Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Đức Phật Là Bực Thầy Của Các Nhà Khoa Học

Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. 

Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh.

Từ chỗ giác ngộ này, Đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm.

Về vũ trụ

Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ: Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các Thầy Tỳ Kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp rời cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách nhau thời gian quá xa.

Về vạn vật

Vạn vật sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do "duyên khởi". Duyên khởi là nhân duyên sinh khởi, không có một vật nào hình thành mà không do các duyên nhóm họp. Nếu nói sự vật ngẫu nhiên tự thành, hoặc có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng đều không đúng sự thật. Ðức Phật xác nhận vạn vật do nhân duyên tụ họp thì thành, nhân duyên ly tán thì hoại. Sự thành hoại cuả vạn vật đều do duyên, là chỗ thấy như thật của đức Phật. Bởi thế trong kinh Phật thường dạy "Các pháp do duyên khởi, không có thực thể, các pháp do duyên khởi, không có cố định". Không có thực thể là thuyết "vô ngã". Không có cố định là thuyết "vô thường", mà trong kinh thường nói "chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Không khi nào có một nhân đơn thuần thành hình một vật, cũng không khi nào có sự bất ngờ sinh ra một vật, mà phải đủ duyên mới thành. Vì vậy đức Phật không chấp nhận thuyết "nhất nhân" và thuyết "vô nhân". Với sự thực này, ngày nay khoa học đã làm sáng tỏ, chúng ta không còn gì phải nghi ngại. Hơn nữa, trước mắt chúng ta thấy vô vàn sự vật, nếu đem ra phân tích đều do nhân duyên hợp thành, không có vật nào tự thành hay do một cái gì đó làm thành. Sự thật hiển nhiên này càng làm sáng tỏ lời đức Phật dạy. Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách.

Về con người

Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng. Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa.

Nghiệp lực

Nếu không có một đấng nào an bày, muôn vật làm sao được sanh thành, hoại diệt và sinh hoạt trong một trật tự nhất định? Nhà Phật nói "do sức nghiệp thúc đẩy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt. Cũng như do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định". Nghiệp là động lực lôi cuốn các duyên tụ họp lại thành hình sự vật; khi sức nghiệp mãn các duyên ly tán thì sự vật hoại diệt. Nghiệp có khả năng cuốn hút sự vật quay cuồng trong quĩ đạo nhất định. Ngày nay các nhà khoa học đã nói do sức quay và sức hút của mọi vật trong vũ trụ, các hành tinh trong bầu vũ trụ hoặc lớn hoặc nhỏ đều quay cuồng trong hư không và trong một quỹ đạo nhất định. Cho đến nhỏ như một hạt nguyên tử cũng quay cuồng và xoắn chặt vào nhau mà thành hình muôn vật. Ðộng lực quay và hút này do nghiệp lực tạo nên. Nghiệp là đông lực lôi cuốn theo thói quen, đồng thời cảm ứng với vật khác đồng tính nên bị thu hút. Do nghiệp chi phối nên con người và muôn vật trên thế gian được thành hình và sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, khi sức nghiệp mãn con người và muôn vật theo đó hoại diệt. Song nghiệp có thể chuyển đổi được, không phải cứng nhắc cố định, vì nó là động lực.

Tuy nhiên thuyết nghiệp báo luân hồi đã có trước thời đức Phật, xuất phát từ các kinh Phệ Ðà (Véda); song với tinh thần tôn trọng chân lý, đức Phật xét thấy đúng sự thật liền ứng dụng đem dạy đệ tử tu hành. Trong đó, đức Phật có sửa đổi những phần lệch lạc theo quan niệm Bà la Môn giáo để lý thuyết này được hoàn chỉnh hơn. Vì vậy, ngày nay mọi người đều thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi là của đạo Phật.

Ðạo Phật đặt trọng tâm ở con người - Chỗ thấy biết của đức Phật đúng sự thật, hợp chân lý, nên trải qua thời gian dài mà không sai chạy hay lạc hậu. Ðức Phật không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh phục vụ con người. Ngài chỉ dùng cái thấy ấy biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết con người tường tận từ thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi, đức Phật dạy cách sống đúng tư cách con người, đồng thời chuyển hoá thân tâm đẻ được an lạc trong hiện tại và mãi sau kia. Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng Simma, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo" "Lá cây trong tay ta nhiều hay lá lá cây trong từng nhiều?" Các thầy Tỳ kheo thưa :"Lá cây trong tay Thế Tôn rất ít so với lá cây trong rừng". Ðức Phật dạy "Cũng thế, cho ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, những điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay ta" Ðiều này khiến chúng ta thấy rõ, dù việc ấy đúng sự thật mà không cần thiết cho sự đào tạo xây dựng con người được an vui hạnh phúc hiện tại và mai sau, Phật vẫn không đem ra chỉ dạy. Phật chỉ dạy những điều cấp thiết để giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người. Vì tuổi thọ con người quá ngắn (60--70 năm) không đủ thì giờ để học hiểu hết mọi điều trên thế gian này.

Phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần. Tinh thần sai sử thể xác tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ, cảm thọ quả khổ, vui ở hiện tại và vị lai. Cho nên bao nhiêu lời khuyên răn của Phật đều đặt nặng sự chuyển hoá nội tâm của con người. Con người nội tâm được trong sáng thì đời sống hiện tại đầy đủ ý nghĩa, sau khi kết thúc cuộc đời mọi sự sáng trong tươi đẹp đang sẵn sàng chờ chực. Ðây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích Ca, cũng là của đạo Phật.

Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, giải thoát, từ bi, bình đẳng - Ðức Phật do giác ngộ nên thành Phật, suốt đời giáo hoá của Ngài cũng lấy giác ngộ làm trọng tâm. Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân chính của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh. Như chỉ có ánh sáng mới dẹp được bóng tối, ngoài ánh sáng không có cái gì dẹp được bóng tối. Vô minh không tan thì đau khổ làm sao hết được. Vì thế, phương pháp duy nhất để cứu khổ chúng sinh là giác ngộ. Ðây là nguyên nhân đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu.

Nhờ giác ngộ con người mới giản trạch được điều chân lẽ ngụy, thấy rõ cái gì trói buộc, cái gì tự do, nên chọn được lối sống thích ứng lẽ thật, phù hợp với tinh thần tự do. Tự do đây không có nghĩa đòi hỏi bên ngoài, nơi kẻ khác mà tụ chiến thắng những dục vọng đê hèn của mình, hàng phục được vọng tưởng điên đảo của nội tâm. Ðúng với câu đức Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt". Tinh thần tự do của đạo Phật là làm chủ toàn vẹn thể xác lẫn tinh thần của chính mình. Ðó là tự do tuyệt đối, cũng là giải thoát của Phật dạy.

Ðem vui và giải khổ cho chúng sanh là lòng từ bi của đạo Phật. Muốn cho mọi người hết khổ được vui, tu sĩ Phật Giáo lúc nào cũng đưa cao ngọn đuốc chánh pháp cho mọi người mồi, để cùng thắp sáng trong căn nhà tăm tối muôn đời của mình. Bản thân mình, người tu sĩ phải chiến thắng phiền não để làm mẫu mực và chỉ dạy người dẹp trừ phiền não. Vô số khổ đau của chúng sanh đều phát xuất từ si mê và phiền não. Thiếu thốn vật chất là đau khổ đã đành, có khi thừa mứa vật chất người ta vẫn đau khổ như thường. Cho nên trí tuệ là hòn ngọc quý để đổi lấy của cải và sự nghiệp, trí tuệ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta tránh khỏi lạc lối lầm đường. Dứt một phần phiền não, chúng ta được một phần an lạc, hoàn toàn sạch phiền não thì còn gì làm phiền lụy chúng ta. Sau khi mở sáng con mắt trí tuệ và dứt sạch phiền não, con người mới được an vui tự tại đầy đủ. Người tu sĩ Phật giáo tha thiết cứu khổ chúng sanh bằng cách tận lực chỉ dạy cho mọi người được trí tuệ và tự do.

Phật giáo chỉ nhìn chúng sanh đều bình đẳng trong bản tánh, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, bản tánh chưa bao giờ sinh diệt đổi thay. Cái sanh diệt biến động là tạm bợ, đã tạm bợ dù sai khác thế mấy cũng không quan trọng. Chính cái quan trọng là bản tánh thường hằng của chúng sanh. Cho nên đức Phật thường dạy "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật", đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu suốt được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Ðây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ tát Thường Bất Khinh thấy ai cũng nói "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật". Ðã sẵn có tánh Phật thì người nào tu mà chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bao giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai.

Ðạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chính nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thực sự văn minh. Ðứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật đã quả thực đi trước các nhà khoa học xa; tương lai dù nhân loại văn minh tiến bộ đến đâu cũng khó qua mặt được đạo Phật.

Theo Người Đưa Tin
Sưu tầm: Hanh Nghiêm 

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Định Rõ Thái Độ Khi Dấn Thân Đi Vào Thiền & Tác Dụng Của Thiền Trong Đời Sống Con Người




Bình thường hóa Thiền

Thiền không phải là một phép mầu, có những khả năng siêu phàm, cứu độ tất cả chúng sanh, thoát khỏi khổ đau, phiền não, vượt qua tai nạn, sống dưới sự che chở của chư Phật! Trái lại, đơn giản, nó chỉ là "dụng cụ", nếu biết cách sử dụng, nó sẽ trở thành dụng cụ tốt, có lợi ích cho chúng ta trên nhiều mặt. Ðó là nó có khả năng giúp ta chuyển đổi nhận thức, chuyển hóa nội tâm, chuyển nghiệp, thân tâm hài hòa, sống an vui, hạnh phúc, thoát khổ, giác ngộ và giải thoát, hoặc tầm thường nhất là điều chỉnh hay ngăn ngừa, hay chữa dứt một số bệnh của thân mà không cần dùng thuốc. Như bệnh mất ngủ kinh niên, bệnh cao máu, bệnh hở van tim, bệnh mất ký ức, bệnh căng thẳng thần kinh (bệnh stress), bệnh béo phì....

Siêu việt hóa Thiền

Có nhiều người nghĩ rằng khi đến với Thiền, họ chỉ cần được dạy cách tu làm sao để họ đạt được "đốn ngộ", họ sẽ bằng Phật. Cũng có người nghĩ rằng chỉ cần học cách "kiến tánh" thôi để họ sẽ thành Phật. Rồi họ ôm ấp những tư tưởng đó. Họ đến với Thiền, tu để kiến tánh hay để đốn ngộ. Nhưng tu mãi từ năm này sang năm khác, họ vẫn không làm sao đốn ngộ, không làm sao kiến tánh... Từ, đó, kiến tánh và đốn ngộ trở thành 1 trong 2 chủ đề "kỳ bí và hấp dẫn" trong Thiền.

Ðến với Thiền mà mang tư tưởng đó trong đầu thì ta không bao giờ "giáp mặt" Thiền được. Bởi vì cả 2 chủ đề "đốn ngộ" và "kiến tánh", đòi hỏi ta phải trải qua những tiến trình tu học và thực tập thứ lớp trong thời gian dài, qua nhiều chặng, chớ "không phải không có thứ lớp" như nhiều người đã nghĩ. Thái tử Siddhattha, sở dĩ thành vị Phật là Ngài cũng phải trải qua 4 tầng Thiền, chứng ngộ nhiều chặng, chớ không phải Ngài không qua thứ lớp. Chặng cuối cùng của Ngài là trạng thái "tâm tathà". Tâm này ngoài lời. Nó dựa trên "ba hành không động". Sau đó, Ngài chứng nghiệm Ba Minh, Tứ Ðế, Lý Duyên Khởi và nhận ra 2 tánh quan trọng nhất của hiện tượng thế gian là "hữu vi" và "vô vi" tức là "Pháp Tánh" và "Pháp Giới Tánh".

Lý do

Ðể tránh ngộ nhận về Thiền, nên mở đầu các khóa Tu Học, chúng tôi đều nêu lên chủ đề "Giá Trị Của Thiền đối với đời sống con người". Ðây là để định rõ thái độ của chúng ta khi dấn thân đi vào Thiền. Chúng ta khiêm tốn, không nao nức, không mong cầu những điều quá khả năng của chúng ta là thành Phật!

Khả năng kỳ diệu

Tuy nhiên, trên thực tế, nếu thực hành đúng Pháp, đúng chiêu thức, đúng kỹ thuật và "đi thẳng vào" cơ chế tánh giác, chớ không đi "lòng vòng", Thiền có những khả năng kỳ diệu. Ðó là:

- Giúp thân ta được cân bằng hay hài hòa với nhau bên trong chính nó gồm: nội tạng, khí huyết, cơ bắp, xương da. Từ đau ốm bệnh tật, ta có thể điều chỉnh hay chữa dứt khỏi một số bệnh thông thường như cao máu, tim mạch, cao máu mỡ, hen suyễn, dị ứng, hạ đường trong máu hay làm cho đường trong máu được quân bình....

- Giúp tâm chúng ta chữa được những chứng bệnh căng thẳng thần kinh (stress) kinh niên, trầm cảm, mất ký ức, lo âu kinh niên, bệnh dính mắc, bệnh tự cao, tự đại, bệnh xem mình là số 1. Thuật ngữ gọi là bệnh chấp ngã, bệnh chấp kiến, bệnh chấp pháp. Ta rộng lượng, bao dung, tha thứ, và dễ dàng thông cảm người khác. Ta sống có trí tuệ và từ bi với muôn loài chúng sinh.

- Giúp thân và tâm chúng ta hài hòa với nhau. Qua đó, ta sẽ có kinh nghiệm hài hòa với mọi người chung quanh: Từ trong gia đình đến bên ngoài xã hội, và môi trường thiên nhiên.

- Cao hơn nữa, Thiền có khả năng giúp ta phát huy trí tuệ tâm linh. Ðó là ta sẽ có những khả năng sáng tạo, những sáng kiến mới về những vấn đề phù hợp theo lãnh vực chuyên môn của ta. Ngoài ra, ta cũng kinh nghiệm được năng lực biện tài và từ trường của tâm bi.

- Xa hơn nữa, Thiền có khả năng hướng dẫn ta cách kinh nghiệm nhân chứng. Ðó là trước khi từ giã cõi đời, ta có khả năng làm chủ nghiệp thức để tự tại ra đi. Ta không để cận tử nghiệp xấu trồi lên.

Ðây là những khả năng hợp lý, thiết thực mà qua dụng công đều đặn các pháp trong Thiền, chúng ta sẽ kinh nghiệm. Trong đó không có điều gì huyền bí! "Phép lạ" của Thiền chỉ là những tiến trình Biết (Knowing) hay Nhận Biết (Awareness) từ thấp đến cao.

Mọi người đều thực hành được.

Chúng ta không xây dựng những tư tưởng hão huyền trong Thiền.

Tóm lại, đời sống con người có 3 phần: thân, tâm, trí tuệ tâm linh. Thực hành Thiền đúng pháp, đúng chiêu thức, đúng kỹ thuật và đúng chức năng cơ chế tánh giác, ta sẽ nhận ra giá trị thực tiễn của Thiền đối với đời sống con người.

Những khả năng nói trên dựa vào nguyên lý "tác động-tác dụng". Trong Thiền, nguyên lý "tác động- tác dụng" là một nguyên lý thực tiễn. Tác động là cách làm. Tác dụng là hiệu quả hay kết quả của cách làm. Làm đúng hưởng quả tốt. Làm sai hưởng quả xấu. Nguyên lý này nằm trong phạm vi: "hồi đáp sinh học trong Thiền". Tức là khi thực hành bất kỳ chủ đề nào trong Thiền, hiệu quả của nó sẽ đưa đến xấu hay tốt, lợi hay hại cho thân, tâm và trí tuệ tâm linh của chúng ta.

HỒI ÐÁP SINH HỌC TRONG THIỀN

Cơ thể chúng ta là cơ thể còn sống. Trong cơ thể này, tuyến nội tiết và hệ thần kinh, nội tạng, cơ bắp đều có các chất nước hóa học. Chất này được gọi là "chất sinh hóa" (biochemical substances). Chúng là những "nột tiết tố" tức hormones. Chúng có khả năng làm cho thân đau bệnh hay khỏe mạnh; tâm an vui hay chán nãn; ký ức mất: quên trước quên sau hay phục hồi, hoặc nhớ dai.

Thực hành Thiền lâu năm, chúng tôi đã kinh nghiệm được điều này. Sai, đưa đến bệnh. Ðúng, đưa đến khỏe mạnh.

THẾ NÀO LÀ ÐÚNG, THẾ NÀO LÀ SAI?

Ðúng là khi áp dụng các pháp trong Thiền do Phật hay Tổ dạy, ta không cố gắng quá mức, không nỗ lực tối đa, không tập trung tư tưởng vào đối tượng. Ta thực hành thong thả, thư giãn, nhưng đều đặn; không bỏ sót thời khóa, dụng công trong ngày và cũng không chuyên nặng về tư thế ngồi với quyết chí "đì thân, đì tâm". Càng đì thân, đì tâm, ta sẽ không tránh khỏi bệnh tâm thể như cao máu, tiểu đường, béo phì.

Ta thực hành trong 4 tư thế: đi đứng, nằm, ngồi (ngồi chơi) hay ngồi nghiêm chỉnh bằng những phương tiện do Phật dạy theo trình độ căn bản. Ta áp dụng những cách: biết, chỉ biết, biết rõ ràng đầy đủ (chánh niệm tỉnh giác), biết như thật trong 4 oai nghi. Bằng cách này, ta sẽ đi thẳng vào 1 trong các tánh trong cơ chế tánh giác. Ta không đi lòng vòng. Không lấy đá đè cỏ. Không đì tâm, không đì thân. Qua những cách thực hành như vậy, các chất nước hóa học sẽ được tiết ra từ đối giao cảm thần kinh, từ vùng Dưới Ðồi, từ trong các tuyến nột tiết, và từ trong cuống não như chất: Serotonin, Melatonin, Acetylcholine, Endorphine, Dopamine, Insulin v.v...

Sai là áp dụng các pháp trong Thiền do Phật hay Tổ dạy mà chúng ta cố gắng quá mức, nỗ lực dụng công quá mức, tập trung tư tưởng quá mức vào các chủ đề. Hoặc ta dùng ý thức, ý căn hay trí năng méo mó để dụng công. Bằng cách này ta sẽ tác động vào giao cảm thần kinh thường trực, đưa đến các chất sinh hóa học xấu được tiết ra làm hại cơ thể chúng ta. Thí dụ như: Norepinephrine, Epinephrine, Cortisol, Glucagon...

Tuy là một môn thuộc về tâm linh, nhưng Thiền là một môn khoa học thực nghiệm. Vì khi chúng ta thực hành, toàn bộ tế bào não, các định khu võ não, hệ thống viền não, hệ thống ký ức, hệ thống thần kinh, hệ thống tuyến nội tiết đều bị tác động đồng bộ theo 2 nguyên tắc phản xạ: Phản xạ giác quan và phản xạ thụ động. Bằng giác quan để kích thích các tánh trong cơ chế tánh giác gọi là "phản xạ giác quan", bằng nhận thức biết để kích thích tánh nhận thức trong vùng tam giác của cơ chế tánh giác, gọi là "phản xạ thụ động."

Phản xạ giác quan đưa đến ngộ. Phản xạ thụ dộng đưa đến hoàn toàn chứng ngộ.

Từ cuối năm 1997, khi hướng dẫn thiền sinh thực tập thẳng vào cơ chế tánh giác chúng tôi đã đưa ra những nguyên tắc này.

Chúng tôi mong rằng khi học Thiền, quý vị cần nắm cho vững nguyên lý "tác động-tác dụng" để tránh thực hành sai lạc.

Thầy Thích Thông Triệt
Trích trong Thiền Luận Vấn Đáp 1 - Luận 
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

    Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

    Vẫn Trong Nhau




    Khổ đau là bạn an vui
    An vui đích thực không rời khổ đau
    Thong dong ngay giữa cõi sầu
    Niết Bàn chung một nhịp cầu thế gian.

    Trong mưa có giọt nắng vàng
    Nơi bùn thoang thoảng.. mơ màng hương sen
    Giữa ngày nghiêng bóng màn đêm
    Canh khuya chợp mắt, nắng lên ngập hồn.

    Sau niềm vui có nỗi buồn
    Trong tù ngục thấy con đường thoát ly .
    Nơi dung nhan tuổi xuân thì
    Có đôi mắt Mẹ xếp li buổi chiều.

    Ghét người, bởi chính vì Yêu
    Yêu bao nhiêu Hận bấy nhiêu cũng là..

    Trong chùa có cả ta bà
    Trong ta bà ẩn một toà Như Lai.

    Nơi điều '' nghịch ý trái tai ''
    Lặng mà nghe - tỏ một bài Pháp âm.

    À ơi, dưới võng con nằm
    Cũng là giấc ngủ ngàn năm đi về...
    Trong phiền não có Bồ đề
    Dạt dào sóng gợn.. bốn bề đại dương.

    Ngay tim ta có tình thương
    Thương như lưới cá, tơ vương nhọc mình!
    Trong sinh tử gặp Vô sinh
    Bên đời huyên náo lặng thinh Phật ngồi.

    Trong ta có cả vạn đời
    Lặng yên.. tràn ngập đất trời xưa, sau..


    Thích Tánh Tuệ 
    Trích từ: Đạo Phật Ngày Nay
    Sưu tầm: Hanh Nghiêm

    Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

    Phát Hiện và Xử Lý Kịp Thời Bệnh Nhồi Máu Cơ Tim Cấp



    Những năm gần đây, bệnh nhồi máu tim cấp có xu hướng gia tăng với tỉ lệ tử vong khá cao. Nhồi máu cơ tim cấp là tình trạng hoại tử một vùng cơ tim, hậu quả của thiếu máu cục bộ cơ tim. Vì vậy chúng ta phải sớm phát hiện và xử lý bệnh kịp thời. Mời các bạn tham khảo bài viết sau các triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp để phòng ngừa và điều trị bệnh.

    Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng nhồi máu cơ tim cấp vẫn là một loại bệnh nặng, diễn biến phức tạp, có nhiều biến chứng nguy hiểm luôn đe dọa tính mạng người bệnh..
    Trong bệnh này, cái khó nhất là có đến hơn 50% bệnh nhân không hề có các triệu chứng báo trước nên việc phòng ngừa cũng rất khó thực hiện. Một số bệnh nhân nếu hỏi bệnh kỹ có thể tìm thấy một số yếu tố mang tính chất thúc đẩy bệnh bọc phát như: những gắng sức về thể lực, các chấn thương về tình cảm, các bệnh nội ngoại khoa khác mà bệnh nhân đang bị...Thời điểm xảy ra bệnh cũng rất đa dạng, cơn nhồi máu cơ tim cấp có thể xảy ra bất kỳ thời gian nào trong ngày. Nhưng theo kinh nghiệm và các tài liệu trong Y văn, thì thời gian hay bị nhất là vào buổi sáng, vài giờ sau khi thức giấc.

    Các triệu chứng nhồi máu cơ tim cấp

    Triệu chứng đầu tiên làm bệnh nhân rất khó chịu và phải nhập bệnh viện ngay là đau ngực. Trong phần lớn các trường hợp, bệnh nhân thấy đau ngực dữ dội làm bệnh nhân rất khó chịu, nhiều người mô tả rằng chưa bao giờ đau nhiều đến như vậy. Cảm giác đau sâu trong nội tạng, người bệnh thường dùng từ đè nặng, xoáy và ép để mô tả cơn đau. Cơn đau thường kéo dài hơn so với cơn đau thắt ngực không ổn định mà một số bệnh nhân đã bị trước đó. Trong các trường hợp điển hình, đau ở phần giữa ngực có kết hợp với đau vùng thượng vị, có những trường hợp chỉ có đau vùng thượng vị đơn thuần và nhiều người tưởng bị đau dạ dày. Thậm chí có bác sĩ đã chẩn đoán bệnh nhân bị thủng ổ loét dạ dày - tá tràng. Có khoảng 30% các trường hợp đau lan ra cánh tay bên trái, những trường hợp hiếm hơn, bệnh nhân có thể bị đau lan tới bụng, ra sau lưng, hàm dưới và cổ, rất dễ lầm với các bệnh khác.

    Trong khi đau ngực như vậy, bệnh nhân thường kèm theo các dấu hiệu đáng lo ngại khác như: mệt mỏi, bồn chồn, lo lắng, nằm không yên, đổ nhiều mồ hôi, chóng mặt, nôn mửa... Có khoảng 25 - 20% số bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp lại hoàn toàn không đau ngực một chút nào cả. Tỉ lệ nhồi máu cơ tim không có triệu chứng đau ngực cao hơn ở phụ nữ và ở những bệnh nhân bị đái tháo đường và tỉ lệ này cũng tăng lên cùng với tuổi tác. Có nghĩa là ở những bệnh nhân trẻ tuổi, các dấu hiệu của nhồi máu cơ tim cấp càng rõ ràng và nặng nề hơn những người lớn tuổi.


    Ở những bệnh nhân lớn tuổi, bệnh có thể khởi đầu không phải bằng triệu chứng đau ngực mà bằng triệu chứng khó thở, mất ý thức đột ngột, lú lẫn, cảm giác mệt mỏi rã rời, rối loạn nhịp tim, đôi khi chỉ biểu hiện bằng một tình trạng choáng đột ngột mà không giải thích được nguyên do.

    Phương pháp điều trị nhồi máu cơ tim cấp

    Tất cả các trường hợp nhồi máu cơ tim đều được đặt trong tình trạng cấp cứu, do vậy, sự lựa chọn phương pháp điều trị bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp nên được quyết định bởi các bác sĩ ở khoa cấp cứu cùng phối hợp với các bác sĩ tim mạch dựa theo phác đồ của bệnh viện.

    Nếu ở các bệnh viện không có khả năng can thiệp tim mạch, cần chuyển bệnh nhân đến bệnh viện có khả năng tái tưới máu cơ học cấp cứu gần nhất. Trong quá trình vận chuyển bệnh nhân cần có nhân viên y tế được đào tạo về cấp cứu tim mạch đi cùng với các phương tiện cấp cứu cơ bản, bằng các phương tiện vận chuyển cấp cứu phù hợp khi tình trạng bệnh nhân tương đối ổn định.

    Việc lựa chọn phương pháp điều trị tái tưới máu ngay cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đến viện, tình trạng bệnh nhân, điều kiện trang thiết bị và trình độ của cơ sở y tế.

    Có 3 biện pháp điều trị tái tưới máu:

    - Điều trị tái tưới máu động mạch vành bằng thuốc tiêu sợi huyết: Nếu không có chống chỉ định, nên sử dụng thuốc tiêu sợi huyết cho những bệnh nhân có biểu hiện đau thắt ngực trong vòng 12 giờ kể từ lúc khởi phát có kèm theo biểu hiện đoạn ST chênh lên và/hoặc biểu hiện blốc nhánh trái mới trên điện tim đồ. Muốn đạt hiệu quả tối ưu, phải dùng thuốc tiêu sợi huyết càng sớm càng tốt dựa trên những tiêu chuẩn về điện tim mà không cần đợi các kết quả về men tim;
    - Can thiệp động mạch vành thì đầu cho các bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên hoặc blốc nhánh trái mới trên điện tim, khi có thể tiến hành can thiệp động mạch vành trong vòng 12 giờ kể từ khi khởi phát đau ngực, nếu có thể nên thực hiện nhanh chóng (trong vòng 90 phút kể từ khi đến viện);
    - Phẫu thuật bắc cầu nối chủ - vành cấp cứu: nên được tiến hành trong các tình huống như:
    + Can thiệp động mạch vành qua da thất bại hoặc huyết động không ổn định ở các bệnh nhân có giải phẫu động mạch vành phù hợp bắc cầu nối.
    + Tại thời điểm phẫu thuật sửa chữa xuất hiện các biến chứng cơ học như thủng vách liên thất hay hở hai lá nhiều.
    + Có rối loạn nhịp thất trầm trọng đe dọa tính mạng người bệnh với tổn thương ≥50% thân chung động mạch vành trái hay tổn thương cả 3 thân động mạch vành.

    Phương pháp phòng ngừa nhồi máu cơ tim cấp


    Cho dù người bệnh đã được điều trị bằng phương pháp nội khoa, ngoại khoa hay tim mạch can thiệp thì việc thay đổi lối sống như bỏ thuốc lá, ăn thức ăn có ít cholesterol, hạn chế mỡ, muối... điều trị một số bệnh có liên quan như tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu... và tiếp tục sử dụng lâu dài một số thuốc đặc hiệu là hết sức cần thiết để điều trị và phòng ngừa nhồi máu cơ tim tái phát.

    Theo MinMin.VnDoc
    Sưu tầm: Hanh Nghiêm

    Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

    PHÁP NGỮ 1 - Thiền Sư Viên Minh




    1. Nguyên lý của thiền

    Thiền là tự nhiên, vô tâm và giản dị. Tự nhiên nên nó như nó là, vô tâm nên không khởi niệm tìm cầu, giản dị nên không cần thêm bớt. 
    Thực thì thấy thực, vọng thì thấy vọng tức thấy tánh. 

    2. Thực thì thấy thực, vọng thì thấy vọng tức thấy tánh

    Tâm và pháp đều đang ở trong tự tánh chân thực của nó. Chưa bao giờ có một pháp rời khỏi thực tánh của mình, chỉ có ảo tưởng mới vẽ ra ảo tướng mà thôi. Nhưng nếu thấy được ảo là ảo tức cũng thấy thực tánh của nó. Khi cái thấy không bị ảo tưởng che lấp thì ngay đó liền kiến tánh. Vậy có việc làm nào mà không thấy tánh được? Cứ ngay đó mà thấy. Thực thì thấy thực, vọng thì thấy vọng tức thấy tánh. Cho nên một vị thiền sư đã nói: "Vô minh thực tánh tức Phật tánh, huyễn hoá không thân tức Pháp thân" là vậy đó. Ví như người chiêm bao tưởng là thật tức mê, chiêm bao mà biết là chiêm bao tức là tỉnh...

    3. Cái Thực

    ...Cái thực là cái như nó đang là, không cần ai biết đến nó vẫn thực, không phải cái mà bản ngã ảo tưởng cho nó là, đòi hỏi nó phải là, hay mong cầu nó sẽ là. Như vậy cái thực chỉ hiện diện tại đây và bây giờ, và thấy thì thấy ngay, đừng khởi tâm lăng xăng tìm hiểu (sở tri) hay cố gắng nắm bắt (sở đắc), vì tất cả kiến thức và sở hữu đều là ảo tưởng ảo giác mà thôi.

    4. Thấy Thực Tánh Pháp

    Chỉ cần thấy mọi hiện tượng diễn biến của thân - tâm - cảnh như chúng đang là tức đang thấy thực tánh pháp, thì nó sẽ tự sinh tự diệt chứ không có bản ngã lăng xăng phê phán, kiểm duyệt, lấy bỏ, thêm bớt hay tạo tác trong đó.

    5. Thấy tức là hành

    Thấy tức là hành, do đó con chỉ cần luôn biết mình trong mọi hoạt động thì con sẽ thấy ra bản chất của chính mình và đời sống. Chân lý không nằm ngoài cuộc sống, và nó luôn hiện hữu trong con, vì vậy thường trở về trọn vẹn trong sáng với thân tâm thì con sẽ thấy pháp....Chỉ thấy mà không xen quan niệm và ý đồ của bản ngã vào mới gọi là thấy rõ.

    6. Thấy tức chuyển biến cực kỳ mầu nhiệm

    ..Chuyển biến là việc của pháp, nên thấy tức chuyển biến cực kỳ mầu nhiệm, còn một khi khởi lên ý đồ muốn chuyển biến tức rơi vào bản ngã, thời gian, nhân quả, trói buộc và khổ đau. Đó chính là rơi vào sinh tử. Và đó là lý do vì sao Đức Phật không bước tới (chuyển biến đến tương lai), không đừng lại (dính mắc trong hiện tại) mà thoát khỏi dòng thác sinh tử trầm luân...
    Tánh biết vốn rỗng lặng trong sáng đủ để thấy ra lẽ thật nơi chính mình và cuộc sống mà không cần kiến thức của bản ngã lý trí. Chính kiến thức này trở thành sở tri chướng che lấp sự sáng vốn có của tâm. Vì vậy Đức Phật đã dạy trong kệ Pháp cú 72 rằng: Quả thật điều nguy hại Người ngu sinh sở tri Hủy phần sáng của mình Tự chẻ đầu chính nó. Tự chẻ đầu chính nó bởi vì chính sở tri của bản ngã lý trí tạo ra trạng thái phân vân, do dự, lưỡng lự, nghi hoặc.

    7. Tâm kiên định cao nhất.

    Chỉ thấy tâm thôi đừng bắt tâm phải kiên định, bắt tâm kiên định có khác nào bắt dòng nước ngừng trôi, như vậy làm sao thấy được vô thường, vô ngã? "Lặng nhìn không nói năng" mới thật là bản chất không lay động của tâm ...Tâm chỉ cần trọn vẹn trong sáng trong từng sát-na mong manh tại đây và bây giờ đó mới thật sự là tâm kiên định nhất.

    8. Giới

    Giới là điều học (sikkhàpada) giúp chúng ta học ra hành động đúng sai thiện ác một cách thực tế chứ không phải là điều răn cấm mang tính hình thức quy định hay ràng buộc bên ngoài. Nếu chấp vào hình thức của giới mà không thấu rõ nội dung ý nghĩa thực sự của nó thì vẫn gọi là giới cấm thủ, một trong 10 ràng buộc không thể giác ngộ giải thoát được. Một người thông suốt giới sẽ biết uyển chuyển tuỳ trường hợp chứ không chấp thủ một cách cứng nhắc. Và vì là điều học nên mỗi người phải tự mình học ra bài học uyển chuyển đó để giác ngộ chứ không nên ỷ lại vào quan điểm của ai khác.

    9. Thiền

    - Thiền định (chỉ) là gom tâm vào một đề mục để đạt đến nhất tâm (định xả).
    - Thiền tuệ (quán) là phát triển trí tuệ để thấy thực tánh pháp.
    - Thiền tỉnh lự là tư duy trong tỉnh thức (chánh tư duy). 
    Còn trong thiền Vipassana thì định tuệ không thể tách rời (định tuệ nhất như)... tức là thường trở về trọn vẹn trong sáng với thực tại.
    - Thiền không lệ thuộc vào một tư thế nào, cũng không dính mắc vào một đối tượng nào. Trong mọi tư thế và mọi hoàn cảnh, tâm thiền mới là chính yếu..

    10. Phẩm chất của trí tuệ.

    Khi nhận thức đúng thì sẽ hành động đúng ... Cứ lắng nghe quan sát lại chính mình trong bối cảnh cuộc sống rồi con sẽ thấy ra nguồn gốc của mọi sự xuất phát từ thái độ nội tâm. Chỉ thấy mà không phê phán hay kết luận là phẩm chất của trí tuệ. 

    11. Tầm và tứ 

    Tầm và tứ là hai thiền chi khởi đầu rất quan trọng trong thiền định. Tầm là hướng tâm tìm đề mục thiền định, ví dụ hướng tâm tìm đến hơi thở. Khi tầm đã hướng đúng vào đối tượng (đề mục) thì Tứ bắt đầu thẩm tra kỹ lưỡng để đáp xuống đối tượng đó. Khi hai chi thiền này hoàn thành nhiệm vụ thì ba chi thiền hỷ, lạc và nhất tâm cũng sẽ xuất hiện tiếp theo và đạt được sơ thiền.
    Tầm ví như con bướm bay về hướng một đóa hoa, tứ ví như con bướm quan sát để thử đậu xuống đóa hoa đó, hỷ ví như con bướm thích thú hút mật, lạc ví như con bướm đã cảm thấy no đủ thỏa mãn, nhất tâm hay định xả ví như con bướm đứng yên trên đóa hoa không mong muốn gì nữa. Do đó tầm trừ hôn trầm, tứ trừ nghi hoặc, hỷ trừ sân, lạc trừ trạo hối, nhất tâm trừ dục.

    12. Tu Phật

    Tu Phật có ba trình độ: 
    1) Sống đạo hay sống thuận pháp là cao nhất, nên gọi là Đạo Phật. Đây là thời kỳ Chánh pháp. 
    2) Tôn giáo có tên là Phật Giáo lấy giáo lý của một trong những tông phái làm lý tưởng của mình. Đây là thời kỳ tượng pháp. 
    3) Tín ngưỡng tuy tự xem là Phật giáo nhưng nặng hình thức đức tin dân gian mà nhiều khi đã trở thành mê tín. Đây là thời kỳ mạt pháp, chia ra rất nhiều nhánh ngọn mâu thuẫn nhau. Trở về thực tại, thấy ra thực tánh pháp và sống thuận pháp tánh với tâm sáng suốt (tuệ), định tĩnh (định), trong lành (giới) chính là trở về đầu nguồn của chánh pháp.

    ...Tu hành mà không nắm vững nguyên lý, chỉ nhắm mắt áp dụng theo một phương pháp tu luyện nào đó với ước mong đạt được một năng lực thì rất dễ bị "tẩu hỏa nhập ma". 

    ...Tu chính là trở về sử dụng tỉnh giác soi chiếu bóng tối của cái ta ảo tưởng để trả pháp lại cho thực tánh bản nguyên của nó...

    13. Chánh niệm và tỉnh giác

    Chánh niệm và tỉnh giác là hai yếu tố khác nhau về tính chất và tác dụng nhưng lại bổ túc cho nhau và hầu như luôn đi đôi với nhau như hai mặt của bàn tay. 
    Chánh niệm thuộc về định, 
    tỉnh giác thuộc về tuệ. 
    Chánh niệm giữ tâm trọn vẹn trên đối tượng, tỉnh giác soi sáng đối tượng. Có thể 2 yếu tố không cân bằng khi niệm hoặc tuệ yếu hay mạnh hơn. Ví như cây đèn pin, giữ yên hướng chiếu đúng trên đối tượng là chánh niệm, chiếu sáng để soi thấy đối tượng là tỉnh giác... Hai yếu tố này phải cân bằng và đúng mức thì tuệ giác thấy thực tánh pháp mới phát huy được... 

    14. Sống Đạo

    Ðạo Phật có nghĩa là sự sống giác ngộ, và giản dị làm sao khi con ăn biết mình đang ăn; khi đang đi, đứng, nằm, ngồi biết mình đang làm như vậy. Khi sân biết tâm mình có sân, khi buồn biết tâm mình có buồn, khi đau đớn biết mình đau đớn, khi vui thích biết mình vui thích, khi chơn chính biết mình chơn chính, khi sai lầm biết mình sai lầm... Ðó là sống đạo, đó là sống hồn nhiên và trong sáng...

    5. Giác ngộ

    Giác ngộ chính là thấy ra mọi hiện tượng thế gian đều không hoàn hảo như lý tưởng cầu toàn, do đó buông xuống cái ta ảo tưởng lăng xăng tạo tác để cầu toàn ...

    16. Buông

    Toàn bộ giáo pháp của đức Phật có thể gói gọn trong một chữ BUÔNG mà Ngài thường dạy là: "Nhất hướng, xả ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, chánh trí, giác ngộ, Niết-bàn".
    Trong ngoài lặng lẽ chẳng vin đâu
    Sáng suốt hồn nhiên khỏi vọng cầu
    Buông hết một phen đừng luyến tiếc
    Con ơi, ngay đó thấy đạo mầu.

    17. Tâm và Pháp


    ...Tâm và pháp vốn hoàn hảo, nên nếu trở về với tự tánh thì có thể lập tức "đốn ngộ" nên Pháp mới được gọi là sanditthiko, akāliko, ehipassiko... (thực tại hiện tiền, vượt khỏi thời gian, trở về là thấy...). Đó là cái ngộ của vô sư trí. Thấy ngã như nó là, thấy pháp cũng như nó là thôi thì ngã hay pháp gì tâm cũng không chấp, không ngại. Đó chính là thái độ rỗng lặng trong sáng trước mọi hiện tượng duyên khởi của vạn pháp.
    Pháp vốn tự nhiên và tánh biết cũng tự nhiên thấy pháp. Khi ta ảo tưởng xen vào thì nó cho là ta biết, từ đó có ý chí nỗ lực rèn luyện để trở thành "như ý của ta".

    Tâm bình pháp cũng bình
    Tâm sinh pháp liền sinh
    Sống tùy duyên thuận pháp
    Tâm pháp thảy đều MINH.


    18. NGÃ VÀ PHÁP

    ...Khi có bản ngã đang hiện khởi mà tâm như thật biết (tỉnh giác) có bản ngã đang hiện khởi thì tánh biết vẫn vô ngã. Ngay đó trực nhận tánh biết và pháp vốn vô ngã thì chính là tuệ giác hay ngộ vậy.
    Đơn giản là bản ngã không biết rằng nó chỉ là ảo tưởng lăng xăng tìm cách bành trướng chính mình. Bao lâu chưa thấy ra sự hoàn thiện của pháp, bản ngã còn muốn trở thành tình trạng tốt đẹp hơn cho riêng mình...

    Nguồn: Trung Tâm Hộ Tông
    Sưu tầm: Hanh Nghiêm

    Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2015

    Xướng Hoạ: Đường Trần

    Bài Xướng:

                  Đường Trần

    Ngơ ngác trông vời bóng tịch dương ,
    Đường trần dâu bể khóc vô thường .
    Tuổi xanh heo hút cùng năm tháng ,
    Mộng thắm tan tành với khói sương .
    Con Tạo khéo bày trò huyễn-ảo ,
    Nhân sinh say ngủ giấc miên trường .
    Lối về mờ-mịt chân lê bước ,
    Ngoảnh lại còn gì để vấn-vương !!
                                        Mailoc
    ***
    Các Bài Họa:

              Một Đêm Trăng

                               (hoạ Tá Vận)
    Xạc xào gió thổi mấy hàng dương
    Trăng biển lung linh đẹp lạ thường
    Những bước chân trần trên cát mịn
    Đôi tà áo mỏng giữa màn sương
    Em như tiên nữ trong vườn mộng
    Ta tựa cành khô cuối quãng trường
    Luống cuống lời yêu không dám ngỏ
    Để ai hờn dỗi, lệ sầu vương...
                                     Phương Hà
    ***
                    Đường Trần

                                 (Hoạ Đảo Vận)
    Đường trần còn sống...hãy còn vương !
    Hoạt cảnh nhân gian tựa hí trường
    Danh lợi mau tan như cát bụi
    Bạc tiền dễ mất giống hơi sương
    Phân ly xum hợp nào hư ảo ?
    Biển hóa nương dâu ấy lẽ thường !
    Mãi miết ghềnh đời thêm ngán ngẫm
    Trông vời nhân ảnh nẻo tà dương
                                  Song Quang
    ***
                Đường Trần

    Tương lai vừa chớm đã tà dương
    Thành bại nên hư ấy chuyện thường
    Kinh sử một thời lo sự nghiệp
    Xuân thì mấy chốc nhuộm phong sương
    Trải qua thế sự giờ phai mộng
    Ôm giữ niềm riêng khúc đoạn trường
    Danh vọng còn chi mà luyến tiếc
    Có chăng nằng nặng khối sầu vương.
                                     Quên Đi
    ***
               Cõi Vô Thường

    Tuổi xanh đã trải, bóng tà dương,
    Mắt thấy tai nghe, cảnh lạ thường.
    Lây lất cô đơn buồn lữ thứ,
    Bơ vơ quạnh quẽ tóc pha sương.
    Đau lòng cám cảnh đời hư ảo,
    Xót dạ ly hương cách dặm trường.
    Một kiếp phù du về cát bụi,
    Đường trần cõi tạm nợ tơ vương...
                    Mai Xuân Thanh
            Ngày 20 tháng 07 năm 2015
    ***
             Niềm Mong Đợi
                         (Hoạ Tá Vận)
    Cát vàng thoai thoải rặng thùy dương
    Cảnh đẹp nên thơ đến lạ thường
    Em gái nơi đây tròn tuổi mộng
    Anh chàng xứ lạ nét phong sương
    Người còn êm ấm trong song cửa
    Kẻ đã xông pha giữa chiến trường
    Cảnh cũ hỏi ai còn luyến nhớ
    Đêm ngày mong đợi dạ sầu vương
                          Kim Phượng
    ***
                      Ngộ !

    Thấm dần cam lộ dưới nhành dương
    Được mất nên hư đã khác thường
    Quá khứ bàng hoàng như ánh chớp
    Tương lai mờ mịt tợ mù sương
    Người đi thoát khỏi vòng cương tỏa
    Kẻ ở cười qua nỗi đoạn trường
    Bài học gian nan bày tục kiếp
    Nơi này bên nớ cũng đồng vương.
                           Cao Linh Tử
                             
     21/7/2015
    ***
               Đường Trần

    Chân trời lấp loáng ánh tà dương
    Cảm thán buồn thay phận thủ thường
    Cuộc chiến tang thương nguồn hệ lụy
    Tuổi đời khó nhọc cảnh chiều sương
    Nhân sinh thấp thỏm vùng tai ách
    Hoài bảo cưu mang khúc hận trường
    Khắc khoải vần thơ hòa xướng họa
    Tâm tình chia sẻ gánh sầu vương.
                     Nguyễn Đắc Thắng
                            
    20150721

    (Theo huynhhuuduc.blogspot.com)

    Thứ Năm, 6 tháng 8, 2015

    Tôi Đọc Kinh Di Đà



    Trong xã hội mà đạo đức băng hoại, độc ác, bạo tàn, vô cảm và cuồng tín xảy ra khắp nơi thì một tình thương, một việc lành, một nghĩa cử cao đẹp đều như viên ngọc quý, có ai tu hành dầu theo pháp môn nào cũng đều làm cho con người trở nên tốt hơn. Và quả thật, từ hơn hai nghìn năm trước cho đến nay, Phật giáo đi đến đâu thì mang lại trí tuệ và từ bi đến đấy, chưa làm tổn thương ai, dù là con sâu, cái kiến. Vậy thì Phật giáo nói chung, các tông phái Phật giáo nói riêng, ai có sứ mạng nấy, tuỳ căn cơ trình độ của chúng sanh, tuỳ lịch sử và thời đại, tuỳ quyền biến, tuỳ phương tiện nên chúng có thể sai khác, dị biệt chút ít, nhưng tựu trung, vẫn có cái chung nhất: “Không làm điều ác, làm các việc lành và giữ tâm trong sạch”. 

    Như vậy thì trong Phật giáo, ai là người tu hành chơn chánh, dẫu theo pháp môn nào cũng đều được cả. Người căn cơ trí tuệ thì tu Thiền tông, Thiền minh sát. Người căn cơ tinh tấn thì sống với hạnh phục vụ chúng sanh. Người căn cơ đức tin thì tu niệm ân đức Phật, đức Pháp, đức Tăng, niệm Phật A-di-đà, niệm Quán Thế Âm. Trí tuệ thì “tự lực, tự giác”. Tinh tấn thì “phục vụ để hoàn toàn, hoàn toàn để phục vụ”. Đức tin, ban đầu tuy “nương tựa tha lực” cho đến lúc tự mình lên đường thì lúc ấy cũng “tự lực, tự giác” được vậy.

    Kinh A-di-đà hậu tác khoảng 600 sau Phật Niết-bàn, được lấy cảm hứng từ câu chuyện vua Ajātasattu (A-xà-thế) do tham vọng vương quyền, lại còn bị Devadatta (Đề-bà-đạt-đa) xúi giục nên bắt giam vua cha Bimbisāra vào ngục. Mẹ của Ajātasattu là hoàng hậu Videhi (Vi-đề-hi) bí mật mang thức ăn vào cho chồng, nhưng vài lần bị Ajātasattu phát hiện, ngăn cấm. Cuối cùng đức vua Bimbisāra chết đói trong ngục tối. Hoàng hậu Videhi đau khổ tột cùng, bà chán ngán trần gian, chán ngán và ghê sợ tâm địa độc ác của con bà. Vốn là một cận sự nữ thuần thành, bà hướng tâm đến đức Phật, ngầm hỏi ngài là trên thế gian này, có cảnh giới nào không có những con người hung hiểm, độc ác, mà chỉ thuần là kẻ thiện hiền, sống một đời an lạc, hạnh phúc chăng? Khởi tâm bi mẫn, đức Phật xuất hiện, dùng oai lực thần thông cho bà thái hậu đau khổ thấy sáu cảnh trời Dục giới, nơi các vị chư thiên, do phước báu hoá sanh đang thọ hưởng niềm vui ngũ dục, không có cảnh bạo tàn và ác độc như nhân gian. Đặc biệt, đức Phật giới thiệu cung trời Đẩu Suất, vừa đầy đủ hạnh phúc vật chất vừa đầy đủ hạnh phúc tinh thần, là nơi thường có chư đẳng giác bồ-tát ngụ cư, hằng thuyết pháp cho thiên chúng. Sau đó, thái hậu Videhi hỏi Phật là muốn sanh về cảnh giới hạnh phúc ấy thì phải làm thế nào? Và đức Phật đã cặn kẽ chỉ dạy cách tu tập, là phải đầy đủ năm giới, mười lành, phải đầy đủ tín, giới, văn thí, tuệ như thế nào. Và cuối đời, thái hậu Videhi cố gắng, chăm chuyên tu tập như lời Phật dạy để mong hoá sanh vào cảnh trời Đẩu Suất.

    Theo tinh thần kinh điển Nikāya là vậy. Nhưng theo nguồn gốc văn bản Vô Lượng Thọ kinh (Amitāyurdhyāna Sūtra) thì có sai khác chút ít: 

    “- Đức Phật tiếp tục giảng giải những công hạnh tu tập cần thiết để quy hướng về cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà. Những công hạnh nầy là “Ba nghiệp thanh tịnh,” gồm kính trọng cha mẹ và sư trưởng, giữ giới và tụng đọc kinh điển Đại thừa. Qua năng lực thần thông, đức Phật đã cho Hoàng hậu Vi-đề-hi và những người thân thấy được cảnh giới Tịnh độ của đức Phật A-di-đà và nhờ đó mà bà chứng được vô sanh pháp nhẫn. 

    Không lo âu về thọ mạng trong đời sau thì sẽ không có được sự lợi lạc từ lời “khai thị” của đức Phật, Hoàng hậu Vi-đề-hi thưa hỏi về phương pháp tu tập để được vãng sanh. Để trả lời, đức Phật đã dạy cho bà 16 pháp quán, bắt đầu với pháp quán về mặt trời mọc ở cõi Ta-bà nầy, và chuyển sang kích thước vật lý của cõi Tịnh độ (Sukhāvati), như đất đai, cây cối, ao hồ; rồi nói về đức Phật A-di-đà và các vị Bồ-tát trợ thủ như Bồ-tát Quán Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí. Ba pháp quán sau cùng đề cập đến các đối tượng của chín phẩm vãng sanh và chi tiết từng phẩm hạng mà mọi người có khả năng đạt được. Lời chỉ dạy của đức Phật về 16 pháp quán tạo thành chủ đề chính trong phần chánh văn của bộ kinh. Kinh Quán Vô Lượng Thọ kết thúc bằng sự quả quyết rằng Hoàng hậu Vi-đề-hi chắc chắn sẽ được vãng sanh, và khuyến tấn người đọc truyền bá sâu rộng giáo nghĩa kinh văn”.

    Còn theo Bách khoa mở thì:

    “- Quán Vô Lượng Thọ kinh Amitāyurdhyāna Sūtra) là một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh miêu tả thế giới phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: sống thanh tịnh, giữ giới luật và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả thoát khỏi các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của A-di-đà. Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vi-đề-hi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là vua Tần-bà-sa-la (sa., pi. bimbisāra). Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ.

    Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Đại Thế Chí; quán A-di-đà trong Tịnh độ; quán ba vị thánh trong Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.

    Đọc mấy đoạn văn trên, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy chỗ nào là cận nguyên thuỷ, chỗ nào là của tư tưởng phát triển (Những cụm từ như tụng đọc kinh điển đại thừa, vô sanh pháp nhẫn và 16 phép quán tưởng chưa hề thầy trong hơn 25 bộ phái Tiểu thừa và Đại chúng bộ sau cuộc kêt tập kinh điển lần thứ 3, thời vua Asoka, 216-218 năm sau Phật Niết-bàn).

    Thật ra, hầu như một số ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng của kinh A-di-đà đều được triển khai từ các Nikāya nguyên thuỷ. Ta có thể đối chứng một vài.

    1- Cảnh giới Tịnh Độ Di-đà :

    “Lại nữa Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc có bảy tầng lan can, bảy tầng mành lưới, bảy tầng hàng cây, đều do bốn thứ báu bao bọc chung quanh, cho nên cõi đó gọi là Cực Lạc.

    Lại nữa Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc có ao làm bằng bảy báu, nước có tám thứ công đức, đầy dẫy trong đó, đáy ao dùng cát vàng rải làm đất, bốn bên thềm đường, dùng vàng bạc, lưu ly, pha lê hợp làm thành, phía trên có lầu các, cũng dùng vàng bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, châu đỏ, mã não nghiêm sức. Hoa sen trong ao lớn như bánh xe, hoa màu xanh thì ánh sáng xanh, màu vàng thì ánh sáng vàng, màu đỏ thì ánh sáng đỏ, màu trắng thì ánh sáng trắng, tốt đẹp thơm tho trong sạch. Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

    Lại nữa Xá Lợi Phất ! Cõi Phật đó thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời, mưa xuống hoa trời Mạn Đà La. Chúng sinh cõi đó, thường vào buổi sáng sớm, đều lấy túi y đựng đầy hoa đẹp, đem đi cúng dường vạn ức Đức Phật trong mười phương, khi đến bữa ăn bèn trở về nước của mình, ăn cơm xong đi kinh hành. Xá Lợi Phất ! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.

    Lại nữa Xá Lợi Phất ! Cõi đó thường có đủ thứ chim lạ đẹp đủ màu như : Chim hạt trắng, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mệnh. Các thứ chim đó, ngày đêm sáu thời, vang ra tiếng hoà nhã. Tiếng đó diễn nói pháp : năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo, các pháp như vậy thảy, chúng sinh trong cõi đó, nghe tiếng đó rồi, đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. 

    Xá Lợi Phất ! Ông chớ cho rằng những thứ chim đó là do tội báo sinh ra. Vì sao? Vì cõi Phật đó chẳng có ba đường ác. Xá Lợi Phất ! Cõi Phật đó tên ba đường ác còn không có, hà huống là có thật. Những thứ chim đó đều do Đức Phật A Di Đà, muốn khiến cho pháp âm tuyên lưu mà biến hoá làm ra. Xá Lợi Phất ! Cõi Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu, và các mành lưới báu, vang ra âm thanh vi diệu, ví như trăm ngàn thứ nhạc, đồng thời hoà tấu, người nghe tiếng đó rồi, tự nhiên đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất ! Cõi Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm như thế”.

    Và sau đây là cảnh giới của đức vua Chuyển Luân thánh vương (Đức vua Thiện Kiến):

    “- A-nan, ở chung quanh bên ngoài Câu-thi vương thành, có bảy lớp hào. Hào ấy được xây bằng gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy hào cũng trải cát bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

    “Này A-nan, Câu-thi vương thành có bảy lớp tường thành bao bọc bên ngoài. Những lớp tường thành ấy cũng được xây bằng gạch bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.

    “Này A-nan, Câu-thi vương thành có bảy lớp hàng cây Đa-la bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh bao bọc xung quanh. Cây Đa-la bằng vàng thì hoa, lá và trái bằng bạc. Cây Đa-la bằng bạc thì hoa, lá và trái bằng vàng. Cây Đa-la bằng lưu ly thì hoa, lá và trái bằng thủy tinh. Cây Đa-la bằng thủy tinh thì hoa, lá và trái bằng lưu ly.

    “Này A-nan, ở giữa những cây Đa-la có đào nhiều hồ sen; hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen đỏ và hồ hoa sen trắng.

    “Này A-nan, bờ hồ hoa ấy được đắp bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Ở đáy hồ thì rải cát bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Trong thành hồ ấy có thềm cấp bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly, thủy tinh. Thềm cấp bằng vàng thì bậc chân bằng bạc, thềm cấp bằng bạc thì có bậc chân bằng vàng. Thềm cấp bằng lưu ly thì có bậc chân bằng thủy tinh. Thềm cấp bằng thủy tinh thì có bậc chân bằng lưu ly.

    “Này A-nan, xung quanh hồ ấy có câu lan bằng bốn báu, lưỡi câu là vàng bạc, lưu ly, thủy tinh. Lan can bằng vàng thì lưỡi câu bằng bạc. Lan can bằng bạc thì lưỡi câu bằng vàng. Lan can bằng lưu ly thì lưỡi câu bằng thủy tinh. Lan can bằng thủy tinh thì lưỡi câu bằng lưu ly.

    “Này A-nan, hồ ấy được trùm bởi màn lưới có chuông treo ở giữa. Chuông ấy làm bằng bốn báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc. Chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng. Chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh. Chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.

    “Này A-nan, trong hồ ấy trồng nhiều loại hoa dưới nước như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng; thường có nước, có hoa, không có người trông giữ ngăn cấm vì thuộc về tất cả mọi người.

    “Này A-nan, ở bờ hồ ấy có trồng nhiều loại hoa như hoa Tu-ma-na, hoa Bà-sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Kiện-đề, hoa Ma-đầu-kiện-đề, hoa A-đề-mâu-đa, hoa Ba-la đầu.

    “Này A-nan, bên các bờ hồ sen ấy, có nhiều người nữ thân thể nõn nà, sạch sẽ, trong sáng, sắc đẹp hơn người, chẳng kém thiên nữ, tư dung đoan chánh, ai nhìn cũng thấy vui thích, được trang sức đầy đủ các loại ngọc báu; nhữngi người nữ ấy bố thí tùy theo nhu cầu của mọi người như đồ ăn thức uống, áo, chăn, xe cộ, nhà cửa, giường nệm, đệm lông ngũ sắc, tôi tớ, đèn dầu... đem cung cấp đầy đủ.

    “Này A-nan, lá cây Đa-la ấy lúc gió thổi thì phát ra âm thanh cực kỳ vi diệu, cũng như năm loại kỹ nhạc được nhạc sư tài ba tấu lên thì có âm thanh hết sức hài hòa, tuyệt diệu. Này A-nan, lá cây ấy lúc gió thổi cũng lại như vậy”.

    2- Về thời gian tu tập:

    - Kinh A-di-đà:

    “Xá Lợi Phất ! Nếu có người thiện nam thiện nữ nào, nghe nói về Đức Phật A Di Đà, mà trì danh hiệu của Ngài: hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tán loạn, thì người đó khi lâm chung, sẽ được Đức Phật A Di Đà và các Thánh chúng, hiện ra ở trước người đó, lúc người đó lâm chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Xá Lợi Phất ! Ta thấy lợi ích đó, nên nói lời nầy. Nếu có chúng sinh nghe nói như thế, phải nên phát nguyện, sinh về cõi đó”.

    - Kinh Niệm xứ:

    “- Này các Tỷ-kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, sáu năm, năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm, bảy tháng, sáu tháng, năm tháng, bốn tháng, ba tháng, hai tháng, một tháng, trong nửa tháng; không cần nửa tháng, chỉ cần trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn hữu dư y, thì chứng quả Bất hoàn. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Đó là Bốn Niệm xứ”.

    3- Niệm Phật của Nguyên thuỷ:

    Niệm Phật trong thiền định nguyên thủy dành cho hành giả có căn cơ đức tin (saddhā), tất là có tánh tín (saddhācārita) vượt trội hơn các tánh khác. Có hai cách niệm sau đây:

    3.1- Niệm danh hiệu: Trong 9 hồng ân Phật sau đây: Arahaṃ (Ứng Cúng), Sammā Sambuddho (Chánh Biến Tri), Vijjā-carana Sampanno (Minh Hạnh Túc), Sugato (Thiện Thệ), Lokavidū (Thế Gian Giải), Anuttaro Purisa Damma Sārathi (Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu), Satthā Deva Manussānam (Thiên Nhân Sư), Buddho (Phật), Bhagavā (Thế Tôn) – hành giả thấy danh hiệu nào hợp với căn cơ, tâm tánh của mình thì lựa chọn để niệm. Phải chú tâm, tinh cần, miên mật và đặt trọn niềm tin của mình trong khi niệm. Có thể niệm “Arahaṃ, Arahaṃ...” hay “Buddho, Buddho...” thành lời sau đó niệm thầm trong tâm; niệm liên tục, không gián đoạn, không để cho bất kỳ một tạp niệm nào xen vào cho đến khi tâm được an trú trong “nhất niệm”, hay cận hành định (upacāra).

    3.2- Niệm ân đức:

    Ví dụ: Arahaṃ là tự tánh thanh tịnh của chư Phật ba đời, có ba đức (guṇa): Một, Vô Lậu, là đoạn tận vô minh, phiền não, thực chứng Trí Tuệ Vô lậu viên mãn (Anāsava Sabbaññutā Ñāṇa). Hai, Vô Sanh, là chấm dứt sinh tử luân hồi, đạt Vô Sanh Bất tử (Ajātāmata). Ba, Vô Nhiễm, là thoát ly lậu hoặc, cấu uế, hoàn toàn Thanh Tịnh Vô nhiễm (Amala Visuddhi).

    Cách niệm ân đức này, hành giả nghĩ tưởng hoặc niệm tưởng trong tâm, từ ân đức một đến ân đức ba. Khi mà tâm hành giả liên tục tràn ngập ba ân đức ấy thì mọi tạp niệm lắng dứt, mọi tham ưu phiền não tự động xa rời, và lúc ấy hành giả cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng, mát mẻ, có những thiền chi như phỉ, lạc phát sanh; và cũng đạt được nhất niệm hoặc cận hành định giống như niệm hồng danh vậy.

    4- Niệm Phật A-di-đà: 

    4.1- Niệm danh hiệu: Nếu niệm lục tự Di-đà thì tương tự niệm danh hiệu Phật như bên nguyên thuỷ vậy. Hành giả khi tu tập cứ niệm mãi, niệm hoài hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, một lòng không tán loạn, thì người đó khi lâm chung, sẽ được Đức Phật A Di Đà và các Thánh chúng, hiện ra ở trước người đó, lúc người đó lâm chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Ở đây, ta lưu ý, bên nguyên thuỷ, khi đạt nhất niệm, tức cận hành định thì tâm không còn tán loạn, tâm không còn điên đảo, tâm đã thanh tịnh (tham ưu, phiền não đã lắng dịu). Nói cách khác, “nhất cú Di Đà vô biệt niệm (nhất niệm), bất lao đàn chỉ đáo Tây phương”. Và khi tâm đã thanh tịnh rồi thì “tuỳ kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh”, ở đây và bây giờ.

    4.2- Niệm tự tánh:

    Nếu tự tánh của chư Phật có ba đức thì niệm Phật A-di-đà cũng có ba đức: Một, Vô Lượng Quang (Amitābhā) là biểu tượng cho Vô Lậu: Trí tuệ vô lậu viên mãn (Anāsava Sabbaññutā Ñāṇa). Hai, Vô Lượng Thọ (Amitāyur) là biểu tượng cho Vô Sanh: Chấm dứt luân hồi sinh tử, đạt Vô Sanh Bất Tử (Ajātāmata). Ba, cõi Cực Lạc (Sukhāvatīvyūha) cõi Tịnh Độ là biểu tượng cho Vô Nhiễm: Thoát ly lậu hoặc, cấu uế, hoàn toàn Thanh Tịnh Vô Nhiễm (Amala Visuddhi).

    Hoá ra dù niệm danh tướng, tự tánh thì ý nghĩa hay chứng nghiệm đều giống nhau dù tên gọi có khác. Lại nữa, một bên là thực tánh (Arahaṃ), một bên là biểu tượng quyền biến thiện xảo (A-di-đà) nhưng gặp gỡ nhau ở tâm thanh tịnh cả. Do vậy, không ngạc nhiên gì khi hành giả phái Tịnh độ thường hay nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm tịnh độ!” Có nghĩa là, tự tánh mình là Phật Di Đà, và tự tâm mình là cõi Tịnh Độ” vậy.

    5- Còn tu tập nữa: o

    5.1- Theo nguyên thuỷ:

    Sau khi hành giả niệm Phật đến nhất niệm (còn một niệm, nhất cú Di Đà), tức cận hành định (upacāra samādhi) là tâm thanh tịnh thuộc cõi Dục giới. Niệm Phật thuộc tuỳ niệm (anussati), chỉ có khả năng đạt cận định chứ không thể đạt sâu hơn. Nếu muốn đạt nhất tâm (ekaggatā), đắc an chỉ định (appanā samādhi), tức là tâm thanh tịnh thuộc cõi Sắc giới thì phải chuyển đổi đề mục sang niệm (sati) hơi thở, niệm thân hoặc các đề mục như đất, nước, lửa, gió... Tuy nhiên, không cần phải đi sâu vào định, chỉ cần cận hành định là hành giả có thể chuyển qua tu tập minh sát tuệ, quán ngũ uẩn, mười hai duyên khởi để thấy rõ tam tướng, đi vào dòng thánh.

    5.1- Theo kinh A-di-đà:

    Khi niệm Phật đến chỗ “nhất tâm bất loạn” , thì tâm đã là cõi Tịnh Độ rồi. Do kinh Di Đà là kinh phương tiện, kinh biểu tượng, cho nên ta phải đọc ra đằng sau ngôn ngữ và đằng sau hình ảnh biểu tượng đề tìm cho ra cái thực. Vậy, đến cõi Tịnh Độ rồi, hành giả cũng còn cần phải tu tập, ta hãy nghe: “Này Xá-lơi-phất! Cõi đó thường có đủ thứ chim lạ đẹp đủ màu như: Chim hạt trắng, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, cộng mệnh. Các thứ chim đó, ngày đêm sáu thời, vang ra tiếng hoà nhã. Tiếng đó diễn nói pháp: năm căn, năm lực, bảy bồ đề phần, tám thánh đạo, các pháp như vậy thảy, chúng sinh trong cõi đó, nghe tiếng đó rồi, đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. 

    Vậy là đã rõ, còn phải tu 37 trợ đạo phẩm, trong đó có Bát Chánh Đạo, tức Đạo Đế, con đường thành tựu chánh trí, giác ngộ, giải thoát, Vô Sanh, Niết-bàn!

    Cầu nguyện cho muôn triệu người tu tập pháp môn niệm Phật Di Đà: “Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung, Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu (cửu phẩm là 4 đạo, 4 quả và 01 Niết-bàn), Hoa khai kiến Phật ngộ Vô Sanh (chứ không phải Hữu Sanh), Bồ Tát bất thối vi bạn lữ (bất thối vì đã vào dòng giải thoát rồi).

    MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
    Trích từ: Thư Viện Hoa Sen
    Sưu tầm: Hanh Nghiêm