Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

Cách Đơn Giản Để Đuôi Gián, Muỗi, Kiến Mà Không Phải Giết Chúng



Sau đây tôi xin giới thiệu một diệu kế không cần sát sinh mà vẫn có thể đuổi được kiến, muỗi, và gián. Bây giờ tôi nhìn thấy gián, không sợ nữa rồi. Sau 1 tuần trong nhà tôi không còn những con côn trùng khó chịu kia nữa! Chỉ cần làm như sau:
Bạn biết con gián sợ nhất cái gì không?

Gián sợ nhất mùi thơm, vậy thì đã có xà phòng!

Những con gián thường thích sống ở những nơi tối, ẩn náu trong nhà bếp của chúng ta.
Biện pháp của tôi đưa ra để đối mặt với những con gián “đánh hoài không hết” kia là cắt xà phòng thành từng miếng nhỏ, đặt ở trong nước, sau đó đặt vào trong tủ có gián, một vài ngày sau, khi bạn mở tủ ra bạn sẽ rất ngạc nhiên khi không thấy hình bóng của một con gián nào cả, hơn nữa tủ còn thơm mùi của xà phòng.
Nếu bạn muốn tác dụng kéo dài thêm, bạn phải thường xuyên thêm xà phòng vào nước.

Kiến sợ nhất vị chua, vậy thì đã có những quả chanh!

Chúng ta chỉ cần để những đồ ăn ngọt trong vài phút là cả đàn kiến đã kéo tới, khiến cho chúng ta không khỏi bực mình. Theo kinh nghiệm của tôi, có một cách an toàn, hiệu quả mà không độc hại. Bạn cắt đôi quả chanh thành hai phần, quan sát nơi sinh sống và đường đi của kiến, vắt nước cốt chanh vào, đồng thời cắt phần thịt của quả chanh xát lên đường đi và xung quanh nơi ở của kiến, và bạn sẽ thấy điều kỳ diệu của thiên nhiên!

Muỗi sợ vị cay, có tỏi ở đây rồi!

Tôi rất thích trồng hoa, nhưng trồng bao nhiêu hoa thì bấy nhiêu muỗi, chúng cắn tôi nổi bao nhiêu là nốt!
Ngày nọ, một người bạn đưa cho tôi một túi tỏi, mẹ tôi dùng một chút để nấu ăn, phần còn lại tôi trồng trong vườn hoa trong bốn tuần, chúng tỏa ra những hương vị cay đặc biệt. Và điều đáng ngạc nhiên đó là những con muỗi thường ngày hay thấy đều biến mất, ngay cả khi trời mưa chúng cũng không xuất hiện.
Vì vậy, để tiêu trừ muỗi ngoài việc dọn dẹp nhà cửa, cắt những lá cây bị hỏng, thối, thì bạn hãy thử cách trồng tỏi như tôi đã nói ở trên!

Những phương pháp không cần đánh chết muỗi đó là:

1. Hòa tan viên vitamin C và vitamin B2 trong nước, bôi lên da, cách này sẽ khiến cho muỗi không dám đến gần bạn
2. Treo rèm cửa có màu cam, hoặc trùm lên đèn miếng giấy bóng kính có màu cam, từ đó muỗi sẽ sợ ánh sáng màu cam mà bay đi hết.
3. Treo mấy cọng hành dưới đèn, hoặc dùng miếng vải gạc gói mấy cọng hành lại, sẽ không có một con muỗi nào bay tới, hoặc đặt hai chậu hoa nhài, hoa lan, hoa hồng vào trong phòng, cách này cũng có thể đuổi được muỗi.

Những diệu kế đuổi gián:

1. Dùng dưa chuột tươi để đuổi gián:
Bạn có thể để 1 đĩa dưa chuột tươi trong tủ để thức ăn, gián sẽ không bén mảng tới khu vực tủ thức ăn của bạn. Sau 2 đến 3 ngày để dưa chuột, bạn hãy cắt quả dưa chuột đó, mùi dưa sẽ đuổi được gián.

2. Dùng lá đào tươi:
Bạn hái mấy lá đào, đặt vào nơi có gián, gián ngửi thấy mùi lá đào sẽ nhanh chóng chạy mất.

3. Dùng hành tây để đuổi gián
Nếu bạn để một đĩa hành tây đã cắt ở trong phòng, khi gián ngửi thấy mùi hành tây, sẽ chạy đi, đồng thời cách này cũng giữ cho thức ăn khác không bị biến chất.

Trên đây là các mẹo thực sự rất hữu ích. Nếu bạn biết các cách hiệu quả khác để đuổi côn trùng, hãy chia sẻ với mọi người trong phần bình luận nhé!

Theo NTDTV Biên dịch: Mai Anh
Đăng bởi Cội Nguồn 
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2016

Nan Đà Tôn Giả



Ðã mấy năm qua. Từ ngày chứng nghiệm chân lý dưới gốc cây Bồ Ðề, Ðức Phật Thích Ca đã đặt chân lên nhiều kinh thành, nhiều thôn dã, nhiều đất nước để truyền bá đạo Từ Bi. Hàng đệ tử của Ngài càng ngày càng đông.

Trên con đường giải thoát cho nhân loại không biên giới ấy, một hôm kia, Ðức Phật trở về đất nước quê hương, nước Ca Tỳ La Vệ. Ngài thấy nhân loại đáng thương đang chìm trong sự lôi cuốn của cuộc đời có bà con thân thuộc mình, có… em Ngài, Hoàng tử Nan Ðà.

Hoàng tử Nan Ðà là em cùng cha khác mẹ với Ðức Phật. Lúc Phật xuất gia, Nan Ðà còn tấm bé, Nan Ðà chỉ buồn thoang thoảng vì thiếu sự chăm sóc chỉ bảo của một người anh hiền từ. Thế thôi. Và tuổi trẻ cũng mau quên. Nan Ðà lớn lên trong sự hầu hạ ân cần cẩn thận của cung vua. Không như anh. Nan Ðà buông theo các thú vui. Cuộc đời bó hẹp lại, nhỏ dần trước mắt người thanh niên ham mê sắc dục. Nan Ðà chỉ còn thấy các mỹ nữ trong giọng hát, trong điệu múa, trong những cuộc truy hoan…

Phật trở về giữa sự vui mừng của dân chúng. Ngài ở Tịnh xá và hàng ngày mang bình bát đi khất thực và truyền đạo như trong khi Ngài ở các nước khác. Lối sống bình dị ấy làm mọi người thán phục. Ðời sống của kinh thành xáo trộn. Vàng bạc không còn là cứu cánh. Lòng thương yêu nhau, thương yêu đến cả các sinh vật được xem là cao quí. Người ta đã thấy những gì chắc thật của cuộc đời, thú vui chỉ là mong manh chốc lát.

Nhà vua đã mở nhiều cuộc bố thí, giảm nhẹ thuế má cho dân chúng.

Về phần Nan Ðà, Nan Ðà cũng cảm thấy vui. Những hình ảnh tươi đẹp của những năm xưa hiện lên. Nhưng trong hai người như có một cái gì khác nhau nhiều lắm, nên Nan Ðà chưa dám gặp Phật. Nghe những lời ca ngợi về lòng nhân ái, về cuộc sống bình dị của Ðức Phật, Nan Ðà tự đối chiếu với mình. Và đã có lúc chàng nghiệm thấy một cái gì mong manh, chóng tàn trong những cuộc vui say, trên nét nhăn mệt mỏi của những mỹ nữ qua những cuộc múa ca.

Một hôm, Nan Ðà thức dậy sau một giấc ngủ dài mệt mỏi. Mặt trời đã lên cao. Chưa kịp sửa soạn, chàng đã thấy Ðức Phật đang tiến vào nhà. Phật khoác chiếc y vàng, tay cầm bình bát, Ngài đi khoan thai như lùa vào đây tất cả những ánh sáng trong lành của buổi mai.

Phật không khác xưa nhiều lắm, vẫn gương mặt hiền lành nhưng thêm phần sáng suốt. Tất cả những hình ảnh trên diễn ra trước mắt Nan Ðà đang đứng ngây người nhìn. Ðức Phật tiến lạI gần, ân cần hỏi han. Lời nói của Ngài dịu dàng làm cho Nan Ðà nhớ lại những ngày vui vẻ thuở xưa, hồi ấy Nan Ðà nhìn đời một cách đẹp đẽ. Rồi Ngài nói với Nan Ðà:

- Từ lâu, ta vẫn thấy bên trong ra có phụ hoàng và em. Chính trong mục đích giải thoát cho loài người rộng lớn và cho những người thân thuộc mà ta thấy được đạo lý. Ta biết em đang khao khát chân thật. Ta đi trước em, ta đã biết rằng hạnh phúc chân thật không thể tìm ở đâu khác ánh đạo. Ánh đạo ấy ta đem về cho em đây.

Nan Ðà im lặng, cảm động. Người đứng trước mình là anh, là thầy, là ân nhân? Nan Ðà thấy trong người rạo rực một mối tình muốn hướng về đường lành. Chàng cúi xuống thân mến ôm bàn tay của Ðức Phật đang đưa ra nâng chàng dậy. Ðức Phật âu yếm:

- Ðường ta đi sáng như sao nhưng khó khắn trở lực không phải là ít. Mà có sự thành đạt nào không phải mua bằng gian lao, ta đã nghiệm điều đó. Biết em có đủ trí lực để vượt qua không?

Nan Ðà ngẫm nghĩ rồi nguyện theo Phật. Chàng sửa soạn rất nhanh chóng. Phật đã tiến ra cửa. Ngài bước đi, Nan Ðà theo Ngài, tuy lòng đang dâng lên một cái gì âm ấm, trong sáng như ánh nắng và trời đất tươi đẹp bên ngoài. Hai người cùng tiến về Tịnh xá.

Ðến Tịnh xá, Phật bảo các đệ tử săn sóc cho Nan Ðà. Người ta thay chiếc áo gấm xanh và khoác cho chàng chiếc áo nâu bằn vải. Người ta dành cho chàng một phòng rộng ngó ra vườn hoa. Nan Ðà ngồi xuống chiếc ghế mây rồi nhìn ra vườn. Trăm hoa đang mở rộng tung cánh để đón ánh trời, màu hồng tươi mát của đào. Màu vàng dịu của mai, màu trắng như tuyết của huệ, nổi bật lên trên màu xanh tươi của lá cây. Ðây đó một vài đạo sĩ đang ngồi trên các phiến đá trầm tĩnh niệm Pháp. Trong cái yên lặng, lâu lâu có điểm một tiếng chuông ngân dài. Nan Ðà thấy một sức sống mạnh mẽ của muôn cây, một sự rạo rực hướng về đạo của con người. Thật là một thay đổi cực kỳ lớn lao trong tâm hồn vị Hoàng tử thanh niên.

Nhưng rồi có những lúc Nan Ðà thiêu thiếu một cái gì. Chàng tiếc rẽ cái áo gấm chăng? Ðâu phải thế! Trước đây cũng có nhiều lần chàng áo ước cởi bỏ nó đi để được mát mẻ. Chàng tiếc một cái gì? Ðó là các sinh hoạt cũ, cái lối ăn chơi say sưa bên cạnh những người vũ nữ có bàn tay ngọc ngà, có thân hình mềm mại.

Ðức Phật thừa hiểu rằng trong một sớm một chiều, Nan Ðà chưa thể giác ngộ được chân lý nên chú ý đến Nan Ðà nhiều hơn các đệ tử khác. Một hôm, có người mời Phật đi thọ trai, Ngài không đưa Nan Ðà đi mà còn kêu đến đưa bình bát cho và dặn nhà múc nước đổ vào cho đầy.

Ðược ở nhà, Nan Ðà là vui thích vì chàng thấy có cơ hội trở về thăm cung điện và các mỹ nữ. Biết như thế là sai lầm nhưng có một sức mạnh nào thúc đẩy mãnh liệt. Dầu sao, Nan Ðà cũng không quên lời Phật dặn “đổ nước vào bình bát” mà chàng không biết đổ để làm gì. Cái bình bát nhỏ bè này, hãy đổ vào một gàu là đầy ngay và rồi sẽ trở về thăm cung điện cũng không muộn. Nan Ðà đem bình bát ra giếng. Chàng xách lên gàu nước và đổ nước vào. Chàng cẩn thận để nước khỏi đổ ra ngoài. Lạ quá! Gàu nước đồ hết rồi mà sao không thấy nước tràn lên miệng bình. Nan Ðà cúi xuống xem bình bát có bị nứt không. Tuyệt nhiên không một đường rạn nào, lớp men vẫn liền láng. Chàng múc gàu nước thứ hai, thứ ba, thứ tư và liên tiếp nhanh tay đổ vào. Lạ thật, không có nước chảy ra ngoài mà nước đổ vào biến đi đâu cả.

Nan Ðà đã mệt nhoài mà bình bát vẫn không được một tí nào cả. Làm sao để về thăm cung điện? Nôn nả quá, chàng để bình bát ngay bên giếng và vụt chạy đi, hẹn trong lòng chốc trở lại sẽ tiếp tục đổ nước vào.

Chạy được một quảng, Nan Ðà thấy ở xa có đoàn người đi ngược lại. Chàng dừng lại nhìn. Khốn rồi! Chính Phật và đoàn đệ tử thọ trai về. Nan Ðà biết không có cách nào tránh khỏi, bèn nép bên đường, cúi mặt nhìn xuống đất. Phật đến bên Nan Ðà hiền lành bảo:

- Thôi! Trở lại. Em hãy còn lời hứa đối với ta, còn công việc ta giao chưa làm xong. Hãy tự chiến thắng mình mới đi đến đích cuối cùng.

Nan Ðà đi theo Ngài cùng trở về Tịnh xá.

Năm hôm sau, trong cuộc du hành thuyết pháp ở cõi trời, Phật cho Nan Ðà đi theo, Nan Ðà mừng lắm.

Ðấy là một trong những cõi trời đẹp đẽ và hạnh phúc nhất. Không biết bao nhiêu lâu đài tráng lệ nguy nga. Những chiếc bàn, những độc bình bằng thủy tinh muôn màu rực rỡ. Những vườn hoa với các cây xanh mướt, quanh năm hoa nở thắm tươi và tỏa mùi hương nồng ấm. Ánh sáng một màu huyền ảo. Mặt trời không gay gắt, ban ngày vẫn có sao sáng và ban đêm trời luôn luôn sáng, thứ ánh sáng vàng trắng của những đêm rằm.

Phật đưa Nan Ðà đến một cung điện rực rỡ. Các tiên ông râu bạc trắng ra đón tiếp. Phật thuyết pháp cho họ nghe. Trong lúc đó các nàng tiên mời Nan Ðà đi xem khắp nơi. Chỗ nào Nan Ðà cũng tấm tắc khen ngợi. Rồi các nàng tiên múa cho Nan Ðà xem. Những gương mặt tươi đẹp như chưa bao giờ lo buồn, các điệu múa uyển chuyển như còn gởi mãi trong không gian các đường nét mềm mại. Sau đó Nan Ðà hỏi họ:

- Ai sẽ có vinh hạnh hưởng cảnh sống êm đẹp trong những cung điện ở đây?

Các nàng tiên nhỏ nhẹ thưa:

- Cung điện, vườn hoa, ánh sáng ở đây đang chờ đón một người tên là Nan Ðà, nếu người ấy tu hành được chánh quả.

Nan Ðà sung sướng nhẹ nhõm khi theo các nàng về cung điện.

Trên đường về Tịnh xá, Nan Ðà định hỏi Phật xem lời các nàng tiên nói có đúng không, nhưng không dám, chỉ tự bảo với mình phải cố gắng tu tập. Nhưng biết đến bao giờ mới lên cõi trời sung sướng. Nan Ðà nôn nả nên thiếu thái độ hiền từ, tĩnh tâm, định trí. Và cái hăng hái của những ngày mới trở về lần lần phai nhạt.

Một thời gian sau, Phật lại chuẩn bị một cuộc đi truyền thuyết xa và Nan Ðà cũng được đi theo. Lần này Phật dẫn chàng xuống địa ngục.

Ðịa ngục bày ta trước mắt Nan Ðà trước những cảnh tượng ghê rợn. Ðây là một người đàn ông bị ép dưới một tản đá khổng lồ. Tảng đá lún dần, lún dần trong tiếng kêu thắt nghẹn trong tiếng răng rắc của bộ xương ngực, xương tay, xương chân đang dập nát. Ðây là một người đàn bà mang trên đầu một vành lửa đỏ. Tóc của người ấy cũng cháy khét lẹt; và tay bị trói chặt ra phía sau, người đàn bà vừa chạy vừa kêu không ra tiếng người. Nan Ðà biết những hình phạt ấy là do sự tàn ác của họ ở kiếp trước nên im lặng đi theo Phật. Gương mặt của Ngài tỏ vẻ vô cùng thương xót và Ngài cầu nguyện cho họ.

Ðến một đoạn nữa, Nan Ðà thấy trước mặt có năm chảo dầu xếp thành hành dài trước mặt một cái đền tối om. Năm con quỷ đang sắp sửa đun lửa. Trong bốn cái chảo đã có bốn người không rõ là đàn ông hay đàn bà. Lửa đỏ, dầu gần sôi. Người trong chảo vẫy vùng, chồm lên rồi lại rơi xuống. Tiếng kêu của họ tắt đi trong tiếng sôi sùng sục của dầu, tiếng củi cháy phừng phực. Nan Ðà đến gần con quỷ coi chảo dầu thứ năm và hỏi:

- Tại sao trong nầy lại không có người nào?

Con quỷ không nhìn Nan Ðà, chăm chú coi lửa và trả lời:

- Chảo không này cứ đun sẵn, để dành riêng cho một người tên là Nan Ðà nếu người ấy biếng nhác, không lo tu tập.

Nan Ðà giật nẩy mình và không dám hỏi thêm gì nữa.

Từ độ ấy về, Nan Ðà không một chút nào dám xao nhãng việc tu niệm, chàng lo tụng niệm, thuộc làu kinh kệ. Mãi đến chiều chiều, Nan Ðà mới để một ít thì giờ đi dạo ngoài vườn Tịnh xá.

Nhưng có một điều là chàng đến chỗ nào, người chỗ ấy đều lánh đi nơi khác. Nan Ðà bực lắm. Có một hôm Nan Ðà đến gặp Ngài A Nan, Ngài A Nan là em họ chàng và là đệ tử yêu mến nhất của Ðức Phật. Thấy Nan Ðà đến, Ngài A Nan cũng lánh đi nơi khác. Không thể giữ nổi sự bực bội trong lòng, chàng đến trước mặt Ngài A Nan là lấy lời kính cẩn thưa:

- “Xin chú cho tôi biết vì lẽ gì các Ngài và chú lại không muốn gặp tôi. Tôi tưởng đã ở một đạo với nhau, hơn nữa lại là bà con, chú cũng không nên đối xử với tôi như thế”.

Ngài A Nan biết không còn cơ hội nào tốt hơn cơ hội nầy để trình bày cho Nan Ðà rõ đầu đuôi nên ôn tồn bảo:

- Chúng ta tuy theo một đạo nhưng mục đích chúng ta không giống nhau. Anh nhắm một mục đích khác. Anh tu hành để được lên cõi tiên, để sống trong hạnh phúc, riêng anh, tu hành vì cảnh khủng khiếp của địa ngục. Anh Nan Ðà ơi! Mục đích của anh hẹp hòi. Phải lấy sự đau khổ của chúng sinh làm đau khổ của mình, xem thường tài sản và tính mệnh của mình, phát tâm thực hành lục độ để giải thoát vô lượng chúng sanh. Ðó là mục đích của thầy ta, của chúng ta, của những người tu hành chân chính.

Ngài A Nan dừng lại để Nan Ðà kịp suy nghiệm. Rồi âu yếm nhìn Nan Ðà Ngài nói tiếp.

- Anh Nan Ðà ơi! Ðường tu hành còn dài lắm, cho đến khi nào chúng sinh không còn khổ đau. Cho nên không nhìn một mục đích cao rộng, ta sẽ dễ nản lòng thối chí như anh, đã có lần muốn bỏ dỡ công cuộc nửa chừng. Phải can đảm lên anh ạ! Quả lành sẽ đến với chúng ta.

Lời Ngài A Nan đi thẳng vào tâm can, vào trí óc A Nan. Từ đó Nan Ðà công phu tu luyện với mục đích cao quý giải thoát cho chúng sanh và một ngày kia, bước theo A Nan, Nan Ðà trở thành một đệ tử chân chính của Ðức Phật, trở thành Nan Ðà tôn giả đáng kính mến muôn đời của chúng ta.

Luân hồi nhân quả không sai
Không tu ắt phải đọa đày khổ thân.

Quãng Huệ

Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2016

Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh đã tự ăn cơm một mình là một phép lạ



Tôi đã chia sẻ sự kiện này với nhiều người, trong đó có 2 vị thiền sư - một vị ở Vạn Giã (Nha Trang) một vị ở Mỹ Tho (Tiền Giang) tất cả đều cùng đồng ý rằng : Thầy đã vượt thoát mọi biên kiến nhị nguyên, đã đạt thiền và từ lâu người vẫn đến đi thong dong tự tại - một thứ tự do đích thực trong cõi tử sinh. Thầy là một minh chứng sống cho tất cả những gì mà ba tạng Kinh, Luật, Luận ghi chép qua 26 thế kỷ.

Thầy đã tự ăn một mình (không cần sự giúp đỡ của thị giả) trong ngày tiếp nối thứ 90 (11/10/2016) của người. Thầy hôm nay với Thầy của ngày 6/12/2014 (ngày CM đi thăm Thầy tại bệnh viện Bordeaux) hoàn toàn khác biệt. Bởi vì hồi đó - ngoại trừ đôi mắt tinh anh thỉnh thoảng mở ra nhắm lại nhìn đệ tử hay ra hiệu gì đó, còn lại toàn thân Thầy không khác chi một cục bột. Nếu ai đã tận mắt thấy Thầy của 2 năm về trước (lúc mới bị tai biến) với Thầy ngày hôm nay đều đồng ý rằng Thầy đã hồi phục một cách kỳ diệu và ngoài sức tưởng tượng thường tình của chúng ta. Chứng tỏ Thầy đã vượt lên trên các cặp đối đãi nhị nguyên, đã vượt thoát quy luật tử sinh và thong dong tự tại với luân hồi - nghiệp quả. Điều đó đã được chúng đệ tử xuất sĩ, cư sĩ và nhất là giới khoa học thuộc ngành Y của khoa Thần kinh não bộ tại Pháp chứng kiến từng phút, từng giờ, từng tháng, từng năm liên tục.


Trước sự chịu đựng rồi vượt qua và hồi sức của Thầy, François Rouanet là vị bác sĩ Trưởng khoa Thần kinh não bộ (neurologie) thuộc Centre Hospitalier Universitaire (CHU) Bordeaux là một trong những vị bác sĩ chuyên khoa giỏi nhất nước Pháp đã phải tự phán rằng : "Là một bác sĩ về não bộ nhưng trong trường hợp của Thầy, tôi thấy mình thật sự chưa hiểu gì về não bộ hết". Bởi vì tất cả mọi kiến thức mà ông học hỏi trong trường đại học y khoa, và sau này là kinh nghiệm của người thầy hướng dẫn sinh viên thực tập cũng như kinh nghiệm chữa trị lâm sàng qua nhiều năm dài của ông đều sai với trường hợp của Thầy. Ngay lần đầu chẩn bịnh cho Thầy, ông tuyên bố Thầy chỉ có thể sống được 24 giờ, hoặc 36 giờ, nếu giỏi lắm thì 3 ngày là tối đa. Thế nhưng 3 ngày đã trôi qua mà Thầy vẫn còn thở mặc dù không có một tín hiệu nào báo cho sự hồi sinh. Tới ngày thứ 10 chẳng những cục máu bị vỡ trong óc không nhỏ lại mà còn lớn hơn và lan sang bên bán cầu phải. Vị bác sĩ của chúng ta vẫn tự tin là Thầy sẽ không qua khỏi và đã ký giấy để đưa Thầy về Làng lo hậu sự. 

Phải chờ tới ngày 30/11 tức 19 ngày sau cơn tai biến sau khi kết quả chụp IRM cho thấy bọc nước bao quanh cục máu bầm đã nhỏ lại. Lúc đó bác sĩ François Rouanet tuyên bố là tới hôm nay ông mới có hy vọng Thầy sống được.


Tôi đã chia sẻ sự kiện này với nhiều người, trong đó có 2 vị thiền sư - một vị ở Vạn Giã (Nha Trang) một vị ở Mỹ Tho (Tiền Giang) tất cả đều cùng đồng ý rằng : Thầy đã vượt thoát mọi biên kiến nhị nguyên, đã đạt thiền và từ lâu người vẫn đến đi thong dong tự tại - một thứ tự do đích thực trong cõi tử sinh. Thầy là một minh chứng sống cho tất cả những gì mà ba tạng Kinh, Luật, Luận ghi chép qua 26 thế kỷ. Nói cách khác - bậc giác ngộ trong kinh điển ghi chép nhiều ngàn năm đã bước ra hiện thực của đời thường.

Phúc đức nào bằng, hạnh phúc nào bằng, vui sướng nào bằng được sống và được chứng kiến một sự kiện hiếm quý ngàn năm mới có một lần.

Để tận hưởng niềm vui và hạnh phúc lớn này, chúng ta cùng hát bài Hạnh Phúc Bây Giờ!

CM- Phù Sa
Vedepphatphap.vn
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Nơi Tính Giác vẫn Muôn Đời Bất Tử



Bước vân du biết nơi nào dừng lại 
Gieo duyên rồi Chân Tính tự khai hoa
Không - Thời gian nào cũng phải nhạt nhoà 
Nơi Tính Giác vẫn muôn đời Bất Tử.
Thế gian ơi, đời vẫn là cuộc lữ 
Bước đi - về như huyễn cũng như chân 
Thấy Niết-bàn trong sinh tử phù vân
Ai ngờ được bờ mê là Bến Giác!
                    T.S Viên Minh


Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

" Lấy Lòng Để Sổng" Tốt Hơn "Sống Để Lấy Lòng"!



Chạm tay vào phím gõ về đề tài này, tôi nhớ lại câu chuyện gia đình mình cách đây vài năm:

Ngày công bố điểm thi, nhỏ chị biết mình đậu cả hai trường đại học với số điểm khá cao, vui ra mặt, dù chưa có điểm chuẩn vẫn chắc suất vào một trường đại học có uy tín lớn. Hai chị em mừng rơn sau nhiều ngày chờ đợi. Ngày lên đường nhập học, nhỏ chị tỏ ra điềm tĩnh, cố cho mọi người thấy tâm thế sẵn sàng ra đi và bắt đầu cuộc sống xa nhà để ba mẹ yên tâm, nhưng rồi vừa quay lưng là khóe mắt đỏ hoe. Đứa em thoáng buồn vài giây nhưng rồi kịp nén lòng, vui vẻ tiễn chị “từ nay, em được sở hữu nguyên một phòng học và chiếc máy vi tính,” để chị không bịn rịn phút chia tay. Thế rồi ngay sau khi chị rời nhà, nhỏ em nước mắt giọt ngắn giọt dài nói với mẹ “chị đi rồi, mình con ở nhà, buồn lắm”…

Câu chuyện trên là một ví dụ trong muôn ngàn chuyện ta làm hoặc thấy người khác làm trong cuộc sống này. Cứ thế, khi quyết định một việc gì, ta thường nghĩ đến người thân của mình để làm sao hạn chế tối đa hoặc nếu có thể, tránh bị tổn thương. Chúng ta vẫn thường làm vậy từ thuở còn bé thơ không cần người nhắc mà không hề thắc mắc tại sao ta lại làm như vậy.

Rồi khi lớn khôn, đến một thời điểm mà người ta thường nói một cách hình tượng là “đủ lông đủ cánh,” chúng ta bắt đầu suy nghĩ và đặt câu hỏi tại sao, vì lý do gì mình làm một điều gì đó. Ấy là lúc chúng ta ra khỏi vòng tay ấm êm của gia đình, hòa nhập vào xã hội và đủ trưởng thành để chịu trách nhiệm pháp lý và xã hội về những hành động của mình. Mối gắn kết với các người thân trong gia đình cũng dần loãng đi vì tình cảm, thời gian, tâm lực và sức lực ta chia sẻ với những công việc và học hành cũng như các mối quan hệ khác trong xã hội. Khi mối quan hệ xã hội rộng dần, vòng liên kết với con người của ta lớn hơn, đó là lúc ta dần nhận ra rằng, quan hệ giữa con người và con người là quan hệ phức tạp nhất. Theo thói quen, nhiều người vẫn nỗ lực làm hài lòng người chung quanh, nhưng một sự thật phũ phàng tất yếu là kết quả cuối cùng vẫn là sự thất bại! Không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Đến lúc đó, chúng ta nhận ra rằng mọi cố gắng lâu này đều vô ích, nhất là khi tiêu chí, sở thích và mục đích sống của những người liên quan đến mình cũng không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau nữa. Chỉ trăm người thôi đã có muôn ngàn nết, làm sao chìu cho xuể!

Đây là lúc khái niệm “văn hóa sống” được thể hiện rõ nét nhất qua cách ứng xử của mỗi người đối với người và đối với chính bản thân mình. Theo cảm tính và bản năng tự vệ, vì không thể làm hài lòng tất cả, một số người chọn cách sống làm hài lòng một nhóm người nào đó theo họ là có quyền lực đủ để che chắn đem lại sự an toàn cho họ. Điều này có thể dùng ngôn ngữ “trần trụi” nhất để diễn đạt là “sống lấy lòng” để được yên thân. Với loại người này, nhân cách và lòng tự trọng được phong kỹ lại cất vào đâu đó khi đã sống bám vào người khác như chiếc phao cứu sinh để tìm sự an ổn. Tuy vậy, họ luôn sống trong sự bất an, căng thẳng và lo lắng vì sự an ổn của bản thân, đã tạm thời và tạm bợ, lại còn do người khác quyết định.

Có lẽ người biết suy nghĩ nào cũng không khỏi thắc mắc, liệu có cần thiết để ta dành quá nhiều năng lượng để sống vừa lòng người khác để rồi cái đạt được là con số không tròn trĩnh? Khi bắt đầu thấy vô lý và trống rỗng nếu cứ nỗ lực sống để làm vừa lòng người khác mà không tới đâu, ta chọn con đường đi khác hơn. Khi tâm lý samvega (biểu hiện của khổ đế) – tâm lý cảm thấy bức bách, không hài lòng khởi lên, trước khi để nó “rơi tự do” vào vùng âm u của chán nán, ta nên duy trì tâm lý này ở mức cần thiết, đủ làm động cơ thúc đẩy tâm lý pasada (biểu hiện của đạo đế) – tâm lý hướng đến tìm một giải pháp tốt hơn xuất hiện ngay sau tâm lý hụt hẫng kia. Lúc này, ta cần tỉnh táo để kịp nhận ra một sự thật rằng, ý nghĩa đích thực của cuộc sống không nằm ở chỗ hướng ngoại mà là hướng vào nội tâm. 

Khi ý thức được như vậy, chúng ta thấy cần trang bị cho mình một nội lực dày chắc để có thể là chính mình và dám sống cho chính mình. Ở đây, một sự quyết tâm, kiên định không kéo dài thêm nữa chuyện làm vừa lòng những người ngoài, đáp lại sự mong đợi và nhìn ngắm của ai đó mà không có gì cho mình. Nếu tự thân mình đủ trưởng thành để suy nghĩ và hành động chín chắn, mình không cần bận tâm đến chuyện làm vừa lòng người khác. Điều căn cốt ở đây là việc mình làm, nếu xuất phát từ một nội tâm thấm đẫm ý thiện lành, thì những gì mình làm đem lại lợi ích và hoan hỷ cho mình lẫn cho người theo cái nhìn hướng thượng và hướng thiện. 

Nếu không có lập trường và quan kiến rõ ràng và vững vàng, sớm muộn gì chúng ta cũng bị lôi trở về với tâm lý quen thuộc tưởng chừng an toàn là cố gắng làm vừa lòng người khác, vì đây là một thuộc tính tâm lý phổ biến ở con người. Một khi tự bản thân mình không có nền tảng để đặt một điểm tựa, những tâm lý tiêu cực như giả dối, sống khéo léo đậy che, thể hiện cách sống đa nhân cách, chìu lụy, lấy lòng, nịnh bợ và cả thủ đoạn sẽ xuất hiện và hiện hình ngay khi ta khởi tâm muốn làm vừa lòng người khác. Điều này chẳng khác nào bệnh biểu hiện ngoài da nhưng nguyên nhân là do rối loạn nội tiết tố, thay vì uống thuốc để trị tận gốc từ bên trong, người bệnh nhân ấy cứ tìm đủ thứ thuốc xoa, xức bên ngoài, mất công tốn tiền mà chẳng đem lại hiệu quả nào. Người không lo chỉnh sửa tâm ý mình cho trọn lành mà cứ sống trên bề mặt hình thức để lấy lòng người khác thì không đem lại ích lợi thiết thực nào cả. 

Một khi chúng ta ngóng trông ra bên ngoài để được thừa nhận, tán đồng, hỗ trợ hoặc định hướng thay vì nhìn vào bên trong con người mình, suốt đời chúng ta tự hy sinh mà không đem lại lợi ích cho ai cả. Những người chọn cách sống này tưởng như thế, chúng ta sẽ đem lại hạnh phúc cho người thân nhưng chúng ta đã lầm rồi. Hạnh phúc như nước hoa, không thể vẩy lên làm thơm vật khác mà không giữ lại mùi thơm cho mình. Hạnh phúc như sương mai, không thể làm ướt đẫm ngọn cỏ lá cây mà không thể giữ lại cho mình những giọt nước long lanh. Ta chỉ có thể cho những gì ta có. Bản thân mình không có hạnh phúc, thì đừng có hoang tưởng nghĩ rằng mình có khả năng đem lại hạnh phúc cho người khác. Thật ra, không có gì là không đúng nếu cha mẹ định hướng, thậm chí quyết định thay cho mình khi chúng ta còn thơ ấu. Thế nhưng, chúng ta không nên dựa dẫm thành nết khi đã đủ khôn lớn để quyết định việc mình làm và con đường mình đi. Cha mẹ cũng chỉ ẵm bồng con cái trong mấy tháng đầu đời, khi biết đi rồi thì hãy tự đi trên đôi chân của mình. Nếu cứ có thói quen dựa dẫm, phụ thuộc, dù đó là là một lời khen, một sự chấp nhận hay một cảm giác an toàn, ta đã đánh mất mình. Trong môi trường này, hạt giống nội lực không có dịp nảy mầm và phát triển.

Đợi người khác ban bố sự hài lòng là sống phụ thuộc và lệ thuộc nên luôn căng thẳng, bất an; trong khi đó, sống với tâm thuần thiện, chân thành, hướng thiện là cách mình tự chế xuất niềm hạnh phúc cho tự thân. Hãy tập đương đầu với hoàn cảnh bên ngoài, tập chấp nhận khổ đau và tìm giải pháp tốt nhất để vượt qua. Thậm chí, chúng ta cần học những bài học từ những lần thất bại trong cuộc sống, nhưng vẫn cứ phải là mình, vẫn cứ phải đứng vững trên đôi chân của mình vậy. Hãy tận dụng những lợi thế của bản thân và hoàn cảnh để nuôi dưỡng nội tâm, phát huy nội lực và tạo cho mình một bản lĩnh, tự tin để không bị ‘mất mình’ trong cuộc sống ngày càng phức tạp với nhiều mối quan hệ chồng chéo đa diện vốn dĩ của cuộc đời. Hãy đón nhận ánh sáng mặt trời tự trong tâm và chăm sóc, tưới nước cho những hạt giống tâm hồn. Hoa trái sẽ đơm kết trong nay mai. Dẫu có vụng về chút cũng chẳng là vấn đề gì to tát, miễn chân thật nhìn nhận vấn đề để sửa đổi cho dần hoàn thiện, ta sẽ tiến bộ. Giỏi che khéo đậy thì làm màu tí đỉnh để có “bộ gió” đẹp trước mặt người khác vậy thôi, nhưng thực chất không giúp ta tốt hơn. Vậy nên có câu “chân thật bất hư” đó mà.

Nhân cách làm người của mình là hệ rễ ăn sâu vào lòng cuộc sống để ta đứng vững. Mỗi con người đều có khả năng đó mà không phải làm cây tầm gởi để dựa dẫm vào ai khác. Một khi bám đất, cây tự đứng, tự lớn và vững chãi với bão táp, phong ba, còn tầm gởi, chỉ cần một trận gió hơi lớn tí là đã không bám trụ nổi và sáng hôm sau nằm chỏng quèo trên đất rồi. Ông bà ta có câu “cây ngay không sợ chết đứng!” Dù có chết, vẫn cứ phải thẳng, để khi chết rồi, cái thân cây thẳng ấy vẫn còn có thể sử dụng để làm được vật gì đó lợi ích cho đời! Cứ “lấy lòng để sống” nghĩa là trải tâm mình ra để sống chân thật thì được mình được người, còn “sống để lấy lòng” là cách sống thiếu chân thật và có động cơ vụ lợi nên sẽ không bao giờ bền.

Không bao giờ quá muộn màng để đánh thức và nuôi dưỡng những chất liệu nuôi lớn con người thật của chính mình. Ánh sáng của nhận thức phát ra từ nội tâm sẽ không bao giờ cạn nếu chúng ta biết cách ấp ủ, nuôi dưỡng và phát huy. Trải nghiệm bản thân để thành nhân là một quá trình gian nan nhưng thật xứng đáng để ta dành công sức đầu tư thực hiện. Đây là cách tuyệt vời để chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang sống cuộc đời của chính mình, đang thật sự sống và biết phương pháp làm thế nào để bản thân mình hạnh phúc đồng thời làm cho người khác hạnh phúc.

Cứ vững chãi sống như con tê giác một sừng, bản lĩnh sống một mình trong rừng (Kinh Tập) và làm tròn phận việc của mình. Hãy cứ đứng thẳng lưng mà sống! “Lấy lòng để sống” tốt hơn “sống để lấy lòng”! Chỉ bốn từ (sống, lòng, để, lấy) này thôi mà đổi vị trí các con chữ là đổi cả một thái độ sống, nhân cách sống và đổi cả quy trình nhân quả của mỗi một cá nhân! Quyền chọn lựa là ở mỗi người vậy!

Posted by Hằng Như at 9:20 AM
Labels: Cuộc sống
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Hoài Cựu - Tô Đông Pha

Năm nay , trong tiết đông lạnh , vùng Plano Texas , chỗ chúng tôi ở , trời trở chứng , nhiệt độ trong ngày lên xuống thất thường , dường như cơ thể già nua đã không thích ứng kịp , đầu gối bị đau nhức , đôi khi chịu không thấu , lại nhớ đến...con lừa trong thơ Tô Đông Pha. "Lộ trường , nhân khốn , kiển lư tê" . Đường còn xa , người đã mỏi mệt , mà con lừa cưỡi thì chân lại đi khập khiễng , kêu đau . Trong cơn đau nhức trời hành này , năm cùng tháng tận , tôi ngồi viết mấy hàng chữ này để mọi người thân quí trong nhà đọc cho vui cùng tôi và cùng nhau, thân tâm an lạc , đón mừng năm 2014 , một Năm Mới  an lành ,hanh thông , và như ý. 

 PKT 12/29/2013


Hoài Cựu
Tô Đông Pha(1037 - 1101)


Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
Hồng phi na phục kế đông tây
Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
Hoại bích vô do kiến cựu đề
Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ
Lộ trường nhân khốn kiển lư tê


Phụ chú :


Nguyên đề bài là : Họa Tự Do Mãnh Trì Hoài Cựu , họa bài Mãnh Trì Hoài Cựu của Tử Do. Tử Do là em của Tô Đông Pha. Mãnh Trì là tên huyện thuộc tỉnh Hà Nam.


Dịch Xuôi : Hoài Cựu
PKT 12/29/2013


Đời người rồi sẽ đi về đâu nhỉ
Có phải tựa như một con chim hồng bay đạp trên tuyết rơi
Ngẫu nhiên để lại dấu chân trên tuyết
Rồi thoắt đó bóng hình chim đã bay vút đông tây mất hút rồi
Vị tăng già đã viên tịch , ngôi tháp mới cho tăng vừa mới xây xong
Bức tường cũ thơ đề nay đã đổ nát không còn thấy chữ viết nữa
Không biết đường đi gian truân ngày trước có được ghi lại không
Bây giờ chỉ biết , đường còn xa , người đã mỏi mệt , con lừa khập khiễng kêu đau


              Hoài Cựu
                        PKT  12/29/2013
Kiếp người rồi sẽ về đâu nhỉ ?
Tựa cánh hồng bay đạp tuyết rơi.
Đây đó dấu chân còn đọng tuyết ,
Mà đâu hình bóng đã mù khơi.
Tăng già , tháp mới yên phần xác ,
Chữ viết , tường rêu lấp mất lời.
Khổ nạn ngày qua , trời đất biết ,
Đường dài , lừa ốm...bỡn nhau thôi !

--------

Lộc Mai xin cám ơn Thầy đã chúc mừng năm mới và giới thiệu bài thơ Đường đặc sắc của Tô Đông Pha cùng bài dịch rất hay của Thầy. Lộc Mai xin góp bài phỏng dịch sau đây , gởi đến Thầy và các bạn:


             HOÀI CỰU

Đi về đâu hỡi, kiếp con người ?
Tựa cánh chim bằng lướt tuyết rơi
Vừa thấy dấu chân in thảm trắng
Thì đà bóng dáng khuất mù khơi
Tăng già yên nghỉ sâu lòng tháp
Tường cũ tang thương nhạt chữ lời
Hiểm trở đường xưa, ai có nhớ
Lừa đau, người mỏi, nẻo xa xôi.
                         Lộc Mai

--------

Mailoc xin góp vần cùng Thầy Trí  và LộcMai . Rất thích hai bài dịch trên . Xin cảm tạ 
Thân kính 
Mailoc
                                                     Hoài Cựu
 
Đường vạn nẻo đời người chẳng biết
Tựa cánh hồng giẫm tuyết rơi đầy  
Dấu chân bỗng chốc còn đây
Mà hồng heo hút đông tây xa vời
Trong tháp mới sư già thâm tịch
Tường đổ rồi dấu tích thơ đâu
Nhớ thương khập khểnh dãi dầu
Mệt nhoài la mỏi nỗi sầu đường xa
                                 Mailoc phỏng dịch
                                    Cali 29-12-13
 -------------
Xin mạo muội góp vần cùng quí anh chi em cho vui lúc nằm sắp tàn.
Xin cám ơn và chúc mọi người yên vui
Quang Tuấn
 
           NHỚ XƯA
 
Nhân sinh nào biết về đâu nhỉ?
Như cánh chim hồng giẫm tuyết rơi.
Ôi dấu chân kia còn rõ đó
Mà hình bóng ấy đã xa rồi.
Tăng già tháp giữ thân yên ổn
Tường cũ lời ghi nét nhạt phai.
Đường trần muôn thuở luôn gian khổ
Dặm thẳm. người lừa mệt quá thôi.
 
                   Chiều ngày 30/12/2013
                       QUANG TUẤN
-------------

 Kính Thưa Quý Thầy, Cô, Anh, Chị,
Vừa nhận được Bài của Các Thầy Cô, tôi tìm ngay bản chữ Hán gởi ra đây để cùng nhau tham khảo.

和子由澠池懷舊    Hoạ Tử Do Mãnh trì hoài cựu
人生到外知何似,   Nhân sinh đáo xứ(?) tri hà tự
應似飛鴻踏雪泥。   Ứng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪,    Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
鴻飛那復計東西。    Hồng phi ná phục kế đông tê(tây)
老僧已死成新塔,    Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
壞壁無由見舊題。    Hoại bích vô do kiến cựu đề
往日埼嶇還記否,    Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ
路人長困蹇驢嘶。     Lộ nhân trường khốn kiển lô đề.

Có một điều ở câu thứ nhất, chữ thứ tư ( 外 ) là chữ ngoại có nghĩa là bên ngoài.

     Nhớ Lại Nơi Xưa
Sinh ra rồi sẽ đến đâu đây
Tựa cánh hồng đi trên tuyết lầy
Móng vuốt hãy còn lưu dấu vết
Bay nhanh chẳng thiết hướng đông tây
Sư già tháp mới vùi xương cốt
Tường đổ thơ đề mất tiếc thay
Hiểm trở lối xưa giờ vẫn nhớ
Người la mệt lả đoạn đường này

                                    Quên Đi
------------

Nhân dịp đầu năm, góp vài ý với các bạn yêu thơ Đường.
和子由澠池懷舊    HỌA TỬ DO MÃNH TRÌ HOÀI CỰU
人生到處知何似,   Nhân sinh đáo xử, tri hà tự  
應似飛鴻踏雪泥。   Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪,   Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
 
鴻飛那復計東西。   Hồng phi na phục kế đông tê.
老僧已死成新塔,   Lão tăng dĩ tử, thành tân tháp
壞壁無由見舊題。   Hoại bích, vô do kiến cựu đề.
往日埼嶇還記否       Vãng nhật kỳ khu, hoàn ký bĩ
路長人困蹇驢嘶。   Lộ trường nhân, khốn kiển lư đề.
                     
蘇軾 
họa bài Mãnh Trì Hoài Cựu của Tử Do
Chuyện xử thế của con người, ta biết theo ai !
Bắt chước con chim hồng lướt trên bùn tuyết ư ?
Bùn tuyết chỉ tình cờ ghi lại dấu vết của nó.
Kế sách "Hồng bay" cũng đâu giải quyết được gì trước nay
Hay như Lão tăng vừa viên tịch để lại ngôi tháp mới xây.
Vì bức tường đã hỏng, bài thơ của ông đề không còn thấy nữa
Ngày trước thật uổng cái kỳ công, vì lời ghi không hay .
Đi đường dài gặp cơn khốn đốn chỉ vì sự thua kém nên chỉ biết kêu lên.
Vài từ ngữ
Đáo xử : đến chuyện xử thế
Ưng tự : nên theo cái nào
Na phục : đâu giải quyết được
Kế đông tây : kế sách xưa nay
Tân tháp : tháp xây dùng đựng cốt nhà sư mới viên tịch
Hoàn ký bĩ : chỉ vì lời ghi không hay (ám chỉ lời chê lúc trước của ông về thơ Vương An Thạch).
Kiển lư : ngựa què từ ngữ chỉ sự thua kém
Bài thơ này, theo tôi nghĩ, là ông than vì chuyện xử thế vụng của mình mà bị đày đi xa (chuyện ông sửa thơ của Vương An Thạch và bị Thạch để tâm, khi hắn lên làm Thừa tướng, hắn đã trả thù bằng cách đày ông đến nhiệm sở mới nơi mà trước đây đã hình thành bài thơ của Thạch, cũng giống chuyện nhạc sĩ Văn Cao, hồi trước có lần Tố Hữu rủ ông lại nhà để khoe mấy bài thơ ông ta mới làm, Văn Cao trả lời : thơ cậu thì có gì mà phải đọc. Tố Hữu để tâm thù, khi nắm quyền đã đày ải Văn Cao suốt đời không ngóc đầu lên nổi, nhờ Văn Cao là tác giả bài Quốc ca nên mới không bị đi tù như các bạn hữu của ông).
Nội dung bài này rất khó dịch cho lọn nghĩa mà không làm sai lạc ý thơ. Nhân đầu năm, thôi thì cũng xin góp lời kẻo bạn Lộc lại hỏi : sao dạo này anh còn dịch thơ Đường nữa không ?
Họa bài Mãnh Trì Hoài Cựu của Tử Do
Đường đời xử thế, biết chi nêu
Bắt chước chim hồng, vượt tuyết rêu ?
Rêu tuyết tình cờ in dấu vết
Hồng phi há dễ giải nan điều !
Lão tăng vừa tịch, tháp còn đấy,
Tường nát, khó tìm, thơ đã tiêu.
Công uổng trước kia, phê hạ sách
Đường dài, tài mọn, chỉ đành kêu.
Danh Hữu dịch
 Chúc quý bạn một năm mới 2014 thi tứ dồi dào, sức khỏe hanh thông.  


Kính thưa Quí Thầy Cô, Đồng Môn, Thân Hữu Thân mến,

           Vắng tiếng lâu nay, vì tâm tình còn trĩu nặng, hôm nay chợt mở mail, đọc được các bài dịch của Quí Thầy và Các Bạn về cuộc sống nhân sinh, cũng chợt thấy lòng cảm khái, nên xin được tham gia với các phần sau :

   1. NGUYÊN TÁC CỦA BÀI THƠ :

和子由澠池懷舊    HỌA TỬ DO MÃNH TRÌ HOÀI CỰU

人生到處知何似,   Nhân sinh đáo xứ tri hà tự
應似飛鴻踏雪泥。   Ưng tự phi hồng đạp tuyết nê
泥上偶然留指爪,   Nê thượng ngẫu nhiên lưu chỉ trảo
鴻飛那復計東西。   Hồng phi nả phục kế đông tê (tây)
老僧已死成新塔,   Lão tăng dĩ tử thành tân tháp
壞壁無由見舊題。   Hoại bích vô do kiến cựu đề
往日埼嶇還記否?    Vãng nhật kỳ khu hoàn ký phủ?
路長人困蹇驢嘶。   Lộ trường nhân khổn kiển lô đề.
                      蘇軾                                               Tô Thức

    2. XUẤT XỨ CỦA BÀI THƠ :

         Năm Gia Hựu Nguyên niên đời Tống Nhân Tông ( năm 1056 ), Tô Tuân dẫn Tô Thức và Tô Triệt lai kinh ứng thí, trên đường đi ngang qua huyện Mãnh Trì, đêm trọ lại cư thất của Phụng Nhàn Hòa Thượng, có đề thơ trên vách chùa.
         Năm Gia Hựu thứ 6, Tô Thức ( Tự là Tử Chiêm, Hiệu là Đông Pha Cư Sĩ ) đến nhậm chức quan ở Phụng Tường, trên đường đi, lại đi ngang qua huyện Mãnh Trì, được em là Tô Triệt ( tự là Tử Do ) gởi cho bài thơ " Hoài Mãnh Trì kí Tử Chiêm Huynh Thi "  懷澠池寄子瞻兄詩, nên mới làm bài thơ nầy để họa lại.

   3. GÓP Ý :
      a) Về chữ thứ tư của câu đầu : Bạn Huỳnh Hữu Đức ghi chữ NGOẠI 外 là vì bạn nhầm với chữ Giản Thể của chữ Xứ 處 được viết như thế nầy : 处. Nên câu đầu căn cứ theo nguyên tác phải là :
        Nhân sanh đáo XỨ tri hà tự.
      b) Chữ đầu của câu thứ 2 phải đọc là ƯNG.
        Chữ 應 đọc là ƯNG là Phó từ , có nghĩa : PHẢI, NÊN. Ví dụ : Ưng Thị, Ưng tự( Phải là ).
        Đọc là ỨNG là Động Từ, có nghĩa : LÊN TIẾNG. Ví dụ : Đồng Thanh Tương Ứng, Hưởng Ứng.
      c) Chữ 那 , ở đây phải đọc là NẢ, vì đúng ra chữ nầy phải được viết như thế nầy : 哪, là Nghi vấn từ dùng để hỏi, có nghĩa là NÀO?, là SAO?.
      d) Câu chót phải là :
         LỘ TRƯỜNG NHÂN KHỔN kiển lư tê.
         Lộ Trường Nhân Khổn là Đường dài người mỏi. Chữ nầy 困 đọc là KHỐN, có nghĩa là KHÓ, ta có từ Khốn Khó. Còn đọc là KHỔN thì có nghĩa là Mỏi Mệt.
 
   4. DIỄN NÔM :

         HỌA BÀI MÃNH TRÌ HOÀI CỰU Của TỬ DO.

             Cuộc sống người đời chẳng biết sao?
             Tựa chân nhạn đạp tuyết hôm nào.
             Ngẫu nhiên dấu ấn lưu trên tuyết,
             Bình thản cánh hồng bay đến đâu?
             Tháp mới sư già vừa viên tịch,
             Tường hư thơ mất mới hôm nao !
             Chông gai ngày cũ quên hay nhớ ?
             Người mõi đường xa lừa hí đau !
                                                    Đỗ Chiêu Đức.

   Bài thơ nây còn ẩn Ý THIỀN ở bên trong !

***
(theo huynhhuuduc.blogspot.com)