Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

Có...Hãy Trân Trọng




Trong cuốn “108 điều dạy của đức Dalai Lama”, điều đầu tiên Ngài dạy rằng, “mỗi khi cảm thấy hoang mang và mất tự tin thì hãy nghĩ ngay đến các phẩm năng tuyệt vời của con người mà mình đang có, các phẩm năng ấy của quý vị chỉ mong sao được nẩy nở thêm. Vậy hãy giữ lòng hân hoan nhìn vào kho tàng quý giá đó đang được cất giấu bên trong nội tâm của quý vị: Hân hoan là một sức mạnh, vì vậy quý vị hãy phát huy nó.” Như một món quà quý, một chiếc phao xuất hiện kịp lúc cứu vớt người đang có tâm trạng “hoang mang và mất tự tin”, đức Dalai Lama đã truyền sức sống cho người mất thăng bằng tâm lý ấy kịp lấy lại cân bằng và đứng vững trên đôi chân của chính mình. Lời dạy này mới thấm thía làm sao!

Mất tự tin là điều nguy hiểm nhất làm ta chùn bước trong cuộc sống.Nếu bạn thiếu sự tự tin nơi bản thân thì làm sao người ta có thể tin tưởng mình, mà sống ở đời, không ai tin tưởng là một bất hạnh lớn nhất. Khi mất tự tin, ta không thấy mình có giá trị gì cả và mình không thể chấp nhận bản thân. Như vậy, nếu không có giải pháp để thay đổi thái độ sống, ta sẽ thất bại vì sự mất tự tin. Không phải ngủ qua một đêm, từ người mất tự tin, ta trở nên tự tin vào bản thân mình, mà rèn tự tin là cả một quá trình, nhưng ai cũng có thể đạt được nếu nỗ lực đúng cách.

Chấp nhận chính mình

Chấp nhận chính con người mình không phải là hài lòng, tự mãn với những gì mình có để rồi không nỗ lực phấn đấu. Không phải ta hài lòng kiểu AQ, tự thưởng cho mình như một “phép thắng lợi tinh thần”, rằng “em xinh em đứng một mình cũng xinh”. Chính tâm lý AQ làm ta thui chột ý chí. Ngày bé đi học, tôi được các cô giáo dạy: “nước Việt Nam ta rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu…” Nhiều người lên án, cho rằng dạy cho thế hệ trẻ như vậy là sai lầm, làm phát sinh tư tưởng ỷ lại, thiếu cố gắng. Chẳng có gì sai khi nói như vậy. Ta có quyền ghi nhận với một chút tự hào khi thiên nhiên trao tặng cho ta đường bờ biển dài gần 3.500km, hàng triệu km2 thềm lục địa, hàng nghìn con sông lớn nhỏ, có nhiều sản vật quý, núi rừng chiếm đến 40% diện tích, với những cánh rừng nguyên sinh, hệ động vật và thực vật vô cùng phong phú. Thế nhưng, tất cả điều là tiềm năng chờ đợi những bàn tay, khối óc, tâm huyết của những người công dân Việt Nam gìn giữ, bảo vệ và phát triển. Sẽ sai lầm khi chúng ta không biết làm gì với “rừng bạc, biển bạc” và một sai lầm khác nếu ta phủ nhận hoặc nói khác đi rằng chúng ta không có tiềm năng gì về rừng, khoáng sản trong lòng đất và chẳng có lợi thế nào về địa hình phong phú và đường bờ biển dài như vậy. Thái độ đúng đắn là ta ghi nhận những gì mình có để lấy đó làm nền tảng để xây dựng, phát triển.


Dù quá khứ có khó khăn đến đâu chăng nữa, bạn cũng có thể bắt đầu trở lại từ ngày hôm nay. 
Chấp nhận mình là xác định chỗ mình đứng để từ đó có kế hoạch cụ thể cho đường đi của đời mình. Để có thể bắt đầu tự tin, bạn nên bình tâm ngồi lại, hãy nghĩ ngay đến và liệt kê tất cả “các phẩm năng tuyệt vời của con người mà mình đang có” trên một tờ giấy. Bằng cách này, bạn sẽ tự nhắc nhở rằng mình đang sở hữu rất nhiều tố chất đáng quý, hãy xem đây là kho báu được cất giấu trong nhà mình. Vấn đề là ta cần biết cách sử dụng kho báu mình có để đem lại an vui, hạnh phúc cho chính mình và cho người khác.

Ta có nhiều phẩm năng tuyệt vời của con người.

Nhân cách con người cũng vậy. Ta có quyền nhìn nhận về những “phẩm năng tuyệt vời của con người mà mình đang có” như lời ngài Dalai Lama dạy, tự tin về điều này và lấy đó làm bệ phóng để phát triển nhân cách, đạo đức và những phẩm năng tuyệt vời ấy ngày càng hoàn thiện hơn. Những cái ta đang có rất nhiều. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ bàn về vài phẩm năng tuyệt vời nơi con người mà bạn có:

Sức sống

Ta đang có sức khỏe và đây là một hạnh phúc lớn của đời người. Nếu bạn là người bình thường, bạn khỏe hơn rất nhiều người khác, hãy cảm ơn điều này. Cứ nhìn những người thân, người quen quanh mình, bạn sẽ thấy mình may mắn biết dường nào. Nếu bạn bệnh, thì vẫn còn hạnh phúc hơn bao người bệnh khác đang điều trị tại bệnh viện. Thậm chí nếu bạn đang nằm một bệnh viện nào đó, thì điều này vẫn tốt hơn người đang nằm xạ trị, hóa trị ở bệnh viện ung bướu. Nếu bạn là người đang theo phác đồ điều trị ung thư tại các bệnh viện đặc trị chứng bệnh này, bạn vẫn cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều người khác đã ra đi sớm hơn từ lâu rồi với căn bệnh giống bạn. Nếu bác sĩ nói rằng bạn chỉ còn một thời gian ngắn ngủi nữa trên cõi đời này thì điều ấy cũng tốt thôi. Chết là cái không ai tránh khỏi, hà cớ gì phải sợ, may mắn của bạn là được biết trước khoảng nào việc ấy đến, trong khi vô số người không có cơ hội để biết trước điều này. Nhìn thấy rõ như vậy, bạn sẽ tự tin hơn bạn nghĩ.

Sức khỏe không quan trọng bằng sức sống. Có thể ta không có nhiều sức khỏe, ta vẫn có sức sống dồi dào nếu có thái độ sống như tôi vừa trình bày. Sức sống là nguồn năng lượng mãnh liệt nhất ở con người. Ngay trong tình huống sức khổ kiệt quệ nhất, chính sức sống vực chúng ta dậy và tạo niềm an tâm cho những người thân. Con người ta không ai có thể lột da sống đời, đây là quy luật vận hành khách quan không phụ thuộc vào ý muốn con người. Ai cũng một lần ra đi, thế nhưng khi đối mặt với cái chết được dự báo, nếu ta bình tâm, thanh thản đón nhận sự thật ấy thì người thân ta không đau buồn, ngược lại ta còn truyền cảm hứng sống tích cực cho bao người trong cuộc đời này. Có sức sống là có tự tin để chất lượng cuộc sống tốt hơn với quỹ thời gian còn lại trên cuộc đời.

Sự nỗ lực vươn lên 

Đã là con người thì ai cũng có sự nỗ lực vươn lên và đây là một trong những yếu tố góp phần duy trì nòi giống và phát triển xã hội. Có điều, không phải lúc nào phẩm năng tuyệt vời này cũng có thể phát huy tác dụng của nó. Những lúc ta hoang mang và mất tự tin là lúc “huyết áp nỗ lực” bị tụt nặng! chỉ số này chìm hẳn xuống và ta trở thành “bệnh nhân” vì mạch sống trở nên trầm! Hơn lúc nào hết, chúng ta phải kịp thời tìm cách để kéo mình trở về với trạng thái năng động, phấn chấn, tích cực và đầy trách nhiệm với cuộc đời mình và cộng đồng. Về phương diện cá nhân, ta phải nhắc mình, chỉ có ta mới có thể làm thay đổi cuộc đời của chính mình, tất cả các yếu tố khác, ngay cả những người thân yêu nhất hay những trở ngại to lớn tưởng chừng đè bẹp mình, cũng không đủ sức thay đổi đời ta nếu ta không đem quyền tự chủ giao nộp cho người khác hoặc các yếu tố bên ngoài. 

Nỗ lực là sự dồn năng lượng vào việc tận dụng những gì ta đang có trong hoàn cảnh hiện tại để tạo một cú hích cho đời mình để không đứng trước vực thẳm của tuyệt vọng. Đừng trông chờ vào sự may mắn. Cần mẫn, nỗ lực làm công việc của mình như nhặt từng cánh hoa rơi tự xâu kết thành tràng còn thực tế nhiều lần hơn so với việc lười lao động và mua vé số để đợi cả tràng hoa tự động rơi vào tay mình. Thật đúng lúc nếu trong tâm trạng không được tốt thế này mà ta có thể nhớ lại lời nói của Lucille Ball, nữ diễn viên Hollywood nổi tiếng rằng: “may mắn ư? Tôi không biết may mắn là gì cả. Tôi chưa bao giờ trông chờ điều đó, thậm chí còn ngại tiếp xúc với những người gặp may. Với tôi chỉ có sự nỗ lực và nhận biết cái gì là cơ hội cho mình, cái gì là không”. Không có gì thay thế được sự nỗ lực. Henry Ford từng nói: “Càng nỗ lực làm việc, càng may mắn nhiều hơn”. Sự nỗ lực và quyết tâm luôn có người bạn tốt đồng hành là kiên trì.

Kiên trì 

Nhờ có ý thức của một sinh vật cấp cao, con người hơn hẳn các động vật cấp thấp ở khả năng kiên trì. Con người có thể kiên trì vì hiểu rõ những vất vả, khó khăn, công sức, thời gian, tài sản mình đang bỏ ra là đầu tư chứ không hề mất, mà sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp trong tương lai không xa. Con người có thể kiên trì vì với trí não phát triển vượt bậc, sinh vật cấp cao này có khả năng quan sát xa rộng, khả năng tư duy và phán đoán vượt không gian, xuyên suốt thời gian để thấy rõ tương quan nhân-quả mà không vội nản lòng bỏ cuộc khi kết quả chưa đến. Chúng ta cùng ôn lại lời phát biểu nổi tiếng của Calvin Coolidge, tổng thống thứ 30 của Hoa Kỳ về sự kiên trì. Ông nói, “không gì thay thế được sự kiên trì. Tài năng cũng không, bởi lẽ cuộc sống thường có rất nhiều người tài giỏi mà không thành công. Năng khiếu cũng không, vì rất nhiều thiên tài không được công nhận. Giáo dục cũng không, vì thế gian đầy ắp những người có học nhưng không được tuyển dụng và nhìn nhận. Chỉ có sự kiên trì và quyết tâm là thể hiện sức mạnh vô hạn”.

Sự nhẫn nại là người cộng sự đắc lực của kiên trì và sự chung sống giữa chúng cũng đem lại niềm vui riêng. Vận động viên đầu tư rất nhiều năm khổ luyện chỉ vì một vài phút giây chinh phục đỉnh cao. Sự kiên trì thể hiện ở tinh thần quyết tâm hoàn thành công việc mình đã chọn. Những lúc kiệt sức, ta thường muốn bỏ cuộc, nhưng nên nhớ rằng ta là con người, không nên bỏ phí phẩm năng tuyệt vời mà chỉ có ở con người này. Kiệt sức và bỏ cuộc là để dành cho con vật, và cho những ai quá yếu đuối không đủ sức để bảo vệ và phát huy phẩm năng quý giá của con người. Nếu ta không muốn thuộc loại người bạc nhược ấy, hãy biết kiên trì cho đến hoàn thành công việc mà mình đã bỏ ra nhiều thứ. Người thiếu kiên trì thì “đầu voi, đuôi chuột”, khởi đầu công việc khí thế lắm. Tuy nhiên, khi gặp trở ngại, họ liền chùn chân, kết quả là họ chẳng bao giờ làm trọn vẹn việc gì, đừng nói đến thành công mỹ mãn.

Sự kiên trì được động viên nhờ mục đích mà ta hướng đến. Do vậy, để có thể nuôi dưỡng kiên trì, yếu tố cần thiết cho sự thành công, ta cần phải có mục đích sống được cụ thể hóa qua từng sự kiện, từng hoạt động của mình. Cuộc đời không có mục đích giống như thuyền không lái, sống mòn lây lất qua ngày. Với cách “sống qua ngày, chờ qua đời”, ta chỉ làm nặng gánh cho cộng đồng ta có mặt, uổng phí một kiếp người. Người không có mục đích sẽ không bao giờ kiên trì vượt khó và không bao giờ trải nghiệm được cảm giác mãn nguyện trong đời. Kiên trì là viên ngọc quý chỉ có con người mới có, ta hãy trân quý và đem viên ngọc này ra sử dụng cho nó càng ngày càng sáng, càng đẹp hơn lên.

Ý chí và nghị lực

Ý chí và nghị lực giúp con người ta vượt qua mọi trở ngại của cuộc sống. Ý chí và nghị lực không tự nhiên mà có, cũng không phải di truyền, nhưng nó vốn đã có mầm trong tâm con người ở dạng tiềm năng, do rèn luyện mà trở nên mạnh hay yếu. Người có ý chí là người có khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình, khắc phục mọi khó khăn nhằm đạt mục đích đó. Người có nghị lực là người biết sử dụng sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước những khó khăn. Không quan trọng ta đang ở đâu mà quan trọng là ý chí và nghị lực của ta đang hướng về đâu. Chúng ta có thành công có đạt tới đỉnh cao của cuộc sống hay không là do ý chí nghị lực và niềm tin ở trong chính chúng ta. Khi niềm tin vào chính mình hơi lung lay thì đó là lúc tốt nhất ta nhờ nghị lực và ý chí kềm giữ, hỗ trợ để niềm tự tin sống khỏe trở lại mà đi tiếp chặng đường đang chờ phía trước.

Nếu có vấp ngã vì những ổ gà, hay ụ đất, tảng đá chướng duyên trên đường ta đi, âu cũng là chuyện thường. Không có gì chướng ngại trong cuộc sống mới là chuyện… không bình thường. Đừng mong không gặp chướng ngại, mà mong sao mình đủ ý chí để không chệch hướng đi, đủ nghị lực để đứng dậy từ chỗ vấp ngã và vượt qua “chướng ngại vật” để bước tiếp. Hãy xem những gian truân của cuộc sống là cơ hội để kiểm tra nội lực của mình, để rồi mình biết lượng sức mà không chủ quan. Ý chí và nghị lực giúp ta khám phá bao điều nhiệm mầu của cuộc sống đang nằm phía trước, ngay dưới chân ta đứng mà nếu bỏ cuộc, ta bỏ đi những cơ hội quý giá này. Nếu có phút giây chùng lòng vì hoang mang và mất tự tin, bạn hãy dừng lại và nghĩ về đích đến đầy ý nghĩa mà mình đã định hướng từ khi mới bắt đầu, tôi tin không ai trong chúng ta dừng lại giữa đường. 

Dù đang giữa đường hầm tối om, ta tin có tia sáng ở cuối đường hầm, ta cứ vững chãi từng bước đi tới. Lạc quan là người bạn tốt của ý chí và nghị lực. Thomas Edison là người lạc quan và luôn nhìn thấy sự tuyệt diệu trong mọi thứ. Ông không ngại thử nghiệm tới lần thứ 10.000 trước khi tìm ra loại vật liệu phù hợp nhất cho việc chế tạo dây tóc bóng đèn. Thất bại trong đời nằm ở chỗ người ta không nhận ra được họ đang rất gần với thành công; ngay lúc đó, họ lại bỏ cuộc. Mỗi chúng ta sinh ra trên đời này là để gặp thử thách, chinh phục thử thách; do vậy, có thử thách có khó khăn thì ta mới cảm nhận được hết ý vị cuộc đời. Khi tâm đã quyết, chướng ngại lớn trở thành nhỏ. Khi tâm đã ngại, khó khăn nhỏ như hạt cát trở thành như hòn núi cản đường ta bước. Bạn có thể dừng lại, hoặc vượt qua, hoặc tìm đường khác ít mạo hiểm hơn để đi vòng khi phía trước là đoạn đường rất ghập ghềnh và nguy hiểm. Ta có quyền chọn lựa và cách ta chọn lựa sẽ định hình nên ý chí và nghị lực của con người mình.

Thái độ sống tích cực

Trên đời này, có thể ta không được phép chọn nhiều thứ, ví dụ ta không thể chọn cha mẹ, ta không thể chọn nơi mình sinh ra cũng như hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh xã hội, thế nhưng có một thứ ta hoàn toàn có quyền chọn, đó là thái độ sống. Ta không được chọn cho mình một hoàn cảnh sống, nhưng ta có thể lựa chọn một thái độ của mình trước hoàn cảnh đó. Nếu bây giờ bạn vẫn chưa hài lòng với cuộc sống hiện tại thì thay vì cứ đắm mình mãi trong sự bực tức, oán than, tiếc nuối, tại sao bạn không nghĩ khác đi, không tự mình thay đổi nó? Nói về thái độ sống, ta không được phép quên câu nói của Charles R. Swindoll rằng, “chúng ta không thể thay đổi quá khứ, cũng không thể thay đổi sự thật rằng mọi người sẽ hành động theo cách của họ. Chúng ta cũng không thể thay đổi được những điều không thể tránh khỏi. Chúng ta chỉ có thể “tấu lên” một “giai điệu” mà chúng ta có, đó chính là thái độ. Tôi tin rằng cuộc sống là 10% những gì xảy ra với tôi, 90% còn lại là cách tôi phản ứng với nó. Bạn cũng thế –"chúng ta chịu trách nhiệm về thái độ của chính mình.” Một thái độ tích cực sẽ cung cấp cho ta một nguồn năng lượng mạnh mẽ, giúp bạn hình thành sự tự tin. Chính sự tự tin đó sẽ thúc đẩy bạn hành động và cách bạn hành động như thế nào sẽ là câu trả lời rằng những điều bạn mơ ước có thể trở thành hiện thực hay không.

Trong mọi tính huống, ngay cả trong lúc khó khăn nhất, bức bách nhất cũng nên nhìn đời, nhìn người bằng ánh mắt tích cực nhất. Ta chưa có được trọn vẹn những gì mình mong muốn, cũng nên nhìn đời bằng thái độ “nửa ly nước đầy”. Thấy mình CÓ nửa ly nước mà không phải chiếc ly không, lòng ngập tràn hạnh phúc; thấy mình sao CHỈ CÓ nửa ly mà không đầy ly, ta khổ đau, buồn tủi. Người nào mong ước đời dọn cỗ sẵn cho ta nhập tiệc, sẽ không bao giờ biết đến hạnh phúc chân thật là gì. Hạnh phúc như ngọc ở trong đá, hạnh phúc như mật ở trong hoa, không đến với ai không cần cù tìm kiếm. Do vậy, hãy sử dụng châu báu trong con người mình để đem lại cuộc sống hạnh phúc hơn là chờ đợi sự ưu ái của cuộc đời. Hãy học cách tư duy tích cực qua lời Norman Vincent Peale, ông tổ của trường phái tư duy tích cực, rằng nếu đời cho bạn một trái chanh, thì bạn hãy pha cho mình một ly nước chanh thật ngon. Việc đi tìm cái ly, tìm nước, tìm đường là công việc của mỗi người chúng ta nếu muốn uống nước chanh. Khi tự tay mình pha được ly nước chanh và thưởng thức nó, niềm vui thấm nhuần khắp thân thể các bạn à. Thành công đến từ tự lực, tự chủ và phát huy tất cả nội lực của mình, với một chút trợ duyên từ người ngoài như một chút gia vị, sẽ vô cùng ý nghĩa với chúng ta.

Trên đây tôi nhắc đến một vài món châu báu bạn và tôi đều có trong người. Một khi ta biết sử dụng những của quý này cũng như bao nhiêu của quý ta còn cất kỹ trong bản thân mình, tôi tin rằng, chúng ta trở thành người giàu có, không phải giàu về tiền bạc tài sản thế gian mà giàu về chất lượng sống vui, sống khỏe, sống đầy tình người với sự viên mãn về tinh thần và tâm linh. Một khi biết sử dụng đúng cách tài sản tâm linh của mình, trạng thái hoang mang, không tự tin sẽ không còn chỗ đứng trong lòng mình. Mỗi ngày, mỗi ngày mới đang chờ đón thái độ tích cực, tâm trạng hân hoan để làm cho chất lượng cuộc sống mình trọn vẹn. Hãy mỉm cười với chính mình và thầm cảm ơn cuộc sống, cảm ơn những nhân lành mình đã gieo từ trước để có được những gì đang có trong hiện tại với nhiều của báu còn cất dành chưa sử dụng đến hoặc mới sử dụng chỉ một phần.

Chần chừ gì nữa mà không tự trang sức mình bằng những châu báu đầy nhà như sức sống, sự nỗ lực, kiên trì, ý chí và nghị lực cũng như thái độ sống tích cực cùng nhiều món trang sức giá trị khác để tận hưởng hạnh phúc của một kiếp người.

Hạnh phúc trong tầm tay, đừng để nó vút bay…

Hằng Như
Từ nguồn: hang-nhu.blogspot.com
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Mục Tiêu Của Thiền là làm sao đạt được: Thoát Khổ, Giác Ngộ và Giải Thoát




I. THOÁT KHỔ: 

Khổ có 2 phần: Khổ do Thân đau bệnh và khổ do Tâm bị quá nhiều dính mắc. Chính thân đau bệnh làm cho tâm khổ. Rồi cũng chính do tâm quá nhiều dính mắc lại đưa đến cho thân bị đau bệnh. Thân đau bệnh thì tâm khổ. Ðây là cái vòng lẩn quẩn của khổ giữa thân và tâm, giữa tâm và thân. 

Xét cho cùng thì cả hai tâm và thân đều tương tác qua lại để tạo những mối khổ triền miên trong tâm con người. Trong Tứ Ðế, Phật kể ra 13 loại khổ. Trong đó có cái Khổ thứ 13 là do tâm chấp thân ngũ uẩn là thật có và trường tồn. Ta khát khao đủ thứ để phục vụ những cảm giác của giác quan. Khát ái khởi lên từ chỗ này. Ðây là đầu mối đưa đến khổ. 

Nó là nguyên nhân chính yếu. Khát ái là lòng khao khát thèm muốn những dục lạc, những quyền lợi, danh vọng, địa vị trên thế gian mà ta không bao giờ biết đủ. Từ đó đưa đến những tranh chấp, đấu tranh điên đảo, và những nỗ lực tối đa để đạt được điều gì mình muốn đạt được. 

Nhưng đâu phải hễ muốn là được? Muốn chỉ là năng lực của ý chí - năng lực này do khát ái thúc đẩy - còn được hay không là do nhiều yếu tố khác nữa. Tâm và trí, sức và lực, tiền và của ... của ta phải dồn vào đó... Chương trình, kế hoạch, nhân sự, hoàn cảnh, thời cơ, kỹ thuật phải có đầy đủ.... 

Rồi thí dụ như có đạt được mục tiêu mà mình nhắm đến, thử hỏi ta có giữ được điều đó lâu dài hay không? Hay ta chỉ nắm được điều đó như ta nắm nước trong tay? Rồi khi nó tuột ra khỏi bàn tay của ta, khổ lại đến! Vì ta muốn giữ mãi. Mà thực tế có giữ được cái gì mãi mãi đâu? Khi không giữ được thì khổ lại đến! Nước mắt lại trào ra. Giận, tức, oán hờn, thù nghịch lại xuất hiện. 

Nói chung ý niệm Khổ được thành lập là do Tâm xung đột lẫn nhau bên trong nó. Nó không bao giờ hài lòng với điều nó có sẵn. Chỉ vì nó còn chứa nhiều lớp tập khí, lậu hoặc bên trong nó. Nó chưa chuyển đổi nhận thức nên nó có cái nhìn thế tục. Bằng những kỹ thuật thực hành của Thiền, nó sẽ giúp ta vượt qua các loại khổ. 

1. Thân thoát khổ: 

Về thân, trên phạm vi nào đó, trong cuộc sống hằng ngày ta có thân khỏe mạnh: Tim, thận, gan, phổi, máu và não bộ đều tốt. Ðây là lý tưởng. Nhưng trong trường hợp nào đó, ta có những chứng bệnh bên trong nội tạng, bằng Thiền ta có khả năng tự chữa những chứng bệnh đó. 

Thí dụ: Ta bị những thứ bệnh như cao máu, rối loạn nhịp tim, mất ngủ, béo phì. Ta áp dụng các phương pháp Thở trong Thiền, ta có khả năng điều chỉnh được những thứ bệnh đó. Cơ thể có khả năng trở lại bình thường. 

Hoặc ta ngăn ngừa được bệnh tai biến mạch máu não (stroke) hay bệnh đứng tim (heart attack). 

Hoặc khi ta bị căng thẳng thần kinh thường trực, đưa đến bị uất cảm (stress) kinh niên, ta cũng có thể áp dụng những kỹ thuật "Thở hai thì" hay "Chú Ý Trống Rổng" để tâm trở lại trạng thái bình thường. 

Như vậy, trong trường hợp này, chất thuốc gì trong cơ thể ta tiết ra để điều chỉnh các loại bệnh nói trên? 

Ðó là chất serotonin và chất acetylcholine. Chức năng của Serotonin giúp cho ta có được sức khỏe dồi dào, điều chỉnh ngủ thức, chữa trị được bệnh trầm cảm, điều chỉnh sự căng thẳng thần kinh và lo âu. Còn chất acetylcholine thì có 4 chức năng: 

-Chống áp huyết cao, máu mỡ cao -Phục hồi ký ức.
-Cơ thể linh hoạt nhẹ nhàng.
-Trí năng sắc bén. 

Ðó là trong những điều kiện bình thường, ta có khả năng chữa trị hai thứ bệnh của thân. 

-Thứ nhất là bệnh tâm lý như uất cảm (stress).
-Thứ hai là bệnh tâm thể như máu cao, tiểu đường, trần cảm, nhức đầu, liệt run, béo phì, mất ngủ... 

Khi đi sâu vào Thiền, ta có những phương pháp tu Quán, tu Chỉ, tu Ðịnh và tu Huệ. Nếu thực hành đúng, mỗi phương pháp đều tạo ra những tác dụng sinh học (bioaction) giúp cho Thân được khỏe mạnh và Tâm được bình thường. 

Thoát Khổ vốn dựa trên những phương pháp đó trong Thiền. Ngày nay, y học Tây phương đều thừa nhận Thiền là dụng cụ giúp con người chữa được những thứ bệnh tâm thể hay tâm lý. 

Tóm lại, sự thoát khổ bệnh tật của Thân là dựa trên sự miên mật thực hành Thiền đúng pháp, đúng kỹ thuật. Thiếu miên mật thực hành, thiếu áp dụng đúng phương pháp, đúng kỹ thuật, ta sẽ không bao giờ đạt được mục tiêu đó. 

2. Tâm thoát khổ: 

Nếu thông suốt Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Xung Ðột/Khổ, Vô Ngã) ta rất dễ cảm thông với người khác. Người gần nhất là vợ chồng, con cháu và cha mẹ của ta. Ta không bao giờ mang tư tưởng khẳng định với mọi người. Vì Vô Thường là một qui luật. Xung đột là một qui luật. Không thực chất tính là một qui luật. Ta không đem tư tưởng "phải là, nên là" ra áp dụng với người khác, dù người đó là vợ hay chồng hoặc con cháu của ta. 

Làm được như vậy, tâm ta bớt dính mắc hay không còn dính mắc vào đối tượng hay hiện tượng thế gian. Khi tâm ta ở trạng thái thanh thản, thân ta sẽ chịu ảnh hưởng theo. Ðó là nó khỏe mạnh. Sự khỏe mạnh này là do hệ thống chất nước hóa học bên trong dây thần kinh và bên trong tuyến nội tiết, tiết ra. Trên đây là vấn đề thoát khổ của thân. Còn tâm thì sao? Trong quá khứ tâm dính mắc rất nhiều. Khổ vốn đã tiềm tàng trong tâm vì những dính mắc đó. Sự tiềm tàng này gồm 2 phần: 

-Thứ nhứt là nghiệp chướng. Ðây là thứ "dây mơ rể má" từ tiền kiếp vốn đã xây dựng trong tâm. Chính những "dây mơ rể má" đó đã trói buộc tâm ta với nhiều hoàn cảnh, nhiều đối tượng, nhiều địa phương khác nhau mà ta muốn thoát ra khỏi những sự trói buộc đó cũng không làm sao thoát ra được. 

-Thứ hai là Tập khí/lậu hoặc. Tâm ta huân tập hay tích lũy nhiều thói hư tật xấu, nhiều đam mê, ghiền nghiện trong kiếp sống vừa qua hay trong kiếp sống hiện tại. 

Trên căn bản vì mình không nhận ra chân tánh hiện tượng thế gian, nên cứ bị những truyền thống thế gian trói buộc. Từ truyền thống gia đình, truyền thống xã hội, truyền thống văn hóa, truyền thống giai cấp, truyền thống tôn giáo, truyền thống dân tộc.
Lúc nào cũng nói thương người này, người nọ, mà thực sự mình thương mình. 

Lúc nào cũng thấy "cái của tôi" là cao quí, là tốt đẹp hơn hết. 

Thí dụ: Qua bên này, các con của mình nó lớn. Chúng tiếp thu một nền giáo dục mới. Chúng nó có nếp sống mới theo kiểu mới của truyền thống Mỹ. Mình cứ bắt chúng nó phải theo những tập tục cổ xưa của mình. Bắt chúng nó phải răm rắp làm theo ý của mình. Chúng nó không làm theo, mình khổ. Mình nói mình thương con mình, mà thực sự mình thương mình. Mình muốn chúng nó phải nghe lời mình. Mình cứ bắt con mình phải là thế này, phải là thế khác. Nó không theo ý mình thì mình giận. Ðó là mình chưa nhận ra chân tánh hiện tượng thế gian: vô thường, xung đột, không thực chất tính... Mình không nhận ra những qui luật chi phối nhân cách con người, chi phối tất cả hiện tượng trên thế gian. Nếu nhận ra, mình sẽ không khổ. Thành ra cái khổ của tâm vốn do mình không nhận ra chân tánh hiện tượng thế gian. Trong tâm mình cứ xung đột hoài. Khi tâm cứ xung đột hoài hậu quả nó sẽ gây bệnh cho thân. Thành ra, khổ của tâm quan trọng hơn khổ của thân. Chính tâm làm cho thân phải chịu những bệnh tật hay phải chịu những mệt nhọc, căng thẳng thần kinh. 

Nếu thoát ra khỏi những cái nhìn của thế tục, của truyền thống thế gian, thì tâm ta sẽ thoát ra khỏi những trói buộc của truyền thống thế gian. Khổ qua đó cũng không làm nội tâm ta bị ray rứt. Vì khi tâm khổ, xung lực khổ đó sẽ phát ra rồi tác động lên vỏ não, đến hệ thống viền não. Nếu lo âu, sợ hãi thái quá, thì chất độc epinephrine sẽ tiết ra theo máu vô ruột, thượng thận, tiết ra Cortisol, Cortisol tiết ra nhiều làm mất trí nhớ. Thành ra chính cái tâm ảnh hưởng đến thân. 

Ta thực hành Thiền để làm cho tâm thanh thản. Tâm thanh thản ở đây không qua giáo điều luân lý mà qua những nhận thức mới. 

Trên đây là phần thoát khổ của tâm và thân. Chính tâm tạo ra những dòng nghiệp chướng. Mà tâm đó có từ quá khứ, nó huân tập tập khí/lậu hoặc. Vậy bằng Thiền, có thể rứt tâm ra khỏi nghiệp chướng và tập khí/lậu hoặc. 

Tâm có nghiệp chướng và tập khí/lậu hoặc là Vọng tâm. Còn khi Chân tâm bật lên là hết khổ. 

Tóm lại, mục tiêu của Thiền là thoát khổ trên 2 mặt thân và tâm. Do đó, Thiền xứng đáng được xem là 1 môn Khoa học Tâm linh. 

II. GIÁC NGỘ

Mục tiêu thứ 2 của Thiền là Giác ngộ, tức giúp mình phát huy năng lực trí huệ từ bên trong mình. 

Nhận rõ 1 cái gì, đó là tỉnh ngộ. Giác ngộ đặt trên cơ sở tỉnh ngộ. 

Giác ngộ có nghĩa là Bồ Ðề: Nhận rõ thế gian và có 1 năng lực tâm linh. Ta không nói đến Giác ngộ của Ðức Phật là Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì không ai làm được tới mức đó. Ở đây ta chỉ nói giác ngộ ở mức phát huy trí tuệ tâm linh. 

Tỉnh ngộ là nền tảng căn bản của giác ngộ. Tỉnh ngộ để quyết tâm dấn thân, bằng những phương tiện gì đó để phát triển trí tuệ tâm linh. Còn giác ngộ là bừng sáng trí tuệ tâm linh. 

Giác ngộ phải đặt trên Pháp. Pháp thực hành để bật ra giác ngộ. Thí dụ cạo đầu đi tu là tỉnh ngộ, phải có pháp tu mới có thể đi tới giác ngộ. Giác ngộ tức Phật tánh bừng sáng lên. 

Ðó là mục tiêu thứ 2 của Thiền. Nếu chọn mục tiêu thứ 2 thì học lên Bát Nhã, vì Bát Nhã mới có những chủ đề cao. 

III. GIẢI THOÁT 

Thông thường giải thoát có 2 nghĩa: 

Nghĩa thứ nhứt là chấm dứt tái sanh. Muốn vậy, ta phải thực hành thiền như thế nào đó để đào thải tận gốc rễ tập khí/lậu hoặc. Nếu không, thì khi sắp chết, cận tử nghiệp sẽ trồi lên. Ta sẽ tái sinh để trả quả hay hưởng quả trong kiếp sống vừa qua. Nói theo Nguyên Thủy, đây là đạt "Vô Dư Niết Bàn". 

Nghĩa thứ hai là khi còn sống đạt được "Hữu Dư Niết Bàn. Khi chết, đạt "Vô Dư Niết Bàn". Làm sao biết là "Hữu Dư Niết Bàn"? Thân lành mạnh, tâm không dính mắc bắt cứ đam mê nào, các căn đều thanh tịnh. 

Vậy muốn giải thoát, trước hết là Nghiệp giải thoát. 

-Nghiệp giải thoát: Tức không còn dính mắc hay khát ái. Tuy còn những giao tế bình thường, mà không còn khát ái. Vì trong khát ái có tiềm tàng tình cảm của mình đến với thân nhân, hay là đam mê trong nghề nghiệp chuyên môn v.v... Tất cả những ấn tượng đã ghi lại trong tâm sẽ có cơ hội trồi lên trước giây phút lâm chung. 

-Tâm giải thoát: Hoàn toàn không còn khát ái. Khát ái là tâm ích kỷ. Tâm giải thoát không còn cái Ta, tức đạt được Vô ngã, hay tự ngã hoàn toàn thanh tịnh. Mình không còn ganh đua, ba cái điên đảo dưới đây không còn: 

Kiến điên đảo: Trong vô thường thấy là thường.. 

Tưởng điên đảo: Thấy không đúng.

Tâm điên đảo: Thành kiến, định kiến, chủ quan... 

-Tri kiến giải thoát: Không chụp mũ người khác, không còn tiềm tàng tùy miên trong tâm. Có cái nhìn khoáng đạt, không còn tham, không còn nghi... Cái nghi làm cho tri kiến của mình tối tăm. 

-Huệ giải thoát: Tức có trí huệ bậc Thánh. Có 2 nghĩa: 
Dùng phương tiện tu để có huệ giải thoát. 

Có trí huệ bậc Thánh hay trí huệ tự phát. 

-Thân giải thoát: Thân sống trong đời mà được tự tại. Ðiều này rất khó, vì sống trong đời mình bị 3 cái ràng buộc: 

Nghề nghiệp 

Ðịnh chế xã hội: Luật pháp, khai thuế, đi lính... 

Ràng buộc gia đình, kinh tế gia đình, con đau, bệnh tật... Hoàn chỉnh tất cả 
mới được gọi là giải thoát. 


Tóm lại 3 mục tiêu của Thiền là: Thoát khổ, Giác ngộ và Giải thoát. Thiền có những phương tiện để đạt từng mục tiêu. Ai nhắm mục tiêu nào, dùng phương tiện đó. 

Thầy Thích Thông Triệt thuyết giảng 
Khóa tu học 8 ngày tại đạo tràng Oregon)
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

Tánh Biết



Tánh biết của tâm vốn rỗng lặng trong sáng, tức là sẵn có định tuệ đầy đủ, tự nhiên.
Nhưng khi bạn không chịu buông tư kiến tư dục của cái ta ảo tưởng xuống để cho định tuệ tự lặng lẽ chiếu soi một cách độc lập, mà chỉ nương tựa vào mớ kiến thức ngoại lai thủ đắc được vì mục tiêu chủ quan của lòng tham vọng, thì bạn đã vô tình quên đi tánh biết trong sáng hồn nhiên nơi chính mình! Từ đó bạn nỗ lực tìm kiếm, say mê tích lũy sở tri và sở đắc mà bạn hằng ước mong đạt được! Để rồi chính những sở tri sở đắc có được từ tư kiến, tư dục của cái ta ảo tưởng đó đã làm phân tán sự trực nhận trọn vẹn của trí tuệ tỉnh giác trong tánh biết tự nhiên...

....Tánh biết vốn có sẵn tuệ giác trong sáng tự nhiên. Khi tâm buông xả, rỗng lặng, không bị lý trí vọng thức che ám thì tánh biết liền tự chiếu sáng, đó chính là trí tuệ tỉnh giác. Nhưng khi bạn cố tình tìm cách rèn luyện để sở hữu tuệ giác thì nó lập tức biến mất.

... Ngay khi tâm buông xả, vô sự, thì tánh biết rỗng lặng trong sáng tự phát huy trí tuệ tỉnh giác để soi sáng thực tại, chứ tuệ giác không do nỗ lực của bản ngã tạo nên. Vì vậy, rốt ráo mà nói, chỉ có tinh tấn chánh niệm tỉnh giác mà không có người tinh tấn chánh niệm tỉnh giác.

(Trích "Sống trong thực tại" chương 3)

Như hư không rỗng lặng
Vô ngại và viên dung
Tánh biết thấy vạn pháp
Vô thỉ đến vô chung.

Viên Minh



HỎI ĐÁP VỀ TÁNH BIẾT

1. Thể Tánh và Tướng Dụng của Tâm

Câu hỏi:

Kính Thầy! Tánh Biết của Tâm vốn là thanh tịnh trong sáng thì tại sao lại khởi sinh vô minh ái dục để có luân hồi sinh tử?

Trả lời:

Tâm có 2 phương diện: thể tánh và tướng dụng. Thể tánh của tâm hay gọi là Tánh Biết vốn thanh tịnh trong sáng mà đức Phật gọi là Pabhassara Citta. Nhưng tâm thể tánh có thể duyên xúc với 6 trần bên ngoài qua 6 căn mà thành 6 thức - gồm 121 tâm tướng dụng, hay gọi là Tướng Biết cho gọn. Trong 121 tướng biết có 2 loại, một là tướng biết thế gian (tâm hiệp thế) và hai là tướng biết xuất thế (tâm siêu thế). Tướng biết thế gian hình thành do tích tập khái niệm, kinh nghiệm và kiến thức (qua ngũ uẩn) mà tạo ra ảo tưởng "ta" và "của ta" đối lập với "không phải ta" và "không phải của ta" rồi vọng động tạo tác mà hướng ra luân hồi sinh tử. Tướng biết siêu thế thì thấy được tâm tướng thế gian là vô thường, khổ não và chấp ngã nên xả ly, ly tham, đoạn diệt mà trở về với thể tánh của tâm vốn là an tịnh, chánh trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Thực ra, khi giác ngộ thì thấy thể tánh và tướng dụng của tâm tức Tánh Biết và Tướng Biết vốn đều hoàn hảo, nhưng do trong tướng biết sinh ra ảo tưởng "ta", "của ta" và xem tánh biết là "tự ngã của ta" mà tạo thành thế giới huyễn hoá nhưng thực ra chỉ có cái ngã ảo tưởng tự chuốc lấy luân hồi sinh tử mà thôi. Giống như Dịch Lý, Thái Cực vốn có thể tánh là thanh tịnh nhưng tướng dụng thì có thể sinh ra thiên địa vạn vật. Nếu mỗi hiện tượng trong trời đất tự khoác cho mình một bản ngã thì liền rơi vào luân hồi sinh tử, còn nếu ở trong hiện tượng mà vẫn không tách rời thái cực thì vẫn là một pháp hoàn hảo trong sự hoàn hảo của đất trời. Tóm lại, tâm vốn thanh tịnh trong sáng, chỉ có cái ta ảo tưởng mới thấy luân hồi sinh tử mà thôi.

2. Thế nào là tánh biết của tâm và thế nào là cái biết của ý thức (biết bằng bộ não)?

Câu hỏi:

Kính thưa thầy, con là một Phật tử ở Cần Thơ. Hôm rồi con có đến chùa và đã gặp thầy, thật là duyên lành cho con! Trước đây con đã từng nghe những bài giảng của thầy trên web nhưng con chưa hiểu rõ thế nào là tánh biết của tâm và thế nào là cái biết của ý thức (biết bằng bộ não)? Còn thắc mắc thứ hai của con là bên Phật giáo Nguyên Thủy, khi một người đắc quả A-la-hán thì người ấy có tự biết hay không? Hay cần phải có vị thầy ấn chứng như bên thiền tông? Con cảm ơn thầy.

Trả lời:

1) Tánh biết của tâm (hay đặc tánh của tâm là biết) được biểu hiện qua 6 thức khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần, trongđó ý thức chỉ là một phần thôi. Tánh biết bao gồm cả tiềm thức, vô thức và hữu thức trong khi ý thức chỉ hoạt động với điều kiện hữu thức mà thôi.
2) Khi hành giả trải qua tiến trình tâm 4 Đạo, 4 Quả đều tự biết rất rõ trên phương diện thực tánh chân đế, nhưng không cần biết tên gọi là gì, còn tên gọi các bậc Thánh là do đức Phật chế định để dễ ấn chứng cho mức độ giác ngộ của các đệ tử mà thôi, tên gọi chế định ấy hoàn toàn không quan trọng đối với sự chứng ngộ của hành giả. Tuy nhiên, người nào tự "ấn chứng" cho mình là thánh này thánh kia thì lại là quá phàm tục!

3. Bản Chất của Tánh Biết

Câu hỏi:

Bạch thầy, tánh biết luôn có sẵn trong mỗi con người chúng ta, khi ta tham, sân, si, nếu chánh niệm ta biết ta tham, ta sân, ta si. Ngược lại, nếu ta chánh niệm ta vẫn biết ta không tham, không sân, không si. Vậy tánh biết về bản chất là gì? nó thuộc về tâm nào trong các loại tâm, muốn cho nó khỏe mạnh mình nên cho nó ăn thức ăn gì? Sao con rối quá. Mong thầy từ bi giảng cho con. Đội ơn Thầy!

Trả lời:

Tánh biết chính là bản chất của tâm, vì tâm có nghĩa là biết pháp, hay nói cách khác cụ thể hơn là danh biết sắc. Tánh biết không những có mặt trong tất cả tâm hữu thức mà còn bao gồm cả phần hoạt động của bhavanga - tiềm thức và vô thức. Vậy tất cả các loại tâm biểu hiện ra ngoài thuộc về tánh biết chứ không phải tánh biết thuộc về loại tâm nào. Cũng như tất cả các loại sóng đều thuộc tánh nước chứ không phải tánh nước thuộc về loại sóng nào.
Nhưng sao con lại muốn định nghĩa tánh biết là gì, trong khi mỗi ngày con vẫn dùng nó? Đừng quan tâm nó là gì, có hay không, mà đơn giản là chỉ cần trở về trọn vẹn trong sáng với thực tại thì lập tức ngay đó tánh biết liền biết pháp hoàn toàn trung thực. Nhưng nếu con khởi lên ý muốn định danh tánh biết thì liền bị cái ta lý trí che lấp chẳng khác nào mây đen che vầng nhật nguyệt!

4. Hoạt động của Tánh Biết

Câu hỏi:

Thưa Thầy, vậy là con đã được gặp Thầy. Con thấy mình thật may mắn vì con có ba câu hỏi trong đầu định đến hỏi thầy nhưng con chưa cất tiếng hỏi thì Thầy đã ân cần trả lời cả ba câu hỏi đó ngay khi lần đầu gặp Thầy ở nhà chị Trang hai tối 24 và 25/5/2011. Rồi con được ngồi nghe Thầy giảng ở chùa Linh Thông và chùa Hòe Nhai nữa. Có lúc nghe Thầy giảng con thấy rất cảm động mặc dù từ Thầy chỉ toát ra những hành động và lời nói rất giản dị. Con chú ý thấy Thầy ho nhiều trong sáng nay và sáng qua. Con cũng chú ý thấy con tham lam muốn ngồi nghe Thầy giảng tất cả các buổi và muốn hỏi Thầy thật nhiều. Con chợt hiểu ra tham nghe Pháp cũng vẫn là tham. Vậy nên tối nay con chọn cách viết thư để lúc nào Thầy rảnh Thầy đọc những dòng này con viết để cảm ơn Thầy và xin Thầy tha thứ cho sự tham lam nghe Pháp của chúng con, đồng thời con xin Thầy hãy chú ý giữ sức khỏe. Thầy làm việc quá sức rồi. Con xin phép được cảm ơn Thầy vì tất cả những gì Thầy đã từ bi chỉ dạy cho chúng con trong những ngày Thầy tới Hà Nội.

Trả lời:

1) Thầy cũng rất hoan hỷ khi nghe con nói như vậy. Điều này chứng minh rằng tánh biết có cách biết mà ý thức không biết được. Ý thức cần có đối tượng, mà phần lớn đối tượng là cái đã biết (pháp trần), nên khi con chưa đặt câu hỏi làm sao thầy biết bằng ý thức được, thế mà tâm vẫn cảm nhận được tâm theo cách riêng của nó. Tánh biết có một tầm hoạt động rộng lớn vô cùng so với những gì nhãn thức, nhĩ thức... và ý thức có thể biết được một cách hữu hạn. Đó là lý do vì sao Lão Tử nói "Tri bất tri thượng" tức là biết mà không cần ý thức mới là biết tối thượng. Trong Phật giáo, tánh biết thể hiện qua rất nhiều mức độ nhận thức khác nhau: Liễu tri, tuệ tri, thắng tri, thức tri, tưởng tri, giác tri.
- Giác tri là cái biết mang tính bản năng sơ khởi của các giác quan tiếp xúc với đối tượng (xúc) và những cảm giác thu nhận được (thọ). Cái biết thực vật tuy rất đơn sơ nhưng cũng là dạng biết này..
- Tưởng tri là cái biết qua ý niệm, ý tượng hay khái niệm. (Lưu ý: tưởng tượng và hồi tưởng phát xuất từ tưởng tri nhưng đã bước qua lĩnh vực thức tri).
- Thức tri là cái biết qua kiến thức có được từ kinh nghiệm của 6 thức và từ những thông tin góp nhặt, vay mượn bên ngoài. Đây chính là hoạt động của lý trí chỉ hữu ích trong lĩnh vực tục đế (chân lý quy ước của thế gian).
- Thắng tri là cái biết qua một trình độ tâm thức cao hơn như thiền định, thần thông... Thắng tri đôi lúc được dùng theo nghĩa tuệ tri hoặc liễu tri, khi đó là thắng tri của bậc Thánh.
- Tuệ tri là khả năng nhận thức trực tiếp trung thực của tánh biết. Khi thận trọng, chú tâm, quan sát hoặc tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác đạt được đối tượng thực tánh pháp thì tánh biết thể hiện dưới dạng tuệ tri.
- Liễu tri là khả năng sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên của tánh biết không còn bị ngăn ngại bởi cái ta tư tưởng nên hoàn toàn vô ngã vô vi. Đây là tánh biết thể hiện nơi các bậc Thánh.
2) Con phải khám phá ra sự khác biệt giữa nhu cầu học pháp với tâm tham pháp. Tham pháp là mong muốn sở hữu và tích lũy thêm số lượng kiến thức nhiều hơn, còn nhu cầu học pháp là mở rộng tầm nhìn để nhận thức sự thật đúng hơn, không bị giới hạn trong tư tưởng, quan niệm, kiến thức và kinh nghiệm hạn hẹp. Vậy nhu cầu học pháp là cần thiết chứ không phải là tham pháp.

Trích: Hỏi Đáp "TRUNG TÂM HỘ TÔNG"





Biết

Vui thay lời Thầy dạy
Con như được tỏ tường
Tánh Biết thấy vạn pháp
Vi diệu đến khôn lường.

Tất cả giác, tưởng, thức,
Cùng thắng, tuệ, liễu tri
Thô thiển đến tinh vi
Đều nằm trong Tánh Biết.

Tánh Biết tự thấy pháp
Vô ngã và vô thường
Thấy cái ta ảo tưởng
Quỷ quyệt thật khó lường.

Chỉ tại tham, sân, si
Tạo luân hồi sanh tử
Vậy ngay nơi thực tánh
Thấy pháp tự đến đi...

Giác ngộ là thấy pháp
Thấy pháp tánh đang là
Thấy người thợ làm nhà
Tất cả nhờ Tánh Biết.


***

Tâm

Chân Tâm là Tánh Biết.
Không diệt cũng không sanh
Không trụ không bám víu
Để Pháp tự diệt sanh.

Tánh biết thấy vạn Pháp
Ngay thực tại đang là
Thấy người thợ làm nhà.
Xây ngôi nhà sanh tử.

Bản ngã Tham, Sân, Si
Kẻ lạ mặt trộm Pháp.
Tánh Biết rõ tất cả
Tùy thuận Pháp đến đi.

Tánh biết không phân biệt
Chân thật và lặng thầm
Không chọn lựa lấy bỏ.
Quả thật là Chân Tâm.

Như Tuệ
Sưu tầm: Hoa Nghiêm



Phút Trải Lòng



Này em cứ trải lòng mình
Dẫu từng khóc tủi với nghìn đau thương!
Niềm đau, nỗi khổ là sương
Sẽ tan tựa sóng trùng dương vỗ bờ..

Này em, chớ sống hững hờ
Ơn người mở lượng tóc tơ một lần 
Giữa đời có bốn cái Ân
Dầu không đáp tạ, tình trần nhớ ghi..

Này em, vạn nẻo đường đi
Nếu từng gục ngã, kiên trì, đứng lên!
Đạo, đời hai lối chông chênh
Công thành không kể, kể bền lòng ta..

Này em, Đạo lý xưa xa
Thứ tha lầm lỗi, chính ta nhẹ lòng.
Biển đời lúc đục, lúc trong ..
Nhân hoàn mấy kẻ từng không lỗi lầm?

Cùng tôi, em hãy mở tâm..
Về xoa dịu những vết bầm, tổn thương..
Đời ai vui mãi không buồn?
Cõi tâm khoáng đạt vì nhường nhịn nhau.

Thế thường khóc trước, cười sau
Kẻ giòn cười lại.. cứ sầu quanh năm 
Thế gian vốn dĩ thăng, trầm
Dại, khôn.. thua một nét tâm thật thà..

Mong manh là cõi ta bà
Này em, hãy sống ''đang là'', hôm nay!
Ngày mai ai biết, ai hay
Bàn tay con tạo lá lay đổi dời..

Khi danh, khi lợi.. qua rồi
Cuối đường lưu dạ nét cười.. trẻ thơ.
Cuộc đời thấp thoáng cơn mơ
Thế nên, hãy sống như chưa sống từng..

Này em đôi lúc biết dừng
Thản nhìn mây nước ung dung qua cầu.. 

- Vài lời thương mến cho nhau
Thôi chừ Sống lại từ đầu, nghe em! 

Như Nhiên
Theo Đạo Phật Ngày Nay
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Suy Ngẫm Vấn Đề số 4: Ngày Nay Phải Nương Vào Đâu Để Tứ Chúng Đồng Tu Đều Có Kết Quả?



Phần lớn những kinh hiện nay chúng ta được biết chỉ xuất hiện rất lâu sau khi đức Phật Thích Ca nhập diệt. Như kinh Địa Tạng, Lương Hoàng Sám xuất hiện thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, có nghĩa là sau 800 năm.'


Câu hỏi 4: Ngày nay phải nương vào đâu để tứ chúng đồng tu đều có kết quả, như Thọ Bát Quan Trai được hướng dẫn cho Phật tử? Kính xin Thượng Tọa triển khai thêm về pháp hành của người xuất gia?


Trả lời: Thích Nhật Từ
Câu hỏi gồm 2 vế liên hệ đến thực tập và ứng dụng lời Phật dạy trong đời sống cho người tại gia và xuất gia. 

Vế đầu của câu hỏi liên hệ đến Bát Quan Trai giới. Chúng ta phải ghi nhận rằng Bát Quan Trai giới là những giới pháp được Đức Phật dạy cho những người đang tập sự xuất gia, do đó, không nên truyền và phổ biến cho các Phật tử không có nhu cầu này. Trung Quốc và Việt Nam đang thiên cực trong việc truyền giảng Bát Quan Trai giới vào các tuần Chủ Nhật hoặc ít nhất nửa tháng một lần tại các Chùa. Do không nắm rõ được nguồn gốc và đối tượng tu Bát Quan Trai giới là ai, phương pháp làm đạo này đã khiến cho các quý ông mặc cảm với Đức Phật và ngại không cho vợ của mình đi chùa.

Cốt lõi của Bát Quan Trai giới là tập tu hạnh xuất gia trong một ngày, trong đó cái khó nhất là không quan hệ tình dục trong 24 giờ, không dùng trang sức phẩm làm đẹp, không sống một đời sống vương giả, vì vốn những thứ này thúc đẩy sự đòi hỏi tính dục. Các bà, các cô tham dự Bát Quan Trai giới một thời gian, một số ngộ nhận, về nhà…“cấm vận” chồng.

Trung Quốc đã cường điệu rằng tu một ngày Bát Quan Trai giới sẽ thoát khỏi các cảnh giới địa ngục, ngã quỷ, súc sinh và đạt được nhiều kết quả cao quý trong một kiếp người. Thực ra phải tu tập chuyển hóa thường xuyên mới đạt được kết quả đó, chứ không phải một ngày một đêm. Điều này dẫn tới việc nhiều Phật tử nữ “mê” sự thực tập này, vô tình cấm vận chồng, dẫn đến tình trạng sứt mẻ hạnh phúc vợ chồng, từ đó, kéo theo tình trạng các quý ông không tán đồng việc vợ, con gái, chị, mẹ… mình đi chùa, vì sợ bị rơi vào thiên cực vừa nêu.

Thực chất, Bát Quan Trai giới là cơ hội tìm người có năng khiếu xuất gia trở thành xuất gia thật. Thời Đức Phật có xuất gia đoản kỳ. Trung Quốc đã áp dụng xuất gia đoản kỳ vào ba tháng an cư, hoặc thời điểm thích hợp trong năm, để những Phật tử thuần thành sau thời gian xuất gia thử, nếu thấy thích hợp, phát nguyện đi tu luôn.

Các nước theo truyền thống Nam tông như Thái Lan, Campuchia, Lào biến xuất gia đoản kỳ trở thành cơ hội báo hiếu và xây dựng nhân cách, để xã hội dễ dàng chấp nhận và tôn trọng về sau.

Năm 2007, khi HT. Thích Trí Quảng chủ xướng khóa tu tại Chùa Phổ Quang, thì chúng tôi đã đề xuất với Hòa thượng đặt tên khóa tu là "Một ngày an lạc" chứ không phải là tu Bát Quan Trai giới. Một ngày an lạc thì ai cũng có thể học được. Là Phật tử hay chưa phải là Phật tử, người thọ giới hay chưa thọ giới đều có giá trị giống như nhau. Khóa tu an lạc thường là một ngày, buổi sáng nghe hai vị giảng sư thuyết giảng, một vị giảng sư lão thành, một vị giảng sư trẻ cùng khai thác một vấn đề từ góc độ và cấp độ khác nhau. Sau đó là thời kinh, ăn cơm trong chính niệm. Đầu giờ chiều có thời vấn đáp Phật pháp, đào sâu vào chuyên đề mà mình được nghe buổi sáng, dưới hình thức các câu hỏi, với sự tham gia của ba cho tới sáu giảng sư cho một buổi hội luận. Sau đó là một thời kinh. Một ngày tu như thế chú trọng vào việc dùng trí tuệ giải quyết các vấn đề nghi vấn và đào sâu vào việc thực tập.

Ngày nay, một số tỉnh thành đã bắt đầu nhân rộng mô hình khóa tu "Một ngày an lạc" và không đặt nặng về việc thọ giới. Giới chính trị, giới thương gia rất ngại tiếp nhận năm điều đạo đức của Phật, vì trong đó có hai điều, người tại gia khó giữ: đối với người nam là giới không ngoại tình và giới không uống rượu, đối với người nữ là giới không ngoại tình và giới không nói dối. Chúng ta nên giới thiệu một đạo Phật minh triết. Đừng quá đặt nặng về đạo Phật giới đức vì người ta sẽ ngại, không dám đến đạo Phật. Chỉ trong những thời điểm thích hợp, chẳng hạn như khóa an cư, ta có thể mở Bát Quan Trai, một ngày, hai ngày, ba ngày, hay một tuần để tìm những người có hạt giống tu trở thành người tu. Không nên sử dụng sai đối tượng và không nên lạm dụng khóa tu Bát Quan Trai giới cho những người không có ý định xuất gia.

Bây giờ, xin nói về pháp hành của người xuất gia. Vào thời Đức Phật, Bát Chính Đạo là trọng tâm nhất. Chính Kiến và Chính Tư Duy giúp ta có tầm nhìn đúng để đi đến pháp môn đúng, nhờ đó ta dễ dàng đạt được Chính Niệm, Chính Định trong quá trình tu tập thiền. Chính Ngữ, Chính Nghiệp, Chính Mệnh, Chính Tinh Tấn là những yếu tố đạo đức, giúp cho chính niệm đạt được như ý. Thực tập chuyển hóa trong các Kinh, thực ra là thực tập Tứ Niệm Xứ. Cốt lõi của Tứ Niệm Xứ là xoay quanh việc làm chủ thân và tâm. Quán thân để ta biết thân là vô thường, bất tịnh nên ta không tôn vinh thân như thượng đế, theo kiểu chủ nghĩa vật dụng và hưởng thụ của phương Tây. Ta cũng không xem thân là nguồn gốc tội lỗi như chủ nghĩa khổ hạnh cực đoan của Ấn Độ giáo và Khổng giáo của Trung Quốc.

Khổ đau bám vào thân và tâm. Quán vô ngã trên thân thì các đau nhứt trên thân được loại trừ. Cảm xúc dễ làm chúng ta bị chìm đắm nhất, cho nên phải thực tập làm chủ cảm xúc. Cần thấy rõ được tính nhị nguyên của tâm như tâm thiện, tâm ác, tâm chân, tâm vọng, tâm tốt, tâm xấu, tâm phàm, tâm thánh… để loại trừ các hạt giống tiêu cực, thay thế chúng bằng các hạt giống tích cực trong kho tàng tâm. Tu thật ra là chuyển hóa như vừa nêu. Dựa vào tiêu chí này thì công thức tu của ngài Thần Tú là “chuẩn” so với đức Phật hơn là công thức của ngài Huệ Năng. Pháp tu của ngài Huệ Năng đại diện cho quan điểm của Trung Quốc. Pháp tu của ngài Thần Tú đại diện cho quan điểm của đức Phật gốc.

Các ý niệm trong tâm thường liên hệ đến quá khứ và tương lai. Đức Phật dạy chúng ta cắt đứt ký ức quá khứ, cắt đứt vọng tưởng tương lai để có Chính Niệm, bây giờ và tại đây. Cốt lõi của phương pháp thiền Minh Sát Tuệ là giúp các hành giả đạt được sự làm chủ các giác quan trong các tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi; nói, nín; động, tĩnh; thức, ngủ… Cốt lõi tu chỉ đơn giản như vậy. Làm được chừng đó thôi, chúng ta đã đang đi trên con đường hướng tới Thánh và đạt được Thánh Quả. Cái tu của người xuất gia là thế. Người tại gia đừng nên ngộ nhận và bận tâm tới việc giải thoát như các pháp môn của Trung Quốc khởi xướng.

Trung Quốc đưa ra quá nhiều khẩu hiệu mang tính khích lệ nhiều hơn là mô tả chân lý. Chẳng hạn Thiền tông tuyên bố “ngồi thiền thành Phật”, Mật tông tuyên bố “trì chú thành Phật” và Tịnh độ tông tuyên bố “niệm Phật thành Phật”. Còn trong giáo hóa kẻ tội lỗi thì Trung Quốc có những câu nói cường điệu như: “buông dao đồ tể, lập tức thành Phật.”

Khoảng tám tỷ năm nữa trong tương lai Đức Phật Di Lặc mới ra đời. Trong chừng ấy tám tỷ năm, không có đức Phật thứ hai, ngoài đức Phật Thích Ca, trên cùng một hành tinh. Nói theo Phật giáo Trung Quốc thì bây giờ Trung Quốc đã có vài trăm, vài ngàn vị Phật do “kiến tánh”, tương tự, trong Tịnh độ tông nhiều vị thành Phật do niệm Phật, và trong Mật tông cũng có nhiều vị thành Phật, do trì thần chú. Thực tế trong một hiện kiếp chỉ có một đức Phật. Nói cách khác, nói phương tiện chỉ mang tính khích lệ, chứ không mô tả chân lý.

Theo kinh Trung Bộ, ngoài Bát Chính Đạo không có thánh nhân, ngoài Bát Chính Đạo không có chính đạo, ngoài Bát Chính Đạo không có giải thoát, ngoài Bát Chính đạo không có chứng đắc đích thực. Chúng ta không cần phải đi Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan, Tây Tạng, Trung Quốc để học đạo, vì cốt lõi của Phật pháp là Tứ Diệu Đế, gọn lại là Bát Chính Đạo; đi đâu cũng chỉ có chừng đó thôi. Có chăng là sự khác nhau trong cách diễn đạt ngôn ngữ của các vị tăng sĩ ở nơi này, nơi kia mà thôi.

Nhờ thực tập và sống theo Bát Chính Đạo mà người tại gia có thể trở thành Chân Nhân, vì họ tu tập không phải với mục đích Giải Thoát, và người xuất gia trở thành Thánh Nhân là vì muốn Giải Thoát nhờ Chính Niệm và Chính Định. Giải Thoát là điều người tại gia không làm được, vì còn tham ái (dục ái, hữu ái và vô hữu ái).

Chính định gồm có bốn cấp độ: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Cốt lõi của Sơ thiền là chuyển hóa tính dục (ly dục sinh hỷ lạc). Không có người tại gia nào đang sống với tình yêu và tính dục có thể đạt được Sơ thiền. Do đó, người tại gia không Giác Ngộ được, không Giải Thoát được. Ngoại trừ, những người tại gia độc thân, quyết tâm tu giống như các tu sĩ, đúng phương pháp Phật dạy thì có khả năng chứng đắc được Sơ thiền, để từ đó đạt được Tứ thiền, trên nền tảng này, chứng được Tam minh, trở thành A-la-hán.

Theo Kinh A-di-đà, năm tiêu chí vãng sinh Tây phương là có: (i) căn lành lớn, (ii) công đức lớn, (iii) nhân duyên tốt lớn, (iv) quán pháp âm lớn, (v) nhất tâm bất loạn. Căn lành lớn được hiểu là hết tham ái, sân hận, si mê, chấp thủ và điều này Phật tử tại gia làm không được. Nhưng người Trung Quốc cứ hô hào: giác ngộ, giải thoát, vãng sinh Tây phương trong khi còn nghiệp phàm. Tu tập giải thoát đâu dễ thế. Kinh A-di-đà nói rất rõ Cực lạc Tây phương là nơi “chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ”, tức là nơi hội tụ của các bậc thượng thiện. Bậc thượng thiện có nghĩa là từ sơ quả A-la-hán trở lên hoặc bất thoái chuyển về đạo đức và tuệ giác. Bất thoái chuyển là tam quả A-la-hán trở lên, ở đó, không có người phàm.

Tịnh độ tông trong kinh A-di-đà khác hoàn toàn với Tịnh độ tông được Trung Quốc truyền bá. Tịnh độ tông do Trung Quốc truyền bá dựa vào “tín, hạnh, nguyện” vốn không do đức Phật dạy trong các Kinh về Tịnh độ. Không thể tìm ra tín, hạnh, nguyện trong kinh A-di-đà. Nếu theo Tịnh độ tông thì hãy dựa vào kinh A-di-đà làm chuẩn. Khi đạt được năm tiêu chí của kinh A-di-đà nêu ra thì chúng tôi tin chắc rằng lúc đó không ai còn muốn sinh Tây phương Cực lạc làm gì nữa. Lúc đó, người đạt năm tiêu chí vãng sinh đã trở thành thánh, nên đối với họ, ở đâu cũng là cực lạc và niết-bàn. Cốt lõi triết lý của kinh A-di-đà nằm ở chỗ này, chứ không phải sinh Tây phương.

Điều đó cũng giống như Hoa Kỳ yêu cầu các ứng cứ viên muốn trở thành công dân của nước này phải có 500,000 Mỹ kim trong tài khoản không sử dụng đến và có công ty làm việc ổn định tại Hoa Kỳ. Nếu ở Việt Nam, người nào có được 500,000 Mỹ kim, chỉ cần gửi tiết kiệm ngân hàng mỗi tháng đã được khoảng 50 triệu đồng Việt Nam rồi, cần gì phải qua Mỹ để thành người mà trong 12 con giáp, tuổi nào cũng là “tuổi con trâu”!

Do đó, cốt lõi tu của người xuất gia, xét cho cùng, chỉ là Giới, Định và Tuệ. Các pháp môn của Trung Quốc không phản ảnh được đầy đủ ba phương diện này. Luật tông nhấn mạnh về giới luật. Niết-bàn tông, Hoa nghiêm tông, Pháp hoa tông, Tam luận tông, Câu-xá tông… nhấn mạnh về Tuệ. Thiền tông nhấn mạnh về Định. Từ kinh điển Pali, A-hàm cho đến Đại thừa, thiền công án và thoại đầu là do Trung Quốc sáng tạo ra, rất xa lạ với thiền của đạo Phật gốc. Từ lâu, chúng ta không mạnh dạn nói việc này vì cả nể Trung Quốc, và nhất là sợ động đến các vị tổ sư. Nếu xét về góc độ truyền thống thì thiền tông Trung Quốc là thiền không chính thống, bởi đức Phật không dạy loại thiền này trong Kinh điển.

Pháp hành của người tại gia thấp hơn rất nhiều so với pháp hành của người xuất gia. Pháp hành tại gia giúp con người trở thành chân nhân, sống hạnh phúc và biết chia sẻ phước báu. Pháp hành xuất gia là tu tập Giới-Định-Tuệ, giúp hành giả trở thành Thánh ngay trong đời sống hiện tại này. Hai con đường tại gia và xuất gia hoàn toàn khác nhau. Mười pháp môn của Trung Quốc không pháp môn nào phân biệt giữa pháp hành giữa tại gia và xuất gia. Người tại gia và xuất gia tu cùng một kiểu, đọc cùng một nghi thức, thực tập chung một con đường và cho rằng cả hai đều được giải thoát như nhau. Như vậy là không đúng.

Việc ứng dụng sai lời Phật dạy và không phân biệt các thực phẩm tâm linh dành cho hai đối tượng tại gia và xuất gia đã làm cho Phật giáo Trung Quốc, thông qua đạo Phật pháp môn, dẫn đến việc người ta phải “nhón chân” và “với tay” mãi mà không đạt được kết quả tu chứng. Đây chính là sự “cầu bất đắc khổ” mà đức Phật nói trong kinh Chuyển Pháp luân. Người tại gia không thể giải thoát được mà yêu cầu họ, khích lệ họ cần Giác Ngộ, cần Giải Thoát. Cho nên nhiều tu sĩ, Phật tử tu theo phong cách này một thời gian thì tự nhiên muốn rũ bỏ mọi trách nhiệm gia đình và xã hội, họ tưởng mình đã được tiến bộ. Thực ra đó là sự thiếu tinh tấn, là mất kiên trì, trái với đức Phật dạy.

Phật tử tại gia tiêu biểu thời đức Phật có mười cư sĩ nam, trong đó điển hình nhất là Cấp Cô Độc và mười cư sĩ nữ, trong đó điển hình nhất là Visakha. Hai ông bà này là các đại gia, vẫn tiếp tục làm giàu cho đến cuối đời và đồng thời họ dấn thân làm Phật sự và thiện sự. Nhờ tu đúng lời Phật dạy, họ phụng sự xã hội năng động hơn, chứ không phải tu rụt, tu rị theo kiểu ngày mai sẽ chết. Nhiều người tu cực đoan chỉ cần biết gõ mõ, tụng kinh là hết, nhấn mạnh đến các khóa lễ tín ngưỡng. Hướng làm đạo theo phong cách của Đức Phật bị mất dần trong đạo Phật tổ sư. Đó là sự khác biệt giữa pháp hành của người tại gia và xuất gia.

Labels: VẤN - ĐÁP
TIÊU ĐIỂM
Sưu tầm: Giới Nghiêm

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2015

Cái Như Tưởng và Cái Như Thực



Thường, triết học hay công kênh đề cao quá đáng giá trị của tư duy trừu tượng và những luận giải thuần lý mà quên mất thế giới thực tế của kinh nghiệm cần tiếp xúc luôn luôn, còn Phật, như tôi từng nhắc lại, dứt khoát không nhận hi sinh kỉ luật tu chứng thực tiễn cho những lý thuyết không tưởng. Giác Ngộ là kết quả của công phu tu chứng ấy, vì không phương tiện nào khác đả phá được Vô Minh. Nếu cho rằng Phật có một hệ thống tư tưởng nào đó chỉ đạo toàn thể đường lối giáo hóa của Ngài, hệ thống ấy có thể gọi là triệt để duy nghiệm luận. Ðó là tôi muốn nói rằng cuộc sống và thế gian thế nào thì Phật thấy y thế ấy, không dụng tâm diễn dịch chúng theo ý riêng.

Các lý thuyết gia có thể cho đó là vô lý, viện lẽ rằng ta không thể không ghép liền cái chủ quan của ta vào mỗi hành vi nhận thức, và cái ta gọi là thế giới khách quan chẳng qua chỉ là một sự tái tạo hư giả của tâm tưởng cố hữu của ta. Quả đúng vậy trên mặt nhận thức luận, nhưng về đạo giáo thì tự do tuyệt đối chỉ đạt được khi mọi tư tưởng chấp ngã hết xen vào cuộc sống, và thế gian được nhận thức đúng như thực cũng như tấm gương thấy sao chiếu vậy, “hoa qua chiếu hoa, nguyệt qua chiếu nguyệt”. Nên khi tôi nói Phật giáo là một triệt để duy nghiệm luận là nói về tâm, đừng hiểu theo nghĩa nhận thức luận. Và đó đúng là nghĩa của thành ngữ “yatha-bhutam” hoặc “yathatatham” thấy biết như thực rất thông dụng trong kinh điển Phật Giáo, và đó là một phiên khúc căn bản của tư tưởng Phật giáo.

Trong kinh Sa Môn Quả thuộc Trường Bộ Kinh, Phật cho biết, càng lên càng cao, thế nào là quả vị cùng tột của đời sống đạo, và con đường đi lên ấy rút lại như sau trong ý nghĩa “yathabhutam” về thế gian.

Với cái tâm an định, trong sạch, linh mẫn, điều chế, xả hết nghiệp ác, nhu thuận, tùy ứng, kiên cố, không nao núng, thầy tì khưu phát tâm diệt trừ phiền não. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là cái khổ”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là nguyên nhân cái khổ”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là con đường diệt trừ cái khổ”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là phiền não”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là nguyên nhân của phiền não”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là sự diệt trừ phiền não”. Thầy biết đúng như thực: “Ðây là con đường diệt trừ phiền não”. Biết như vậy, thấy như vậy, tâm thầy được giải thoát các phiền não lậu hoặc của dục ái (kama) của hữu ái (bhava) của vô minh (avijja) và được trí huệ giải thoát. Thầy tì khưu biết: “Nghiệp tái sanh đã xả trừ, phạm hạnh đã vẽ tròn, việc gì phải làm nay đã làm xong, sau kiếp này không còn thọ thân nào khác”.

Ta hiểu thế nào? Khác nào như trường hợp Mười Hai Nhân Duyên, chắc chắn Bốn Thánh Ðế không trao hết huyền nghĩa nếu ta đi đến với nó bằng trí thức, vì thật ra đó chẳng qua chỉ là giáo điều nhân quả trùng tuyên lại; và dầu khác hình thức, một nguyên lý như nhau được chứng thực cả trong thuyết Duyên Khởi và trong Thánh Ðế. Thánh Ðế chỉ con đường thực tập thoát ly nghiệp chướng trong khi thuyết Duyên Khởi vạch ra những mưu lược hoành hành của nghiệp chướng. Trên mặt khái niệm, cả hai công thức vẫn không gì hơn là công thức, nghĩa là không đủ hiệu năng và động lực dấy lên một cuộc cách mạng nội tâm. Phật tuyên Bốn Thánh Ðế là cốt để được thực hành nhằm chứng đến một lý tưởng. Kỷ luật tu chứng trình bày tỉ mỉ trong phần trước của bộ kinh Sa Môn Quả chỉ chuẩn bị cơ duyên cho biến cố cuối cùng ấy. Hễ tâm không được bình thản, thanh tịnh và kiên quyết, chắc chắn không bao giờ ta nắm được chân lý đúng như thực. Một trí óc mẫn nhuệ, tinh thâm có thể biết giỏi luận hay về chân lý, nhưng muốn hiện thực chân lý trong đời thì điều tâm là việc thiết yếu.

Ðoạn kinh dẫn trên chỉ có thể lãnh hội được bằng ánh sáng của sinh hoạt nội tâm. Ðành rằng giáo lý nhà Phật vẫn có thể hợp lý luận thật đấy, nhưng nếu ta chỉ thấy có thế thôi ắt làm biến chất nó một cách tai hại. Trong Phật giáo, phần hợp lý chỉ là một khía cạnh, và là một khía cạnh không mấy trọng yếu. Hơn nữa, ta còn có thể coi phần lý giải ấy như một cơ sự ngẫu nhiên, nên dùng lý mà vào đạo Phật ắt hoàn toàn không hiểu gì hết chân tinh thần của Phật giáo. “Thầy tì khưu thấy biết đúng như thực”, - ti yathabhutam pajanati - chính đó là chỗ ta phải chứng vào; vì yathabhutamnana dassana - cái thấy và biết như thực là cái thấy biết chiếu phá phiền não lậu hoặc (asavanam khaya nana) mở đường cho tâm giải thoát (cetovimutti). Thiếu cái trí ấy, hoặc cái tri kiến ấy, thì không thể có thoát ly hoặc tự do nào hết ở người Phật tử, mà cũng không bao giờ bảo đảm, được rốt ráo giải thoát những ràng buộc của kiếp sống cũng như sự chứng đến một cuộc sống cao hơn, tức là Phạm hạnh (brahmacarya). Nói “biết như thực, thấy như thực” không có nghĩa là biết thấy bằng trí thức những sự kiện hoặc chân lý nằm ngoài giới hạn kinh nghiệm của ta, mà chính là biết thấy những cơ sự hiển nhiên diễn ra trong chính ta. Không thể có sự hiểu bằng trí khi không có sự chứng bằng tâm yểm trợ hiệu lực cho trí. Với những người chưa bao giờ luyện qua phép thiền Ấn Độ, cảnh giới tối cao do tâm chứng đến trong khi tịnh quán thế gian như thực hẳn là một câu chuyện rất khó tán đồng. Tuy nhiên chỉ trong ánh sáng ấy mới thấu đạt được lời Phật giảng về quả vị tu chứng của hạnh Sa Môn.

Có ba hoặc bốn thứ cảm nhiễm (asava), hoặc gọi là lậu như các dịch giả Trung Hoa, ấy là dục lậu (kama) hữu lậu (bhava) vô minh lậu (avijja) và kiến chấp (ditthi). Cái thấy chiếu phá tất cả lậu hoặc ấy là cái thấy gì? và sau khi diệt trừ hết thì còn gì lại ở ta? Câu trả lời có thể phỏng đoán ngay là chỉ còn lại cái tuyệt diệt hư vô, vì chắc rằng ngoài cái “ngoan không” ra một cuộc tuyệt diệt như vậy không thể đưa đến cái gì khác. Nhất là với bài kệ sau đây (trong bộ Sutta Nipata, 949 và 1099) ta càng có thêm lý do coi lời dạy của Phật như một thứ giáo lý hoàn toàn tiêu cực:

Cái ở trước mặt, người gạc qua bên
Đừng giữ gì ở sau lưng hết
Mà cũng chớ níu chặt cái ở giữa
Hãy tinh tiến trong cô tịch (25)

Tuy nhiên, về tâm đạo, sự thực là có loại trừ hết phiền não lậu hoặc, có buông bỏ hết hình thức chấp trước, thì nội thể mới được gạn lọc, và mới tự biết được “như thực” nghĩa là không thấy có một cái ngã tự xác định như đối lập với cái phi ngã, nhưng thấy cái đồng nhất siêu việt lên tất cả đối thể, mà tự thân vẫn dung thông tất cả đối thể (26). Cái bị hủy diệt là cái thế mâu thuẫn của sự vật, chớ không phải tự thể của sự vật. Và giải thoát có nghĩa là trở về chỗ ban sơ. Như vậy cái thấy của đạo nhãn là thấy cái một trong cái nhiều, là thấu rõ rằng hai tư tưởng nghịch đảo nhau không có nghĩa là tương sanh tương thuộc nhau, mà chính cả hai đều bình đẳng như nhau ứng hóa từ một nguyên lý duy nhất; và chính đó là xứ sở của tự do tuyệt đối.(27) Tâm có điêu luyện đến mức đó mới thấy cả khẳng định (atta) và phủ định (niratta) đều không áp dụng được cho thực tại, vì cái thực là cái thấy biết sự vật đúng “như thực”, hoặc nói đúng hơn, đúng như cái thế duyên khởi của chúng. Một tinh thần hoàn toàn thành khẩn và tinh khiết là điều kiện tiên quyết để thấy biết thực tại trong bản thể “như thế là như thế”. Và kết quả chứng đến là ti yathabhutam pajanati, cái mà các nhà Đại Thừa giáo diễn lại sau này trong giáo lý “chân như” bhuta tathata. Tinh luyện qua bốn phép thiền dạy trong bộ Nikayas, tâm chuyển thành tấm gương của trí năng (adarsa jnanam) theo các nhà Đại Thừa giáo, và tương đương với chân trí (bhuta nana) của Tăng Nhất Bộ Kinh. Lời thí dụ cuối cùng sau đây Phật giảng về hành quả xuất gia tóm lược sự tâm chứng của người Phật tử nhân đó trở thành sáng tỏ như ban ngày. 

Phật thí dụ:
Cũng như vậy đó, thưa Đại Vương, ví như trong một thành lũy trên núi có một ao nước trong sạch, và lắng đứng, người đứng trên bờ nhìn xuống nước thấy sò và ốc, cát đá sỏi, và bầy cá tung tăng bơi lội nằm im; người ấy tự nhiên biết: Ao nầy nước trong, sạch, và lắng đứng, và trong ao có sò và ốc, cát và sỏi, và bầy cá tung tăng bơi lội hoặc nằm im. (Kinh Sa Môn Quả)

Ở đây, tánh cách triệt để duy nghiệm của giáo lý như thực - yathabhutam được Phật mô tả bằng hình ảnh khiến ta liên tưởng đến hình ảnh của Phật trong bộ Itivuttaka (Tạp bộ Kinh V. 109) dưới hình thức một khán giả đứng trên bờ cakkhuma puriso tire thilo. Dùng trí óc hiểu thí dụ ấy là hoàn toàn phi lý. Người viết mô tả tâm trạng của họ từ một bình diện tư tưởng cao hơn thói thường chứng đến sau bao năm tinh luyện. Tam bồ đề (sambodhi) hoặc Giác Ngộ là thuật ngữ Phật giáo dành cho sự chứng ấy. Diệt trừ bốn phiền não lậu hoặc là giai đoạn tiêu cực của chứng nghiệm, và đó tức là cái thấy bên trong mà tâm thanh tịnh và linh minh của Phật y hướng đến. Nếu chỉ xét riêng về hành động đả phá, thì Giác Ngộ quả có chối bỏ và hủy bỏ tất cả, nhưng một khi cái thấy ấy khai hiển cái như thực của chân lý thì Giác Ngộ là khẳng định một cách quyết liệt nhất. Nên đó mới gọi là “thắng địa không sở đắc không sở chí, tức là Niết Bàn, tức là sự hủy diệt cái già và cái chết” (28).Ta nên ghi nhận cái bị hủy diệt ở đây là cái già và cái chết, chớ không phải cái sống; vì chính xuyên qua Giác Ngộ cái sống ấy, lần đầu tiên, khắc phục lại tinh tần tự do và tinh lực sáng tạo nguyên thỉ.

Song le, lời Phật ví với tấm gương (adarsa) có thể gợi lên thái độ của Phật đối với thế gian là hoàn toàn thụ động, thiếu hứng khởi. Tuy nhiên, lời công kích ấy tỏ rõ người ta không biết gì hết về cuộc sống của đức Phật đã quên mình hiến trọn suốt bốn mươi chín năm yên tịnh cho công cuộc khởi động niềm an vui tinh thần chung cho đồng bào; chẳng những thế, lời công kích còn quên mất công trình hoằng pháp phi thường của các môn đồ của Phật, cũng như những hoạt động tinh thần họ đã nỗ lực khai triễn trường phái Phật giáo Đại Thừa. Hơn nữa, cả khi xét riêng Phật giáo tách ngoài tất cả sự kiện lịch sử tạo nên nó, lời tố cáo tiêu cực gán choweltanschauung Phật giáo vẫn sai lầm. Cái tiêu cực ta ghi nhận trong Giác Ngộ chỉ là cái mường tượng bề ngoài. Phàm lệ, một vật tuyệt đối tiêu cực là cái không thể quan niệm được, trù phi đó là một trạng thái không có gì hết, không chứa gì hết ở bên trong. Hễ Giác Ngộ còn là chỗ chứng đến của tất cả nỗ lực tinh thần cao độ nhất thì đó là một trạng thái tích cực nhất của tâm linh trong đó chứa cả một kho tàng tiềm năng vô tận. Đó là cái một bao hàm vô lượng vô biên cái nhiều. “Suối con chảy mạnh, biển cả lắng im”.(29)Trong biển Đại Giác là sự im lặng của cái một ấy. Các pháp sư Hoa Nghiêm còn ví đó như một thế chuyển dậy trùng trùng của một biển cả vắng lặng và trong suốt phản chiếu tất cả thiên thể sáng ngời, mà đồng thời vẫn không một đợt sóng gào thét và phá phách nào là không y nhiên nằm im trong lòng biển cả.

Trong kinh Mahalê (Mahali Sutta) Phật hỏi như vầy:

Khi Thầy tì khưu biết như vậy, thấy như vậy, thầy có thể nào còn đặt câu hỏi: “Hồn có phải là một với xác, hay hồn là hồn, xác là xác, khác biệt nhau?”. Đó, thật quá rõ ràng lời Phật dạy luôn luôn thực tiễn qui hướng vào sự thành tựu lý Giác Ngộ, được coi là cái thấy biết cụ thể đả phá tất cả phiền não lậu hoặc và xả trừ tất cả hình thức chấp thủ (upadana).(30) Ngài tránh những cuộc tranh biện siêu hình, vì nó không đưa đến cứu cánh tối hậu của đời sống đạo, tức là thanh lọc tâm tưởng chớ không phải phô diễn những tuyệt kỷ tinh luyện về thuật nhận thức. Vô Minh cần được bạt trừ bằng tâm, trong nội chứng, chớ không phải bằng trí trong sự hiểu biết nguyên tắc nhân quả giảng dạy trong giáo lý Duyên Khởi hoặc Thánh Đế.

Ngoài ra, Giác Ngộ là cốt ở cái thấy sự vật yathabhutam hoặc yathatatham đúng như thực không vướng ngờ vực, không kẹt kiến thức hoặc kiến chấp, điều ấy ta còn nhận thấy ở bài kệ chót trong bộ Itivuttaka ca tụng đức tướng của Phật. Tôi xin trích dẫn ba đoạn đầu:

Kiến chiếu vào toàn thể thế gian
Và toàn thể thế gian hiện ra như thực
Người thoát ly toàn thể thế gian
Và không gì sánh được. Người trong toàn thể thế gian
Vượt lên tất cả trong muôn vật, kiên cố,
Cởi mở tất cả buộc ràng
Nơi an nghỉ cao nhất thuộc về Người
Chứng vào Niết Bàn, tự tại không sợ hãi
Bậc Đại Giác ấy, phiền não xả trừ
Không gì lay chuyển, không chút bợn ngờ
Thoát ly ngoài vòng nghiệp chướng
Và giải thoát tận căn Vô Minh diệt.

DHYANA VÀ CHIẾC BÈ PHÁP

Cái thấy sự vật đúng như thực đại khái có thể nói là một khía cạnh trí thức hoặc tâm linh của Giác Ngộ, song chớ hiểu theo tinh thần tự biện. Còn một khía cạnh khác giờ đây ta thử xét qua: tôi muốn nói mối liên hệ giữa Giác và định (samadhi) hoặc thiền (dhyana). Cái sau, như tôi đã trình bày trước, là trạng thái dự bị cho sự tựu ngộ, tuy nhiên, tựu ngộ phải đâu chỉ đơn giản là kiến chiếu vào thực tại. Thật vậy, nếu Giác Ngộ chỉ vỏn vẹn là cái thấy ấy, hoặc cái chiếu diệu ấy, ắt không soi sáng được nội tâm đến độ khử diệt được tất cả dục vọng và chứng đến tự do tự tại. Vì trực giác không sao đi sâu được vào đầu mạch sống, không trấn an được ngờ vực, không đoạn tuyệt được tất cả triền phược chấp trước, trừ phi ý thức được chuẩn bị chu đáo để nhận lấy cái Tất cả trong hình tướng toàn diện cũng như trong thể tánh “như thị”. Giác quan và ý thức thường tục của ta qua dễ bị khuấy động và lệch xa con đường hiện thực chân lý. Nên kỷ luật tu tập trở thành cần thiết.

Ta nên nhớ đức Phật đã nhận lấy kỷ luật ấy dưới sự hướng dẫn của hai đạo sư thuộc phái số luận, và cả sau ngày thành đạo Ngài vẫn đặt sự tham thiền ấy làm phép thực tập cho môn đồ. Chính Ngài, khi thuận tiện, cũng thường lánh mình vào nơi cô tịch. Chắc rằng đó không phải Ngài buông thả trong thú trầm tư hoặc sa đà theo ngoại cảnh phản chiếu trong gương tâm của Ngài. Đó chính là một phép luyện tâm, cả đến đối với Ngài, và cả đến sau khi Ngài đã thành đạo. Ở phương diện này, Phật chỉ giản dị làm theo phép tu luyện của các bậc hiền triết và đạo sư Ấn Độ khác. Có khác là Ngài không có đó là đủ. Ngài còn thấy ở kỷ luật tu tập một ý nghĩa thâm diệu hơn, là cốt đánh thức dậy một ý thức tâm linh siêu tuyệt nhất để hiểu Pháp. Chắc chắn thiếu sự thức tỉnh rốt ráo ấy thì hành thiền, dầu tinh tiến đến đâu, vẫn thiếu hiệu lực viên thành cuộc sống đạo. Nên kinh Pháp Cú nói:

Vô Thiền bất trí
Vô Trí bất thiền
Đạo tòng thiền trí
Đắc chí nê hoàn
(đoạn 372)

Không thiền chẳng có trí
Không trí chẳng có thiền
Đạo do thiền và trí
Chứng đến cảnh Niết Bàn.
Sự hỗ tương liên hệ giữa thiền và trí là điểm đặc trưng của Phật giáo khác với các giáo phái Ấn Độ đương thời. Thiền phải đưa đến trí, phải mở cái thấy biết như thực, vì không có Phật giáo trong sự trầm tư mặc tưởng suông. Và đó là lý do Phật bất mãn giáo lý của các vị đạo sư ban đầu của Ngài, cái học ấy, theo lời Phật nói, “không đưa đến thắng trí, giác ngộ và Niết Bàn”.(31)Trụ êm trong hư vô kể cũng thích, nhưng thế là vùi say trong giấc ngủ, mà Phật thì không khứng hoang phí cuộc đời trên thế gian này cho mộng tưởng. Ngài phải quán chiếu vào cuộc sống, và vào chân tướng của vạn vật. Theo Ngài, Prajna - trí bát nhã - là phần chủ yếu của đạo lý, trí ấy phải phát ra từ dhyana thiền; thiền không kết thành trí quyết chẳng phải là của Phật pháp. Đằng rằng Bát nhã phải là “chiếc thuyền không”, nhưng ngồi im trong “không thất” (sunnagaram) không làm gì hết, là bị "không chướng", là mai một; một con mắt phải mở ra, và kiến chiếu vào thực tại, cái thực tại có tên là paramam ariyasaccam (32) giải trừ tất cả triền phược và chướng ngại cho cuộc sống (Trung Bộ Kinh, 140). Nên kinh Pháp Cú ca tụng thầy tì khưu “đi vào nhà trống, tâm ý thanh tịnh, hưởng một niềm vui khác thường hơn khi thầy một lòng tinh tiến quán xét chân lý”:

Đương học nhập không
Tịnh cư chỉ ý
Lạc độc bình xứ
Nhất tâm quán pháp (bài kệ 373)

Vậy, vì lẽ mục đích của Thiền là tạo cơ duyên để tâm chứng vào cái parama sacca có công lực phá trừ và giải thoát, và vì lẽ chân lý thù thắng ấy chỉ có thể chứng được nhân khởi lên cái parama prajna, tức cái trí huệ thù thắng chấm dứt tất cả khổ đau - sabba dukkha - nên Phật không hề quên in sâu vào tâm thức môn đồ ghi nhớ yếu tố trí huệ bát nhã, chẳng hạn như kỷ luật chung sau đây Phật vạch ra dưới danh từ tam học: giới (luân lý) định (quán tưởng) và huệ (trực giác). Dầu phép tham thiền có thể đem đến những hoan lạc siêu thể chất nào, Phật coi những niềm vui ấy không thể sánh vào đâu được với cái vui rốt ráo chứng đạo: nên cần xả bỏ chúng, tất cả, kẻo vướng mắc và bị chướng ngại trên đường cầu huệ giác. Chỉ bằng huệ giác ấy mới chứng tâm giải thoát, hoặc phản bổn hoàn nguyên. Giải thoát, Phật muốn nói là thoát ly tất cả hình thức chấp trước, cả về thể chất (sắc: rupam) và tinh thần (thức: vinnanam). Nên trong Trung Bộ Kinh, 138, Phật nói: “Đừng để tâm ngươi dao động bởi vật bên ngoài, mà cũng đừng sa đà giữa những tưởng niệm bên trong. Hãy lìa tất cả chấp trước, tất cả sợ sệt. Đó là con đường vượt qua cái khổ sống chết.”

Hễ còn chấp trước, dầu một mảy may, dầu ở đâu, trong hoặc ngoài, thì cái tôi còn nguyên gốc, và chắc chắn còn tạo nghiệp lực mới, và lôi cuốn chúng ta vào vòng sanh tử luân hồi không biết đâu là cùng. Chấp là một hình thức ám ảnh hoặc ảo ảnh hoặc tưởng tượng. Bộ Nikayas ghi lại chín thứ trong số những ảo ảnh về ngã chấp, toàn do vọng tưởng tạo ra, và tự nhiên đưa đến chấp trước bằng mọi cách. Đó là những tưởng niệm nầy: “tôi có, tôi là cái ấy, tôi sẽ hiện hữu, tôi sẽ không hiện hữu, tôi sẽ hữu sắc, tôi sẽ vô sắc, tôi sẽ hữu tưởng, tôi sẽ vô tưởng, tôi sẽ không hữu tưởng không vô tưởng.” Ta phải vứt bỏ tất cả vọng tưởng ấy, những khái niệm ngã chấp ngã mạn ấy, để chứng đến cứu cánh tối hậu của đời sống đạo. Hễ xả trừ được thì ta hết chuốt sầu đeo hận, hết bạc đãi người và vướng phải lo sợ, tức được an tâm, chứng Niết Bàn, và chứng vào thực tế và thực tại của muôn vật. Một khi “huệ” phát lên thì “giới”cũng bỏ luôn, “định” cũng rời mất, chỉ còn lại một trạng thái tỉnh táo của tâm thức trong ấy chỉ có tùy cảm mà ứng dụng.

Không gì hiểu mình cụ thể hơn giáo lý xả chấp của Phật bằng thí dụ thông thường về “chiếc bè”, có lẽ hơi khó hiểu đối với đôi học giả quen sống trong không khí trí thức đối nghịch khác. Cũng như một chiếc bè, tất cả “pháp” còn phải xả, huống nữa là “phi pháp” (33),đó là phiên khúc căn bản chạy dài suốt bộ sử diễn tiến của giáo lý Phật giáo. Triết giáo Bát Nhã, mà đôi người coi như hoàn toàn thiếu chân truyền đối với tinh thần Phật giáo nguyên thỉ, cũng không nhượng trường phái nào trong công cuộc xả chấp, như trong kinh Kim Cương chẳng hạn. Thật vậy, cái “không” của các bộ kinh Bát Nhã chẳng gì khác hơn là bài triết luận về giáo lý xả chấp.(34)Kinh Kim Cương nói như vầy: “Như lai thường dạy rằng các thầy tì khưu nên biết pháp ta nói ra ví như chiếc bè đưa qua sông: pháp còn nên bỏ huống nữa chẳng phải là pháp.”

Thí dụ ấy, Trung Bộ Kinh giảng rộng như sau: “Này các thầy tì khưu, lời ta dạy ví như chiếc bè, để đưa qua, không phải để mang giữ. Hãy nghe nhớ kỹ lời ta đây. Ví như có người suốt ngày đi đường nhọc mệt gặp phải một con sông rộng nước sâu; bờ sông bên này đây lo sợ và hiểm nghèo, còn bờ bên kia thì yên ổn, không sợ sệt, nhưng không có ghe thuyền đưa qua sông, mà cũng không có cầu bắt nối hai bờ. Ví như người ấy nghĩ bụng như vậy: Quả thật sông thì rộng nước thì sâu, bờ bên này đây lo sợ và hiểm nghèo, còn bờ bên kia thì yên ổn không sợ sệt; nhưng không có thuyền mà cũng không có cầu đưa ta qua bờ bên kia. Sao ta không thử lượm lặt những lau sậy, những que cành chà lá kết lại làm bè coi sao? Rồi ngồi trên bè, ta dùng tay dùng chân làm chèo, chèo êm qua bờ bên kia. 

Theo đó, nầy các tì khưu, ví như người ấy lượm lặt những lau sậy, những que cành chà lá, kết lại làm bè, rồi dùng tay dùng chân làm chèo, chèo êm qua bờ bên kia. Bấy giờ, sông qua rồi, bờ đến rồi, ví như người ấy nói vầy: Quả thật chiếc bè ấy đã giúp tôi nên việc lớn. Nhờ nó chở tôi, và tôi dùng làm tay dùng chân làm chèo, tôi mới qua êm được đến bờ bên kia; bây giờ phỏng như tôi đội chiếc bè trên đầu hoặc mang nó trên vai, và cứ thế mà lên đường đi đâu tùy thích? Các thầy tì khưu nghĩ sao? Người ấy dùng bè như vậy có khôn ngoan không?

Bạch Ngài, nhất định là không.

Vậy, nếu là người khôn ngoan, người ấy phải xử trí làm sao với chiếc bè? Nầy các tì khưu, người ấy nên nghĩ như vầy: Quả thật chiếc bè ấy đã giúp tôi nên việc. Nhờ ngồi trên bè, và chèo bằng tay chân, tôi qua êm được bờ bên kia. Giờ đây, nếu tôi bỏ lại chiếc bè ấy bên bờ, hoặc vứt mặc nó chìm xuống nước, và tôi lại tiếp tục lên đường? Các thầy tì khưu, nếu làm như vậy, người ấy đáng là người khôn ngoan khéo xử trí với chiếc bè.

Cũng như vậy đó, các thầy tì khưu, giáo pháp tôi dạy các thầy ví như chiếc bè, cốt để đưa qua không phải để mang giữ. Thấu rõ ví dụ ấy, thì đối với pháp, các thầy còn phải xả thay huống nữa là cái phi pháp.(35)

Vậy, lời dạy của Phật có thể tóm lại như sau: Thấy muôn vật đúng như thực cũng tức là chứng đến sự tự do tuyệt đối: hoặc nói khác hơn, khi ta xả trừ tất cả dục vọng tai hại xây dựng lên từ vọng tưởng chấp ngã, và tâm chứng giải thoát, đó là lần đầu tiên ta thức tỉnh trên thực tại đúng như “tự nó là như thế”. Cả hai sự kiện, thấy biết và tự do, vốn mật thiết liên hệ nhau, có cái này không có cái kia là việc không thể nghĩ, không thể có được; trên thực tế, đó là hai phương diện của một thực nghiệm đồng nhất, và chỉ bị tách đôi trong phạm vi kiến thức hữu hạn của ta. Trí không thiền chẳng phải trí, thiền không trí chẳng phải thiền. Giác Ngộ là danh từ chỉ sự đồng nhất thực nghiệm của trí huệ và thiền định của cái thấy biết như thực, của sự xả bỏ chiếc bè pháp, dưới bất cứ tên gọi nào. 

Chính đó là ánh sáng cần phải có để thấu rõ đọan kinh sau đây:
Bởi vậy, các thầy tì khưu ơi, dầu là sắc chất nào (rupam: vật chất hoặc thể xác) dầu ở quá khứ, vị lai hay hiện tại, dầu ở trong hay ở ngoài, dầu thô hay tinh, dầu tiện hay quí, xa hay gần, sắc nào cũng phải quán thấy đúng như thực trong ánh sáng của chính trí, nghĩa là quán thấy như vầy:

“Cái này không phải là của tôi,
Tôi không phải là cái nầy,
Cái này không phải là tự ngã của tôi.”

Bốn uẩn (khanda) còn lại là thọ (vedana: cảm giác) tưởng (sanna: khái niệm) hành (sankhara: căn bản tạo tác) và thức (vinnanam: ý thức) cũng như vậy đó. Người nào quán thấy thế gian như vậy thì lìa thế gian, và như thế là thoát ly tất cả dục vọng tai hại, chứng đến tự do. Đó là người chướng ngại gạt bỏ xong, hào lũy lấp cạn hết, là người đã bạt trừ, đã tự do, đã hoàn tất cuộc chiến, đã trút bỏ gánh nặng, đã giải thoát.(36)

Nói tóm lại, người ấy có tất cả đức tính của bậc Đại Giác, đức tánh thành tựu trong sự phối hợp nhịp nhàng giữa ý chí và trí thức.

TRỞ VỀ NHÀ CŨ

Vô Minh là bỏ nhà ra đi, và Giác Ngộ là trở về. Suốt thời gian phiêu bạt, ta nếm đủ mùi khổ đau cay đắng, nên cõi trần ta sống đây chắc không có gì đáng thèm khát quá vậy. Tuy nhiên, Giác Ngộ đến là chấm dứt tất cả, tưởng như một lần nữa ta trở về ngồi yên trong nhà ta, ở đó bổn lai là tự do và yên tịnh. Ý chí tự phủ nhận nó trong dụng công quán chiếu vào nội thể nó, thành thử có mâu thuẫn. Tâm thức không vượt nổi ngoài giới hạn do bổn thể nó đặt ra. Ý chí cố chiến đấu và đâm chán việc nó làm. “Tại sao?” Tâm thức ướm hỏi, nhưng đó là câu hỏi không một tâm thức thế gian nào mong đáp được, vì đó là điều bí mật gắn liền vào bổn thể của ý chí. Tại sao cha chúng ta ở trên trời phải sai đứa con duy nhất xuống chuộc tội cho loài người do chính bàn tay Ngài sáng tạo ra, nhưng càng ngày càng lạc mất quê hương? Tại sao Christ phải ngã lòng đến vậy cho số kiếp những đứa con hoang của Chúa? Đó là một bí mật ngàn đời, không một sự hiểu biết tương đối nào giải đáp được những câu hỏi ấy. Nhưng vì lẽ những câu hỏi như vậy luôn luôn được nêu lên, luôn luôn quấy động tâm hồn yên vui của ta, điều ấy đủ chứng tỏ đó không phải là những vấn đề không tưởng dành cho các triết gia chuyên nghiệp giải quyết, mà đích thực chúng đập thẳng vào mỗi người chúng ta, vào tận đáy hồn ta, khiến ta phải chiến đấu và nổ lực chế ngự chúng bằng một năng khiếu nội tại thâm diệu hơn, thâm diệu gấp bội hơn thứ trí thức suy luận thường.

Câu chuyện đứa con hoang (37) là một đề tài quen thuộc của người Phật giáo cũng như Công giáo. Ta há chẳng thấy bộc lộ ở đó một cái gì đời đời chân thực, dầu bi đát và u huyền, một cái gì nằm sâu trong đáy tim mỗi người chúng ta? Dầu sao rốt cùng ý chí cũng thành tựu trong việc tự tri tự giác, và trở về ngôi nhà cũ. Niềm yên vui trong Giác Ngộ đích thực là niềm yên vui của một đứa con hoang yên ổn trở về nhà. Thế ra, trên lý luận, cuộc phiêu lưu ấy tuyệt không ích lợi gì hết sao? Phải, cần gì phải tự đánh mất đi để rồi tự tìm lại? Cần gì phải khởi hành từ số một để đến mười để rồi rốt cuộc từ mười trở về một? Về mặt toán học, quả không có gì phi lý hơn. Tuy nhiên, chính đó là chỗ huyền bí của đạo giáo, vì trở về không phải giản dị chỉ có nghĩa là đếm ngược lại vẫn bấy nhiêu con số ấy. 

Đó là chỗ muôn trùng khác biệt giữa vật lý và tâm lý. Một khi về rồi, con người không như trước nữa. Ý chí trở về sau bao thuở phiêu bạt qua tâm thức thời gian, ý chí ấy chính là Chúa vậy.

Trích:
THIỀN LUẬN
Quyển Thượng
Luận ba
Tác giả: Daisetz Teitaro Suzuki
Dịch giả:Trúc Thiên
Sưu tầm: Tuệ Nghiêm