật là đa diện. Tuy nhiên nếu người nào có cơ duyên gặp được thiện tri thức thì có thể đi vào cốt tử của đạo một cách dễ dàng.

Ðạo là đời sống phù hợp với Chân - Mỹ - Thiện. Càng gần Chân - Mỹ - Thiện càng ít khổ đau, càng xa Chân - Mỹ - Thiện càng nhiều nhiệt não. Vì vậy ngay từ lúc tuổi trẻ con cần phải tự mình học hỏi để sống sao cho hợp lẽ đạo. Nghĩa là làm thế nào để có được một thân tâm sáng suốt, định tĩnh, trong lành.

Trong ba yếu tố sống đạo đó thì sáng suốt thuộc về tuệ, định tĩnh thuộc về tâm, còn trong lành soi sáng cho nói năng và hành động của thân, cả ba cần được thể hiện một cách toàn diện, không thiên lệch kết quả mới viên mãn hoàn toàn.

Kinh Karanìya Mettà Sutta Ðức Phật dạy 16 đức tính của một người sống đạo như sau:

1) Có khả năng (Sakko) đủ để sống đúng đạo lý.

2) Chất phác (Ujù)

3) Ngay thẳng (Suhujù)

4) Nhu thuận (Suvaco)

5) Hiền hòa (Mudu)

6) Không kiêu mạn (Anatimàni)

7) Sống dễ dàng (Subharo: không đòi hỏi nhiều về tiện nghi đời sống)

8) Biết đủ (Santussako: tri túc)

9) Thanh đạm (Sallahuka vutti)

10) Không đa sự (Appakicco: không lăng xăng nhiều chuyện)

11) Lục căn trong sáng (Santindriyo: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý nhận thức minh bạch)

12) Trí tuệ minh mẫn (Nipako)

13) Siêng năng (Appagabbho: không cẩu thả buông lung)

14) Không đam mê luyến ái (Kulesu ananugiddho)

15) Không làm việc ác dù nhỏ nhặt (Na ca khuddam samàcare kinci)

16) Mong muốn cho chúng sanh đều được an vui, hạnh phúc (Sabbe sattà bhavantu sukhitattà)

Như vậy, muốn sống đời sống an tịnh, trong sạch, hiền lương phải cẩn thận học hỏi cuộc đời để giác ngộ ra lẽ sống từ nội tâm đến ngoại cảnh. Không nên sống buông lung, phóng túng, bỏ luống tuổi trẻ đầy nhiệt tình và sức sống. Nhiệt tình và sức sống ấy nếu đem dùng vào việc xấu sẽ gặt hái nhiều tai họa nhưng nếu thể hiện việc lành thì có nhiều lợi ích. Người Phật tử khi thấy cái thân nhiều bịnh nhiều khổ này rồi cần phải dùng nó để làm lợi ích cho mình và người, không để nó luống công sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, không để uổng phí một đời cơm áo.

Không cần phải xuất gia mới giác ngộ giải thoát. Sống trong đời với đầy đủ tỉnh thức để tự biết mình là có thể giác ngộ giải thoát.

Nói tóm lại, giác ngộ, giải thoát và hữu ích là ba mục tiêu của người Phật tử. Lấy sáng suốt để giác ngộ, lấy định tĩnh để giải thoát, lấy trong lành để làm lợi ích cho mình và người.

Chúc con sống đạo một cách thiết thực lợi mình lợi người.

Thầy.

Trích trong Tuyển Tập Thư Thầy
Thiền Sư Viên Minh
Sưu Tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Suy ngẫm - Cúng Sao Giải Hạn: Một Thói Quen Cần Thay Đổi



Những ngày đầu xuân, bên cạnh ý nghĩa lễ bái, vãn cảnh đầu năm ở những ngôi chùa thờ Phật, không ít một số bà con còn có những thói quen, xin xăm, cúng sao, giải hạn...Khi khả năng nhận thức của người dân về giáo lý nhà Phật còn hạn chế, tình trạng trên làm cho người tu Phật ở chùa rất lấy làm trăn trở.

Như chúng ta đã biết, tất cả mọi người học Phật ai cũng hiểu giáo lý nhà Phật đều dựa trên căn bản là Nhân Quả, nếu nói cho đủ là Nhân Duyên Quả.

Nhân là hạt giống, nhờ Duyên (thời tiết, chăm sóc, kỹ thuật...) Quả là kết quả do gieo Nhân mà được. Đời sống của một cá nhân hay cộng đồng đều do nhân quả mà ra. Khi một người gieo nhân dù tốt hay xấu thì nhất định người đó phải nhận lấy kết quả tốt hoặc xấu mà mình đã gieo. Nếu muốn hóa giải quả xấu, thì phải nỗ lực tu tập, trì chay, giữ giới, gieo nhiều việc thiện.

Hiểu được vậy nên ngay từ khi bắt đầu gieo nhân chúng ta nên chọn lựa giống tốt xấu. Khi phát hiện là nhân xấu, chúng ta có thể nhờ Duyên trợ giúp để chuyển hướng quả đến mục đích tốt hơn. Ví dụ: Chúng ta gieo Nhân sát sanh nhiều thì biết chắc hậu Quả của nó sẽ đến với mình là bệnh tật, thọ yểu, hay thường gặp những tai nạn phạm thân, thậm chí phải đền mạng. Khi biết được thế, chúng ta nỗ lực sám hối hành trì tụng kinh, bố thí cúng dường, phóng sanh...(Duyên) thì Quả trổ đến sẽ chuyển hướng khác, hoặc bị triệt tiêu.

Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thọ nhận những điều tốt xấu là đều do chúng ta tạo nhân cả, nên khi quả đến tốt thì chúng ta hạnh phúc, ngược lại quả xấu chúng ta đành phải chấp nhận và bình tĩnh để hóa giải nó, hướng nó đến một kết quả tốt đẹp hơn, mà trong Phật ngữ gọi là Giải nghiệp.

Đầu năm nhiều người đến chùa để xin quẻ, bói toán, cúng sao giải hạn... là đi ngược lại giáo lý nhà Phật. Bởi khi nhờ nhà chùa cúng sao cho tuổi của mình, thì có khẳng định rằng trong năm không gặp một rủi ro nào? Chắc không ai dám khẳng định điều đó. Nếu có xảy ra tai nạn rủi ro, vậy số tiền mà mình bỏ ra cúng sao giải hạn là vô ích, dù ít hay nhiều. Biết thế nhưng hằng năm, những ngày đầu năm mới vẫn có rất nhiều người tìm đến chùa chiền, miếu phủ... để lặp đi lặp lại những sự việc nêu trên.

Một giả định khác, nhiều người cứ đinh ninh rằng nếu đem tiền vào chùa cúng sao, giải hạn thì tật bệnh sẽ qua, tai nạn sẽ không đến. Điều này giống như là việc đút lót tiền cho thần thánh để được một hồng ân nào đó phía sau, sẽ được thần thánh hỗ trợ hoặc ban bố phước lành. Suy nghĩ như thế thật có tội, vô tình đưa các vị ấy vào những người nhận đút lót, ra tay nâng đỡ những ai biết điều, còn những ai không biết điều, không cúng kiến thì các vị sẽ hững hờ, nếu làm vậy thì các vị ấy đâu còn gọi là từ bi, thương chúng sanh bốn loài?

Ngay cả đức Phật cũng từng nói:

- Ta không có khả năng ban bố phước lành, và cũng không có khả năng giáng họa cho bất kỳ ai, tất cả việc xấu tốt là do nghiệp báo và nhân quả của các con mà thôi”. (Đức Phật và Phật Pháp, tác giả Narada Thera.)



Nếu cho rằng số phận con người nằm trong vận mệnh của trời đất, theo quy luật tuần hoàn của vũ trụ? Nếu vậy, ví dụ như năm nay, theo quan niệm những người ở tuổi 31 đang bị sao xấu, có tam tai lớn trong năm, vậy thì tất cả những người năm nay 31 tuổi không đi cúng sao đều gặp tai ương lớn trong năm, và sẽ không qua khỏi? Vậy thì năm sau, số người 32 tuổi sẽ không còn bao nhiêu nữa. Và dân số đất nước sẽ giảm mạnh vì cứ đến 31 tuổi thì có hàng loạt người không qua khỏi. Thực tế thấy rằng, dân số vẫn tăng nhanh, và tai nạn thì không trừ bất kỳ lứa tuổi nào.

Những nhận thức mang tính hủ tục lâu dài ấy, không phải một sớm một chiều có thể làm thay đổi thói quen trong suy nghĩ của số người đến chùa cầu sao giải hạn. Hơn nữa nhiều chùa ở Việt Nam nói chung đang nằm trong thực trạng này, ảnh hưởng bởi Phật giáo bắc truyền, và dường như đã trở thành một truyền thống, kế tục từ nhiều đời. Mạnh dạn bỏ hủ tục này thì khó tiếp cận được với nhiều người, vì cúng giải hạn đầu năm lại là biện pháp tâm lý để tìm lấy sự bình yên, nhưng nếu giữ thì lại thì thật sự không ổn.

Do đó, xuất phát từ thực tế, chúng ta cần cố gắng từng bước thay đổi thói quen về niềm tin lệch ấy.

Trước tiên hết là những người ở chùa phải đặt mục tiêu truyền bá chánh pháp, lợi lạc chúng sanh là chính, do đó không vì cái lợi ích nhỏ trước mắt mà bỏ quên hạnh nguyện của mình. Đồng thời khi tiếp xúc đối tượng này phải nói giáo lý Nhân Quả nghiệp báo cho họ hiểu, hướng họ đến với Phật pháp làm nhiều việc thiện cho mình cho người và có thể  khuyên họ quy y Tam Bảo. Khi đã trở thành là Phật tử, hiểu được giáo lý Đức Phật, chính họ là người hộ pháp đắc lực cả tài vật lẫn tinh thần. Muốn được điều này mỗi chùa nên có những đạo tràng tu học, thỉnh mời chư vị tôn túc giảng sư, đến để truyền trao kiến thức cho họ.

Trăn trở đầu năm mới, cũng là mong tất cả mọi người đều vượt qua những quả khổ, và hướng về lời dạy của Đức Thế Tôn, ứng dụng vào trong đời sống thường ngày để được an lạc, hạnh phúc hiện tại và tương lai.

Thích Lệ Nhật 
www.thienphuoctu.net
Sưu tầm: Hoa Nghiêm

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Không Bao Giờ Hết Tu



Ngay cả đối với những người đang theo một nếp sống khắc khổ như trong tu viện, sự buông bỏ những thói quen huân tập từ lâu đời lâu kiếp cũng không bao giờ dễ dàng được. Chúng ta hành xử dựa theo những phán đoán trong những giá trị mà chúng ta đã chọn sẵn, phân biệt những hình tướng mà mắt chúng ta nhìn thấy, phân biệt những âm thanh mà tai chúng ta nghe, phân biệt những mùi mà mũi chúng ta ngửi. Chúng ta phân biệt những vị mà lưỡi chúng ta nếm, tưởng tượng đủ thứ qua xúc giác cảm thấy ngoài da, lập thành những định kiến trong ý thức. Chúng ta so sánh và đối chiếu tất cả mọi thứ mà chúng ta gặp. Ðối với tôi, không phải là điều đơn giản để thoát ra khỏi thói quen làm việc như thế của tâm trí vào kinh nghiệm được một cách thuần túy và trực tiếp sự đồng nhất thể giữa cái ta và ngoài ta. 

Ðể có thể nắm trọn tức thời mọi tình thế xẩy ra, một hiện tượng được gọi một cách triết lý hơn là sự “kinh nghiệm thuần túy”, tôi phải vượt qua được nỗi sợ hãi cái chết. Tôi phải thú nhận rằng từ trước cho đến khi có được kinh nghiệm này trong tu viện, đời sống của tôi chỉ toàn là một sự nối tiếp không ngừng của những nỗi khổ thể xác và tinh thần. Tôi xin kể lại đây một sự việc ngu xuẩn đã xẩy ra khi đi khất thực, ở trong thời kỳ mà dù ngủ hay thức, công án cũng tràn ngập trong đầu óc của tôi và ý nghĩ duy nhất của tôi lúc đó chỉ là “Tôi muốn được giác ngộ... tôi muốn được giác ngộ...” Không để ý đến cái gì đang ở trước mặt hay sau lưng, tôi đã đâm sầm vào một vật gì; nhìn lại thì hóa ra tôi đã đâm bổ vào mông của một con bò! Ngay lúc vừa nhận ra tôi đã đâm vào mông con bò, ngoài sự ngạc nhiên ra, điều đầu tiên tôi biết được trong tâm là “Ồ, giác ngộ chính là đây!” 

Trong nội tâm chúng ta có những khán giả kiên cố nhất, luôn luôn phê bình và phán đoán tình trạng của mình. Ngay cả khi người ta đã đến tình trạng hoàn toàn kiệt lực, trong tâm trí thường có một người bảo vệ vốn hay phân biệt và không bao giờ quên được cái “ta”, vẫn luôn luôn bận rộn ở đó, thì thầm bỏ nhỏ đủ mọi thứ linh tinh tầm phào. Trường hợp của tôi, bị chi phối bởi chút kiến thức và kinh nghiệm nhỏ nhoi mà tôi đã huân tập, cái giọng nói bảo vệ kia cũng thì thầm một điều vô căn cứ nhất như sau: “Nếu ta cứ tiếp tục như thế này, ta sẽ chết mất. Phải ngừng ngay đi thôi.” 

Tọa thiền rồi lại tọa thiền, tôi chẳng gặt hái được gì ngoài sự buồn nản và mệt mỏi; cả đầu óc lẫn thân thể tôi bắt đầu không hoạt động được bình thường. Ý nghĩ tôi sẽ chắc chắn phải chết nếu cứ tiếp tục như thế này cứ lởn vởn biết bao nhiêu lần, làm gián đoạn sự tu tập của tôi. Nhưng để cho bạn được biết kết cuộc trước khi diễn giải lại, tôi có thể nói là mọi sự đã không hề đi đến cái ngõ rẽ mà tôi đã lo sợ ấy. Sự kiệt lực và những nỗi khổ tận cùng không làm cho chết đi được, mà trái lại, đã biến thái theo một đường vòng và đi trở về ngay chỗ khởi điểm mà tôi đã bắt đầu. Một đêm nọ, vào lúc nửa đêm, tôi đang ngồi với cả một khối mệt mỏi đè nặng trên cái gối tọa thiền, đầu óc và tâm trí như mê muội đi trong một tình trạng mơ hồ, không còn cả sức lực để khơi dậy cái ước muốn được giác ngộ nữa; thì đột nhiên, màn sương mù dầy dặc bao phủ bỗng tan ra và cả một thế giới sáng tỏ chợt hiển hiện. Thấy rõ ràng, nghe rõ ràng, nhưng đó là một thế giới trong đó không còn thấy có cái “tôi”! Tôi không thể nào cắt nghĩa cho đầy đủ trạng thái ấy như thế nào. Nếu cố tìm cách giảng giải sẽ bị lạc qua một hướng khác. Có một điều tôi chắc chắn là trong giây phút ấy, tôi đã nhận thức được tính thanh tịnh hoàn toàn của tâm thể tôi đã có ngay khi vừa sinh ra đời. Tôi không thể nào đè nén được sự hoan lạc dâng trào. Không muốn về phòng đợi đến tiếng chuông đánh thức sáng mai, tôi đã đột xuất đi gặp thầy và được ngài cho phép rời chùa trong vòng hai tiếng đồng hồ để đi báo tin về kinh nghiệm này cho lão sư Zuigan. 

Tôi đi bộ qua bóng đêm tối đen, về chùa Daishuin trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ. Khi tôi tới nơi, Lão sư vẫn còn nằm trong giường ngủ. Tôi bò đến gần gối của ngài, nói gọn, “Rốt cuộc, con đã thấy rồi.” 

Lão sư ngồi bật dậy, chăm chú nhìn tôi một lúc thật soi mói, rồi nói, “Bây giờ mới là bắt đầu . Mới là bắt đầu thôi. Hãy an trụ cho vững chãi.” 

Ðó là tất cả những gì ngài đã nói với tôi. Từ lúc đó cho đến mười sáu năm về sau, cho đến khi tôi bước vào tuổi bốn mươi và Lão sư Zuigan qua đời vào tuổi tám mươi bẩy, dù ở trong thiền viện hay nơi tự viện, tôi cũng vẫn tiếp tục tham công án. Không, tôi phải nói rằng tới bây giờ tôi vẫn còn tiếp tục. Ở đây không phải chỉ là vấn đề của công án Thiền, mà là vấn đề công án sống thực của cuộc đời con người, vẫn tiếp tục mãi mãi vô hạn định. 

Thức tỉnh thấy được bộ mặt bản lai của mình -- “giác ngộ” -- không có nghĩa là khả năng có thể giải thích con người của mình hay biết được nguồn gốc của mình. Giác ngộ là sự giải thoát khỏi những vướng mắc của kiến thức và kinh nghiệm riêng tư đã tích lũy và bám chặt từ lâu đời lâu kiếp mà chúng ta không hề hay biết, như những chất cặn đóng lại hay chất cholesterol bám chặt trong mạch máu của chúng ta vậy. Ðó là sự biểu hiện linh động, sống thực của cái tâm nguyên thủy đã có sẵn khi chúng ta sinh ra … cái tâm không hình tướng, không trí óc, không trụ vào đâu cả, cũng không bám theo sắc trần hay tư tưởng, nhưng lúc nào cũng chuyển vận thật năng động. Nói cho cùng, giác ngộ không phải là điểm chung cuộc, mà là điểm khởi đầu nhiều hơn. 

Tôi đã nói rất dài dòng về cuộc đời trong một thiền viện, một vấn đề có vẻ như hoàn toàn không dính dáng gì đến cuộc đời riêng tư của bạn đọc. Tuy nhiên, tất cả mọi người, không cần biết họ sống cuộc đời như thế nào, đều xem bản thân mình là quý hơn hết thẩy. Tất cả mọi người đều muốn được hạnh phúc. Và giác ngộ là điểm khởi đầu của nguồn hạnh phúc. Chúng ta có thể dùng chữ “niềm tin nơi con người thực “ thay cho chữ “giác ngộ”. Niềm tin nơi con người thực sự của mình là một điều cần yếu để đưa đến hạnh phúc. 

Năng lực của niềm tin nơi chính mình không đạt được nhờ sự tu luyện. Năng lực rộng lớn ấy vượt trên sắc thân của chúng ta, chính nó đã đem sự sống vào con người chúng ta. Mục đích của sự tu Thiền là đánh thức năng lực sẵn có ấy mà chúng ta đã quên mất đi, chứ không phải để lấy vào một năng lực mới nào. Khi bạn đã tìm kiếm và tìm kiếm đến tận cùng, bạn sẽ nhận ra cái mà bạn đã sẵn có từ lúc ban đầu -- ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu tìm kiếm -- là tràn đầy nhiệm mầu như thế nào. Sau khi bạn đã gõ cửa không ngừng và liên tục, bạn mới nhận ra là thật ra cửa đã mở rộng ngay cả từ trước khi bạn bắt đầu đập tay vào. Tu chính là để đem điều đó lại cho chúng ta. 

Không chỉ ở những nơi chốn được đặc biệt lập ra cho sự tu tập, mà bất cứ lúc nào và ở đâu, một con người nỗ lực trong sự trang nghiêm, không lo lắng gì đến kết quả và không lùi bước trước những sự thất vọng, là một người chân tu, một người thực sự đi theo con đường Ðạo. Tôi tin tưởng rằng chỉ một điều đó cũng là một hình thức đem lại sự an vui lợi lạc cho con người.

Trích: TỪ NỤ ĐẾN HOA (FROM NOVICE TO MASTER) 
Thiền sư: Soko Morinaga 
Biên dịch: Thuần Bạch Ngọc Bảo
Đăng bởi Cội Nguồn
Sưu tầm: Giới Nghiêm

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Mọi Người Sùng Bái Ta Đến Thế



(PGVN) Đức Đạt Lai Lạt Ma đã dạy: “Đẹp không phải là hút người vào, mà là giữ người ở lại”. Vẻ đẹp quý giá nhất xuất phát từ nội tâm chứ không phải từ những thứ phù phiếm bên ngoài. Có nhận thức được sâu sắc điều ấy chúng ta sẽ luôn giữ được sự tỉnh táo khi nhìn nhận mọi việc.

Tôi có một câu chuyện muốn kể cho các bạn nghe: Một ngôi chùa trên núi có nuôi một con lừa. Mỗi ngày nó đều ở trong phòng xay thóc lúa, vất vả cực nhọc kéo cối xay. Thời gian lâu dần, lừa ta bắt đầu chán ghét cuộc sống vô vị này. Mỗi ngày nó đều trầm tư, “nếu như có thể ra ngoài xem xem thế giới bên ngoài, không cần kéo cối xay nữa, như thế thật là tốt biết mấy!”

Không lâu sau, cơ hội cuối cùng đã đến, vị tăng nhân trong chùa muốn dẫn lừa xuống núi để thồ hàng, lòng nó hứng khởi mãi không thôi. Đến dưới chân núi, vị tăng nhân đem món hàng đặt lên lưng nó, sau đó trở về ngôi chùa. Thật không ngờ, khi những người đi đường trông thấy lừa, ai nấy cũng đều quỳ rạp ở hai bên đường cung kính bái lạy. 

Lúc bắt đầu, lừa ta không hiểu gì cả, không biết tại sao mọi người lại muốn dập đầu bái lạy nó, liền hoảng sợ tránh né. Tuy nhiên, suốt dọc đường đều như vậy cả, lừa ta bất giác hiu hiu tự đắc hẳn lên, lòng thầm nghĩ: “Thì ra mọi người sùng bái ta đến thế”. Mỗi khi nhìn thấy có người qua đường thì con lừa lập tức sẽ nghênh ngang kiêu ngạo đứng ngay giữa đường phố, yên dạ yên lòng nhận sự bái lạy của mọi người. Về đến chùa, lừa ta cho rằng bản thân mình thân phận cao quý, dứt khoát không chịu kéo cối xay nữa. Vị tăng nhân hết cách, đành phải thả nó xuống núi.

Lừa ta vừa mới xuống núi, xa xa đã nhìn thấy một nhóm người đánh trống khua chiêng đang đi về phía mình. Lòng nghĩ, nhất định mọi người đến để nghênh đón mình đây mà, thế là nghênh ngang đứng ngay giữa đường lộ.

Thực ra, đó là đoàn người rước dâu, đang đi lại bị một con lừa chắn ngang đường. Người nào người nấy đều rất tức giận, gậy gộc tới tấp. Lừa ta vội vàng hoảng hốt chạy về chùa. Khi về đến nơi thì cũng chỉ còn lại chút hơi tàn. Trước khi chết, nó căm phẫn nói với vị tăng nhân rằng: “Thì ra lòng người hiểm ác đến thế, lần đầu khi xuống núi, mọi người đều đảnh lễ bái lạy ta. Nhưng hôm nay họ lại ra tay tàn độc với ta”. Nói xong liền tắt thở.

Vị tăng nhân thở dài một tiếng: “Thật đúng là một con lừa ngu ngốc! Hôm đó, thứ mà mọi người bái lạy chính là bức tượng Phật được ngươi cõng trên lưng mà thôi”.

Đức Phật đã từng dạy: “Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối bạn nhất thời nhưng nó lại gạt bạn suốt đời”. Điều bất hạnh lớn nhất trong đời người, chính là sống cả một đời mà không nhận thức được bản thân mình. 

Đôi khi chúng ta là chính mình, nhưng cũng có những lúc ta đánh mất bản thân. Có những lúc để nhận thức được bản thân còn khó hơn cả việc nhận thức được thế giới xung quanh. Mỗi ngày chúng ta đều soi gương, nhưng khi soi gương, có ai từng hỏi bản thân mình một câu rằng: “Bạn đã nhận thức được chính mình chưa?”

Nếu như bạn có tiền tài, điều người ta sùng bái chẳng qua là tiền tài của bạn, chứ không phải chính bản thân bạn. Nhưng bạn lại ôm ảo vọng rằng họ đang sùng bái mình. Nếu như bạn có danh vọng, điều người ta tôn kính chẳng qua là danh vọng của bạn, chứ không phải chính bạn. Nhưng bạn lại lầm tưởng rằng người khác đang tôn kính mình. 

Nếu như bạn có dung mạo đẹp đẽ, điều người ta mến mộ chẳng qua chỉ là dung mạo đẹp đẽ mà tạm thời bạn đang có, chứ không phải chính bạn. Nhưng bạn lại hoang đường cho rằng người khác đang ngưỡng mộ chính bản thân mình.

Khi tiền tài, danh lợi, vẻ đẹp của bạn không còn nữa, thì cũng là lúc bạn bị vứt bỏ. Có bao giờ bạn nghĩ đến điều ấy chưa?

Chỉ vì chạy theo những thứ phù du ấy mà chúng ta dần lãng quên đi bản thân mình. Quên mất giá trị của một con người xuất phát từ nội tâm chứ không phải những thứ bề ngoài, lao tâm khổ sở vì nó thật là điều bất hạnh nhất trên đời.

“Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ. Chính vì bạn hiểu nó quá ít, bạn không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi bạn hiểu sâu sắc bạn sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của bạn”.

Thứ người khác tôn sùng bạn cũng vậy, đó chẳng qua chỉ là những thứ họ không có nên họ thấy nó đáng quý và đáng trân trọng. Rồi họ cũng tôn kính luôn người có nó. Nhưng khi bạn mất đi thứ họ thường tôn quý thì họ cũng quay lưng đi với bạn mà thôi.

Vậy nên hiểu rõ chính bản thân là điều vô cùng quan trọng và cần thiết. Bài học từ con lừa đã giúp tôi nhận thức sâu sắc được điều ấy. Tự hiểu rằng những giá trị vật chất không bao giờ có thể trường tồn. Chỉ có vẻ đẹp nội tâm mới có thể làm lay động lòng người. Như Đức Đạt Lại Lạt Ma đã dạy: “Đẹp không phải là hút người vào, mà là giữ người ở lại”. Vẻ đẹp quý giá nhất xuất phát từ nội tâm chứ không phải từ những thứ phù phiếm bên ngoài. Có nhận thức được sâu sắc điều ấy chúng ta sẽ luôn giữ được sự tỉnh táo khi nhìn nhận mọi việc.

Khi đã nhìn thấu được chân tâm bản tính của mình và tạo dựng được đời sống nội tâm sâu sắc thì bạn hãy luôn tin rằng dù bạn ở đâu đi chăng nữa, có mang một dung mạo không ưa nhìn thì cũng luôn có những người ở bên và yêu thương bạn thật sự. Bởi có những điều chỉ có thể nhìn được bằng trái tim chứ không phải từ đôi mắt.

“Hình thức quyến rũ lúc gặp mặt
Tâm hồn quyến luyến lúc chia tay”.

Nguyễn Linh Chi
Bài viết có tham khảo: http://senvangtv.com/2015/09/01/bai-hoc-tham-thuy-ve-ve-be-ngoai/
Sưu tầm: Giới Nghiêm


Thứ Hai, 1 tháng 2, 2016

Quá Cảnh Trần Gian




Quá cảnh trần gian lạc bến tình
Tình vui phơi phới buổi bình minh
Thuyền lòng thả nổi không người lái
Đâu ngờ, trôi dạt chốn điêu linh..
Ghé cảnh giàu sang mượn tiếng cười
Vẳng sau cánh cửa lắm than ôi,
Nghe nơi hạnh phúc đôi dòng lệ
Người sống bên người vẫn lẻ loi!
Đến chốn kịch trường mua chút vui
Mơ chút danh thơm sống ở đời
Gặp bao ''con mắt hình viên đạn''
Đố kỵ, hờn ghen.. khiến rã rời..
- Chiều ngang qua phố trút nỗi buồn
Ly đầy, ly cạn.. lại buồn hơn!
Ai biết trần gian là quán trọ
Ai lấp cho đầy nỗi.. trống trơn?
Quá cảnh nhân gian mượn áo người
Mặc vào ngộ nhận áo là tôi,
''Áo vũ cơ hàn'' hay gấm lụa
Hẳn mốt mai về, trả lại thôi!
Quá cảnh trần gian mỏi gót chân
Khóc, cười, vinh, nhục điệu xoay vần.
Thôi về, giả biệt đời sân khấu
Mỉm cười bước nhẹ dưới hiên trăng..

Thích Tánh Tuệ
Theo Thư Viện Hoa Sen
Sưu tầm: Hanh Nghiêm