Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

Chứng Ngộ Thực Tại và Tứ Niệm Xứ



Xin nghe bài giảng của Ni Sư Triệt Như về Kinh Niệm Xứ theo link dưới đây:

Tất cả những hiện tượng thế gian đều là danh sắc, thay đổi không ngừng. Chúng chỉ tồn tại trong từng sát na khó mà nhận biết. Thực tại cùng tột là chân lý tuyệt đối, chỉ bằng nhận thức khách quan mới có thể nhận biết được bản chất của thực tại. Trong thế giới hiện tượng không có gì gọi là thường hằng và bất di bất dịch mà biến chuyển liên tục, một thứ trông có vẻ đứng yên nhưng sự thật các nguyên tử vật chất trong nó đang chuyển động gần bằng tốc độ của ánh sáng.

Thực tại của mỗi danh sắc ấy luôn nằm trong trạng thái hiện tại mà chúng đang sống hay đang có mặt. Thực tại chính là cái đang là, cái như vậy, cái như thế, không phẩm chất, không thuộc tính. 

Chánh niệm tỉnh giác làm cho tâm có mặt ở hiện tại, sống với hiện tại và hoàn toàn trở thành hiện tại. Tâm phóng dật không an trụ làm cho tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến và đủ thứ tâm hành bất thiện khác phát sinh, làm tâm mỏi mệt và bất an.

An lạc không đến bằng kiến thức, bằng tranh cãi hay bày tỏ quan điểm, an lạc được chế tác thông qua việc thực tập. Chứng ngộ thực tại cùng tột là chứng ngộ Niết Bàn. Không thể nào cầu xin một đấng thần linh hay thượng đế ban điều đó cho mình, tự mình phải thực tập và chứng ngộ. Nhưng thực chất chẳng có gì chứng ngộ cả, chỉ có mình an trú hoàn toàn trong hiện tại mà thôi. Chánh niệm là bước thực tập căn bản và thực hành Tứ Niệm Xứ dẫn hành giả đi đúng hướng.

Tất cả 4 cách Quán của Tứ Niệm Xứ này đều dựa trên nền tảng của “Niệm biết không lời” và “Niệm biết Như Vậy.” Trước khi thực hành Tứ Niệm xứ, người thực hành phải trải qua kinh nghiệm hai loại niệm căn bản nói trên. Thông qua cách thực hành Tứ Niệm xứ, người thực hành sẽ đạt được hài hòa nội tâm, hài hòa thân-tâm, phát huy trí tuệ tâm linh, đạt được chánh trí, và chứng ngộ Niết bàn từ trong nhận thức khách quan của chính mình. Nhận thức khách quan này chính là “Tâm Tathā.”

Đây là thành quả của trạng thái tâm hoàn toàn thanh tịnh: không ý ngôn, không tầm, không tứ. Tâm vị ấy từ dính mắc nhiều đến bớt dính mắc và cuối cùng là không còn dính mắc. Đó là không còn tập khí/lậu hoặc, kiết sử, tùy miên. Qua trạng thái tâm thanh tịnh, vị ấy liền vượt qua tất cả sầu não. Nhờ vậy vị ấy mới tự điều chỉnh hay chữa được bệnh của thân và bệnh của tâm. Đây là trạng thái thân-tâm hài hòa; kinh gọi là “diệt trừ khổ, ưu.” Kết quả sâu sắc hơn là vị ấy bắt đầu phát huy được trí huệ tâm linh, và nhận ra được “Niết bàn”.

Chúng ta học thêm kinh Tứ Niệm Xứ để bổ sung kiến thức Phật học, và cũng để nhận ra con đường đi đến tịnh hóa nội tâm, chấm dứt sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn, Phật đã thiết lập nhiều phương cách. Trong đó, Tứ Niệm xứ được xem là cách tổng hợp giữa tục đế và chân đế. Tục đế là dùng trí năng tỉnh ngộ để Quán về Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Chân đế là nhận ra những trạng thái Như vậy của Thân, Thọ, Tâm, Pháp, rồi an trú trong như vậy trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Bằng cách an trú này ta sẽ kinh nghiệm nhiều mức độ chuyển hóa thân, tâm, trí tuệ. Cụ thể là ta sẽ kinh nghiệm được hân hoan, hỷ lạc, khinh an, và định tĩnh.

Tịnh hóa nội tâm cho chúng sanh: có nghĩa làm cho tất cả tâm chúng sanh đều trở nên trong sạch. Tâm chúng sanh trên căn bản vốn không trong sạch. Nó luôn luôn tiềm tàng 4 nhóm: 
1) Lậu hoặc hay tập khí, 
2) Kiết sử, 
3) Tùy miên, và 
4) Nghiệp chướng. 
Tất cả 4 nhóm đó là những tác nhân tạo thành năng lực dính mắc rất kiên cố trong tâm và trí chúng sanh. Phiền não và khổ đau của chúng sanh vốn do những năng lực dính mắc này. Chính 4 năng lực đó làm cho chúng sanh không bao giờ kinh nghiệm được an lạc lâu dài, hạnh phúc chân thật trong những môi trường sống khác nhau. Chúng sanh sống như con thiêu thân: lúc nào cũng nhảy vào những đống lửa quyền lợi vật chất và quyền lợi tinh thần để thỏa mãn giác quan. Từ đó chúng sanh khó tránh khỏi tranh chấp, đấu tranh, giành giựt, giết chốc lẫn nhau. An lạc, hạnh phúc thì ít mà phiền não, khổ đau thì nhiều. Nước mắt, thù hận, máu, và lửa không bao giờ ngưng đọng trong cuộc sống hằng ngày của tất cả chúng sanh.

Bằng phương pháp độc nhất trong kinh “niệm xứ,” nếu áp dụng đúng đắn, nó sẽ giúp chúng sanh trong sạch hóa tâm mình. Đó là chúng sanh có nhận thức mới về hiện tượng thế gian, về giá trị của sinh hoạt tâm linh, và về lề lối sinh hoạt hằng ngày của mình theo lời dạy của Phật qua 4 phương pháp quán: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Chúng sanh sẽ không còn ôm chặt những thành kiến, định kiến, thiên kiến chủ quan về Thân, Thọ, Tâm, Pháp của mình (nội thân) và của người (ngoại thân) nữa. 

Tâm chúng sanh sẽ trở nên thanh thản, an tịnh, hài hòa, từ bi, và có trí tuệ đối với Thân, Thọ, Tâm, Pháp của mình và của người. Lúc bấy giờ chúng sanh sẽ vượt khỏi sầu não.

Khi đã có nhận thức mới, đó là ta đã nhận rõ chân tánh hiện tượng thế gian, tâm ta trở nên trong sạch, ta sống biết đủ, ta thường xuyên an trú trong chánh niệm, trong như thật, và trong như vậy về Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Qua những lối sinh hoạt tâm linh này, ta sẽ vượt qua khỏi những buồn rầu (sầu) và buồn bực trong tâm (não). Từ đó đưa đến, ta diệt trừ được khổ của thân, và lo buồn của tâm. Phần này, Phật gọi là: “Diệt trừ khổ, ưu."

Thành tựu chánh trí: Chánh trí (sammā ñāṇa: right knowledge) là trí biết như thật (jānāti yathābhūtaṃ) về đối tượng. Nó đối lập với tà trí (micchā ñāṇa). Nó đồng nghĩa với chánh kiến (sammādiṭṭhi). Cả hai chánh trí và chánh kiến đều xuất phát từ huệ căn. Nó không dính mắc vào tánh (Pakati: nature) và tướng (Nimitta: signs, mark, outward appearance) của đối tượng.

Trong tâm lý học Phật giáo, đối tượng luôn luôn có 2 tánh và tướng. Đó là tánh/tướng chung và tánh/tướng riêng. Tánh là bản thể thường trực, không thay đổi của hiện tượng. Tướng là nét sai biệt bên ngoài, thường thay đổi của hiện tượng; mắt thường trông thấy được.

Tánh/tướng chung là: vô thường, khổ, vô ngã, không, pháp tánh, như tánh…

Tánh/tướng riêng là: nóng, lạnh, mát, ướt, khô, hiền, dữ, biết…

Nó không phải trí của 1 trong 3 nhóm của ý căn suy nghĩ, ý thức phân biệt, và trí năng méo mó. Nó không có chủ thể “ta” trong đó. Phật giáo Phát triển xếp chánh trí này do “chân ngã” hay “tự ngã thanh tịnh” đảm nhận chức năng đó. Thiền tông xếp chánh trí này do tánh giác đảm nhận. “Thành tựu chánh trí” là kết quả của sự áp dụng phương pháp quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp.

Chánh trí này dựa trên yếu tố tỉnh ngộ. Đó là trí năng không còn méo mó, không còn chủ quan. Trí này thấy như thật, biết như thật. Nó được Phật xếp là “vô sanh trí.” Thiền tông gọi là Tánh giác, Duy Thức tông gọi là “Bạch tịnh thức.” Nó là nền tảng căn bản của sự giải thoát hay chứng ngộ Niết bàn. Dụng công tu Thiền mà chưa kinh nghiệm “chánh trí” xem như ta chưa có được tâm trong sạch. Tâm ta lúc nào cũng dính mắc. Tánh giác không bao giờ có mặt.

Chứng ngộ Niết bàn” = nhận ra Niết bàn = nibbānassa sacchikiriyāya. Niết bàn = Nibbāna; Skt: Nirvāna (popular meaning):1. the going out of a lamp or fire. 2. the dying out of fuel in the heart (hadaya) of the threefold of rāga, dosa, and moha. 3. the dying out of āsava, kilesa, kiết sử, tùy miên đưa đến giải thoát, không còn tái sanh.

Trong bài kinh Tứ Niệm Xứ này, Phật dạy đệ tử xuất gia của Phật về cách thức Quán. Trong đó gồm 4 điểm chính: hăng say thực hành, tỉnh giác, chánh niệm, và đối tượng quán (Thân, Thọ, Tâm và Pháp). 

Nền tảng của quán trong Tứ Niệm xứ: chánh niệm tỉnh giác (Satisampajañña) 
Nội dung quán: thấy biết như vậy; không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng về 4 đối tượng là Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Người quán không dùng trí năng để suy luận, không dùng ý thức để so sánh, phân biệt, không dùng ý căn để suy nghĩ về 4 đối tượng đó. Đối tượng như thế nào chỉ biết như thật như vậy thôi. Thân chỉ là thân, Thọ chỉ là thọ, Tâm chỉ là tâm, Pháp chỉ là pháp. Chỉ nhận biết đề mục trong hiện tại; không cần tìm hiểu xem đề mục thuộc loại nào: thân, thọ, tâm hay pháp gì cả. 

Muốn thông suốt kinh Tứ Niệm xứ, điều cần thiết ta phải nắm vững ý nghĩa từ “niệm.” Nó là nền tảng cơ bản của cách nhìn trên 4 sự vật: thân, thọ, tâm, pháp, qua phương pháp Quán. Ở đây, trong Kinh Niệm Xứ, từ “Sati” có nghĩa “sự biết không có nội dung cố định.” Trong trường hợp này, từ “Sati” được Hòa Thượng Minh Châu dịch sang tiếng Việt là “chánh niệm.” Chữ “chánh” này không có nghĩa là “chơn thật,” hay “đúng;” đối lập với “sai” hay “tà.” Nó có nghĩa sự nhận biết mà không có chứa nội dung cố định nào trong đó. Nó là trạng thái biết của người đã trải qua quá trình tu tập lâu dài, đưa đến tâm vắng lặng, hoàn toàn khách quan, hay nhận thức trống rỗng: thức, ý, và trí năng không hoạt động, chỉ có sự hoạt động của cơ chế tánh giác. Đây là trạng thái tâm khách quan (cittatathā): tâm không dính với cảnh hay cảnh không tác động được tâm qua các giác quan: thấy, nghe, ngữi, nếm, và xúc chạm của người đó. Kinh gọi trạng thái này là “xả niệm.” Trong tâm lý học Phật giáo, gọi niệm này là “hành xả trí” (Saṅkhārūpekkhā ñāṇa). Với trí này, vị ấy lúc nào cũng biết rõ, chính xác (liễu tri) (parijānāti: to know accurately) môi trường chung quanh trong trạng thái như thật như vậy. Tâm vị đó không bao giờ dính với cảnh. 

Trích từ bài giảng Tứ Niệm Xứ của Hòa Thượng Thích Thông Triệt.
Nguyện hồi hướng công đức này đến khắp tất cả.
Tuệ Chiếu
Sưu tầm: Giới Nghiêm

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016

Nơi Không Có Khó Khăn Thử Thách



Trong một khu vực dân cư nọ có một người bác sĩ tên Sam. Phòng mạch bác sĩ Sam lúc nào cũng đông nghẹt người. Bệnh nhân tìm đến bác sĩ này không phải vì tay nghề ông cao mà vì ông rất tài tình và linh hoạt khi tiếp xúc và điều trị bệnh nhân.

Một hôm, khoảng 10.30 tối, khi bác sĩ Sam chuẩn bị đóng cửa phòng mạch thì có một người bệnh nhân hớt hải xông vào phòng mạch bác sĩ. Bác sĩ Sam liền hỏi người bệnh nhân đau gì. Trong hoảng loạn, người bệnh nhân liền trút một hơi liền “thưa bác sĩ, tôi cần bác sĩ giúp tôi, tôi muốn bác sĩ trả lời thẳng thắn vấn đề của tôi.” Bác sĩ Sam hỏi “vấn đề của anh là gì?” Anh ta liền nói “xin bác sĩ giúp tôi, chỉ cho tôi biết trên đời này, có chỗ nào tôi không phải đương đầu với khó khăn thử thách không?”. Bác sĩ Sam hỏi “tại sao anh hỏi về vấn đề này?” Người thanh niên đáp “tôi muốn sống ở nơi đó.”

Bác sĩ Sam nói rằng, bây giờ thì quá trễ rồi và ông hẹn với chàng thanh niên vào sáng sớm ngày hôm sau, đúng 7 giờ sáng, đến phòng mạch và ông sẽ đưa chàng thanh niên đến nơi anh ta mong muốn. Chàng thanh niên trở về nhà, băn khoăn không hiểu ông bác sĩ này sẽ dẫn mình đi đâu. Anh ta thao thức suốt đêm không thể nào chợp mắt được. Anh nằm đợi đến khi trời sáng. Đến 7 giờ sáng, anh ta có mặt tại phòng mạch bác sĩ Sam, ông bác sĩ này đã đợi sẵn chàng thanh niên ở đó. Hai người đi bộ đến trạm taxi gần nhất và thuê một chiếc taxi.


Xe chạy vòng vèo theo sự chỉ dẫn của người bác sĩ. Sau một tiếng đồng hồ, chiếc taxi đưa họ đến một nơi thật yên tĩnh. Đó là một khu đất rộng rãi có tường cao bao quanh và cổng đi vào thật lớn. Anh chàng thanh niên phân vân không biết người bác sĩ dẫn mình đi đâu, liệu ông ta có điên chăng? Thế rồi bác sĩ Sam hướng dẫn xe đưa ông và chàng thanh niên đi vào bên trong cổng. Hóa ra là một nghĩa địa. Thế rồi bác sĩ Sam xuống xe và nói “theo kinh nghiệm của bản thân tôi, đây là nơi hoàn toàn không có khó khăn thử thách mà thôi.”

Thế đấy các bạn ạ. Chúng ta không thể nào tránh né được khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Khó khăn là một điều tất yếu và vượt qua khó khăn là một phần của cuộc sống vậy. Con người ta trưởng thành hơn trong giông tố của khó khăn ở đời. Cuộc sống không phải là tấm chiếu cho ta nằm ngủ mà là con đường để chúng ta bước đi. Được tôi luyện trong gian khó, con người ta trở nên vững chãi, kinh nghiệm và giàu vốn sống hơn và đây là chất liệu để con người tồn tại, trưởng thành và tỏa sáng. Chỉ có trải qua khó khăn thử thách, mình mới thật sự còn sống! Một nơi bình lặng không có khó khăn thử thách, nếu có trong cuộc đời này, chỉ có thể tìm thấy ở bãi tha ma mà thôi!

Posted by Hằng Như at 9:00 PM
Labels: Cuộc sống
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2016

Hãy Thực với Bản Thân Mình



Hãy nhớ phải thực với bản thân mình. Làm thế nào? Ba điều phải ghi nhớ. Một, đừng bao giờ nghe bất kì ai, điều họ nói bạn phải là: bao giờ cũng hãy lắng nghe tiếng nói bên trong của mình, điều bạn muốn là vậy. Bằng không toàn thể cuộc sống của bạn sẽ bị phí hoài.

Cả nghìn lẻ một cám dỗ xung quanh bạn bởi vì nhiều người có đó rao bán chuyện của họ. Đó là siêu thị, thế giới này, và mọi người đều quan tâm tới việc bán cái của mình cho bạn; mọi người đều là người bán hàng. Nếu bạn nghe quá nhiều người bán hàng bạn sẽ phát điên. Đừng nghe ai cả, hãy nhắm mắt lại và nghe tiếng nói bên trong. Đó chính là thiền tất cả là gì: lắng nghe tiếng nói bên trong. Đây là điều đầu tiên.

Thế rồi điều thứ hai - nếu bạn đã làm điều thứ nhất chỉ thế thì điều thứ hai mới trở thành có thể: đừng bao giờ đeo mặt nạ. Nếu bạn giận, hãy giận. Điều đó là mạo hiểm, nhưng đừng mỉm cười, bởi vì điều đó là không thật. Nhưng bạn đã được dạy rằng khi bạn giận, hãy mỉm cười; thế thì nụ cười của bạn trở thành giả dối, mặt nạ,... chỉ là bài tập của môi, chẳng cái gì khác. Trái tim đầy giận dữ, chất độc, và môi mỉm cười - bạn trở thành hiện tượng giả tạo.

Thế rồi điều khác cũng xảy ra: khi bạn muốn mỉm cười bạn không thể mỉm cười được. Toàn thể cơ cấu của bạn bị lộn ngược bởi vì khi bạn muốn giận bạn lại không giận, khi bạn muốn ghét bạn lại không ghét. Bây giờ bạn muốn yêu; đột nhiên bạn thấy rằng cơ chế này không hoạt động. Bây giờ bạn muốn mỉm cười; bạn phải ép buộc điều đó. Thực sự trái tim bạn đầy nụ cười và bạn muốn cười to, nhưng bạn không thể cười to được, cái gì đó tắc nghẹn trong tim, cái gì đó tắc nghẹn trong họng. Nụ cười không tới, hay cho dù nó tới, nó là nụ cười rất nhợt nhạt và chết. Nó không làm bạn hạnh phúc. Bạn không sôi sục với nó. Nó không toả ra quanh bạn.

Khi bạn muốn giận, hãy giận. Chẳng có gì sai trong việc giận cả. Nếu bạn muốn cười, hãy cười. Chẳng có gì sai trong việc cười to. Dần dần bạn sẽ thấy rằng toàn thể hệ thống đang vận hành. Khi nó vận hành, thực sự, nó rù rù êm êm quanh mình, cũng như chiếc xe, khi mọi sự diễn ra tốt đẹp, nó chạy êm rù rù. Người lái xe yêu xe biết rằng bây giờ mọi sự đều vận hành tốt, có sự thống nhất hữu cơ - cái máy đang vận hành tốt. Bạn có thể thấy: bất kì khi nào máy móc của một người đang chạy tốt, bạn có thể nghe thấy tiếng rù rù quanh người đó. Người đó bước, nhưng bước đi của người đó có điệu vũ trong nó. Người đó nói, nhưng lời của người đó mang tính thơ ca tinh tế trong chúng. 

Người đó nhìn vào bạn, và người đó thực sự nhìn; nó không hờ hững, nó thực sự nồng nàn. Khi người đó chạm vào bạn người đó thực sự chạm bạn; bạn có thể cảm thấy năng lượng của người đó đi vào trong thân thể bạn, một luồng cuộc sống đang được truyền qua... bởi vì máy móc của người đó đang vận hành tốt.

Đừng đeo mặt nạ; bằng không bạn sẽ tạo ra việc vận hành sai trong máy móc của mình - các khối chắn. Có nhiều khối chắn trong thân thể bạn. Người đã từng đàn áp giận dữ, quai hàm của người đó trở nên bị chốt chặt. Tất cả giận dữ dồn lên quai hàm và rồi dừng lại ở đó. Tay người đó trở nên xấu. Chúng không có chuyển động duyên dáng của vũ công, không, bởi vì cơn giận đi vào ngón tay - và bị chốt lại. Hãy nhớ, giận dữ có hai nguồn cần được xả ra từ đó. Một nguồn là răng, nguồn kia là ngón tay: bởi vì mọi con vật, khi chúng giận dữ - chúng sẽ cắn bạn bằng răng hay chúng sẽ bắt đầu xé bạn bằng cẳng. Cho nên móng vuốt và răng là hai điểm từ đó giận dữ được xả ra.

Tôi có hoài nghi rằng bất kì chỗ nào giận dữ bị đàn áp quá nhiều, mọi người đều có rắc rối về răng. Răng của họ đi sai bởi vì quá quá nhiều năng lượng có đó và chẳng bao giờ được xả ra. Và bất kì ai đàn áp giận dữ đều sẽ ăn nhiều; người giận dữ bao giờ cũng sẽ ăn nhiều hơn bởi vì răng cần tập luyện nào đó. Người giận dữ sẽ hút thuốc nhiều hơn. Người giận dữ sẽ nói nhiều hơn; họ có thể trở thành người nói ám ảnh bởi vì, bằng cách nào đó, hàm cần luyện tập để cho năng lượng được xả ra chút ít. Và tay của người giận dữ sẽ trở nên sần sùi, xấu xí. Nếu năng lượng được xả ra chúng có thể trở thành bàn tay đẹp.

Nếu bạn đàn áp bất kì cái gì, trong thân thể có bộ phận nào đó, bộ phận tương ứng, với xúc động đó. Nếu bạn không muốn khóc, mắt bạn sẽ mất vẻ rực rỡ bởi vì nước mắt được cần tới; chúng là hiện tượng rất sống động. Thỉnh thoảng khi bạn kêu khóc, thực sự bạn đi vào trong nó - bạn trở thành nó - và nước mắt bắt đầu chảy xuống từ mắt bạn; mắt bạn được lau sạch, mắt bạn lại trở thành tươi tắn, trẻ trung, và trong trắng. Đó là lí do tại sao đàn bà có mắt đẹp hơn, bởi vì họ vẫn có thể khóc. Đàn ông đã đánh mất đôi mắt của mình bởi vì họ có khái niệm sai rằng đàn ông không nên khóc. Nếu ai đó, đứa con trai nhỏ khóc, ngay cả bố mẹ, người khác cũng đều nói, "Con làm gì vậy? Con có là kẻ yếu đuối không đấy?" Vô nghĩa làm sao, bởi vì Thượng đế đã cho bạn - đàn ông, đàn bà - cùng tuyến lệ. Nếu đàn ông không khóc, đáng ra sẽ phải không có tuyến lệ chứ. Toán học đơn giản. Sao tuyến lệ lại tồn tại trong đàn ông theo cùng tỉ lệ như chúng tồn tại trong đàn bà? Mắt cần kêu khóc, và điều thực sự đẹp là bạn có thể kêu và khóc toàn tâm.

Hãy nhớ, nếu bạn không thể kêu khóc toàn tâm, bạn cũng không thể cười được, bởi vì đó là cực khác. Những người có thể cười cũng có thể khóc; những người không thể khóc thì không thể cười được. Và đôi khi bạn có thể đã quan sát ở trẻ con: nếu chúng cười to và lâu, chúng bắt đầu khóc - bởi vì cả hai điều này được nối liền. Tôi đã nghe các bà mẹ nói với con mình, "Đừng cười quá nhiều; bằng không con sẽ bắt đầu khóc đấy." Thực sự đúng đấy, bởi vì hiện tượng là không khác - cùng năng lượng chuyển sang các cực đối lập.

Điều thứ hai: đừng dùng mặt nạ - hãy chân thực với bất kì giá nào. 

Và điều thứ ba về tính đích thực: bao giờ cũng trong hiện tại - bởi vì mọi cái giả tạo đều đi vào hoặc từ quá khứ hoặc từ tương lai. Cái đã qua là đã qua rồi - đừng bận tâm về nó. Và đừng mang nó như gánh nặng; bằng không nó sẽ không cho phép bạn được đích thực với hiện tại. Và tất cả những cái còn chưa tới thì vẫn chưa tới - đừng bị bận tâm không cần thiết về tương lai; bằng không điều đó sẽ đi vào hiện tại và phá huỷ nó. Hãy chân thực với hiện tại, và thế thì bạn sẽ đích thực. Ở đây - bây giờ là đích thực.

Trích từ "Cân bằng thân tâm"




Sống bằng con tim đồng nghĩa với việc khám phá ý nghĩa của cuộc sống.

Trí óc là gì ? Nó là tất cả những gì bạn đã biết. Nó là quá khứ, là những điều đã qua đi. Trí óc chỉ là quá khứ được tích lũy, là ký ức. Con tim là tương lai; con tim luôn sống cùng niềm hy vọng, con tim luôn thuộc về tương lai. Trí óc nghĩ về quá khứ; con tim mơ về tương lai.

Tương lai vẫn chưa đến. Tương lai là một tiềm năng - nó sẽ đến, nó luôn đang trên đường đến. Liên tục mọi khoảnh khắc, tương lai trở thành hiện tại, và hiện tại trở thành quá khứ.

....Cuộc sống không lắng nghe những lý luận của bạn; nó diễn ra theo cách của nó, không bị quấy nhiễu. Bạn phải lắng nghe cuộc sống.

Khi bạn bước vào cuộc sống, bạn trông thấy gì? Một cơn bão mạnh xuất hiện, những gốc cây to ngã quỵ. Lẽ ra chúng phải sống sót, theo lập luận của Charles Darwin, vì chúng là đối tượng mạnh khoẻ nhất, chắc chắn nhất. Bạn hãy nhìn một gốc cây cổ thụ, cao ba trăm foot, ba nghìn năm tuổi. Nó khiến bạn nghĩ ngay đến sự vững chắc và sức mạnh – nhưng sau cơn bão này, nó bị quật ngã và không còn sống nữa, mọi sức mạnh của nó biết mất. Bão tố luôn xuất hiện – vì bão tố bắt nguồn từ cái trọn vẹn và gốc cây này chỉ là một cá nhân.

Ngoài ra còn có các loại cây nhỏ và cỏ – khi cơn bão đến thì cỏ oằn mình xuống để nhường bước và cơn bão không thể gây hại cho cỏ. Cùng lắm thì cơn bão chỉ có thể gội sạch cỏ, chỉ thế thôi; mọi bụi bặm được cuốn đi. Cơn bão giúp cỏ được tắm gội và khi cơn bão qua đi, các loại cây nhỏ và cỏ lại vui đùa trong gió. Cỏ gần như không có gốc rễ, trẻ con có thể dễ dàng nhổ bật chúng lên, nhưng cỏ có thể đánh bại được cơn bão hùng mạnh. Điều gì đã xảy ra?

Cỏ đã hành động theo cách của Đạo, cách của Lão Tử và gốc cây to đã hành động theo cách của Charles Darwin. Gốc cây to này rất mạnh mẽ, nó cố gắng kháng cự, nó cố gắng thể hiện sức mạnh của nó. Nếu bạn cố gắng thể hiện sức mạnh của mình, bạn sẽ bị đánh bại. Hitler, Napoleon, Alexander là những gốc cây to lớn. Tất cả họ đều đã bị đánh bại. Những người hành động theo cách của Lão Tử là những loại cây nhỏ; không ai có thể đánh bại họ vì họ luôn sẵn sàng nhường bước. Làm sao bạn có thể đánh bại một người luôn nhường bước, một người luôn nói rằng: “Tôi đã bị đánh bại rồi” một người luôn nói rằng: “Thưa ngài, ngài xứng đáng là người chiến thắng, không cần phải tạo thêm rắc rối. Tôi là người bại trận.”? Ngay cả Alexander cũng cảm thấy vô ích trước một Lão Tử – không thể làm gì hơn. Điều đó đã xảy ra, thực sự đã xảy ra rằng…

Một nhà sư khất thực, tên gọi là Dandamis, xuất hiện vào thời của Alexander, khi Alexander đến Ấn Độ. Bạn bè của Alexander nói với ông khi ông sắp sửa đến Ấn Độ rằng khi quay về ông nên mang theo một nhà tu khất thực, vì các nhà tu khất thực chỉ sống tại Ấn Độ. Họ nói: “Chúng tôi muốn tận mắt trông thấy một nhà tu khất thực”.

Alexander mãi mê chiến đấu đến độ ông gần như quên bẵng đi việc này, nhưng khi ông quay về, khi gần đến biên giới Ấn Độ, ông chợt nhớ ra. Ông ra lệnh cho quân lính vào làng tìm kiếm xem liệu có nhà sư khất thực nào ở đó không. Tình cờ khi ấy Dandamis có mặt tại ngôi làng này, và người ta nói rằng: “Ngài đến rất đúng lúc. Có nhiều nhà sư khất thực, nhưng một nhà sư khất thực chân chính luôn rất hiếm hoi và ông ấy có mặt ở đây. Ngài có thể đến thăm ông ấy.”

Alexander bật cười và nói: “Lính của tôi sẽ đến bắt ông ấy. Tôi sẽ mang ông ấy về đất nước của mình.”

Dân làng nói: “Việc ấy sẽ không dễ…”

Alexander không tin thế – sao có thể khó được? Ông đã chinh phục nhiều hoàng đế và những nhân vật to lớn; với một nhà sự khất thực thì có khó khăn gì? Lính của ông đến gặp Dandamis, lúc này Dandamis đang ngồi khoả thân bên bờ sông. Họ nói: “Alaxander vĩ đại mời ông đồng hành về đất nước của Người. Ông sẽ có được bất kỳ thứ gì ông muốn. Ông sẽ trở thành khách mời đặc biệt của Hoàng gia.”

Nhà sư khoả thân bật cười lớn và nói: “Các người hãy nói với vua của các người rằng một người tự gọi mình là vĩ đại thì không thể vĩ đại được. Và không ai có thể đưa ta đi đâu cả – một nhà sư khất thực là người trôi dạt như những áng mây, trong sự tự do hoàn toàn. Ta không là nô lệ của bất kỳ ai.”

Họ nói: “Ắt hẳn ông đã nghe nói về Alexander, đó là người nguy hiểm. Nếu ông trái lệnh, ông sẽ bị chặt đầu!”

Alexander phải đích thân đến gặp Dandamis, vì quân lính tâu rằng: “Ông ấy là người phi thường, toả sáng, dường như có một cái gì đó rất lạ vây quanh ông ấy. Ông ấy trần truồng, nhưng ngài không cảm thấy rằng ông ấy trần truồng – sau đó ngài mới nhớ rằng ông ấy đã xuất hiện trong trạng thái trần truồng. Ông ấy mạnh mẽ đến mức khi ông ấy xuất hiện chúng ta có thể quên đi cả thế giới. Ông ấy là người Ngài nên gặp, nhưng có lẻ ông ấy sẽ gặp rắc rối, lão già tội nghiệp, vì ông ấy nói rằng không ai có thể đưa ông ấy đi đâu, rằng ông ấy không phải là nô lệ của bất kỳ ai.”

Alexander đến gặp Dandamis với thanh gươm trần trên tay. Dandamis bật cười lớn và nói: “Hãy vất thanh gươm của ngươi đi, ở đây nó trở thành vật vô dụng. Hãy tra nó vào vỏ. Nó trở thành vô dụng ở đây vì ngươi chỉ có thể chém lìa thân xác của ta, nhưng ngươi không thể chém lìa ta. Thế nên hãy tra nó vào vỏ; đừng trẻ con thế.”

Và truyện kể rằng đó là lần đầu tiên Alexander làm theo lệnh của người khác. Ông tra gươm vào vỏ và nói: “Ta chưa bao giờ gặp người nào đẹp đẽ thế này.” Và khi ông quay về trại của mình, ông nói: “Khó có thể giết một người đã sẵn sàng chết, việt giết chết ông ta trở thành việc vô nghĩa. Các ngươi có thể giết chết một người đang chiến đấu, vì việc giết chết hắn là có ý nghĩa; nhưng các ngươi không thể giết chết một người đã sẵn sàng chết và nói rằng, đây là đầu của ta, ngươi hãy cắt lấy nó”

Và Dandamis quả thực đã nói rằng: “Đây là đầu của ta, ngươi hãy cắt lấy nó. Khi đầu của ta rơi xuống, ngươi sẽ trông thấy nó lăn trên mặt đất và ta cũng sẽ trông thấy nó lăn trên mặt đất, vì ta không còn tồn tại ở thể xác của ta.”

Alexander đã phải nói với bạn bè của mình rằng: “Có nhiều nhà sư khất thực mà ta có thể mang về, nhưng đó không phải là những nhà sư khất thực chân chính. Sau đó ta tình cờ gặp một người thực sự phi thường – không ai có thể ép buộc ông ấy vì ông ấy không sợ chết. Khi một người không sợ chết, làm sao ta có thể ép buộc ông ấy làm điều gì?”

Chính sự lo sợ của bạn biến bạn thành một tên nô lệ. Khi bạn không lo sợ thì bạn không còn là một tên nô lệ nữa. Thật vậy, chính sự lo sợ của bạn biến bạn thành nô lệ của người khác trước khi họ cố gắng biến bạn thành nô lệ của họ.

Một người không lo sợ sẽ không sợ bất kỳ ai và cũng không khiến ai phải lo sợ mình. Sự lo sợ hoàn toàn biết mất.

....chỉ với những ai thật sự can đảm và không lo sợ, họ mới thật sự đang sống cuộc đời chính mình!

Trích trong tập sách “Osho – sống can đảm, sống thật với chính mình” của tác giả Osho
Đăng bởi Cội Nguồn : Thứ Hai, tháng 11 26, 2012
Sưutầm: Giới Nghiêm

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Cho và ...Cho.



Người ta hay nói đến cụm từ : Cho và Nhận, nhưng mình thích nói Cho và.. Cho.



Vì sao? Vì ngay trong lúc cho là đã nhận rồi mà người cho không hề hay biết. Còn khi cho mà mong muốn nhận lại dưới một hình thức nào đó, thì không còn gọi là cho nữa? (*___*)
...
Hãy cứ cho đi, hãy còn cho mãi
Mai ta đi, nào kịp vẫy tay chào.

__(())__





Tặng ai một ánh hồng dương
Cho hồn mở ngõ yêu thương đến cùng
Một ngày trong cõi tạm dung
Vạn điều độ lượng sống chung trọn lành .
Vì mình trong cả chúng sanh...
Thì vui với sự viên thành của nhau ..

Tay sen chắp nụ nhiệm mầu
Chân thành chúc một năm đầu Vạn An. (*___*)

__((()))__


Như Nhiên


- Việc khắc trên bia mộ dòng chữ tôi là người giàu nhất thế gian, chẳng có ý nghĩa gì lắm!
Điều quan trọng là một đêm trước khi đi ngủ, bạn có thể nói một ngày qua mình đã làm được điều gì đó rất tuyệt vời..
Steve Jobs...




Namo Buddhaya

Hãy học cách lắng nghe mọi người mà không đánh giá, phán xét.
Bạn không phải giải quyết những vấn đề của họ.
- Hãy cởi mở và sống nhân hậu....
Sống xung đột với người khác thật là mệt mỏi.
Ham muốn sự cung kính, tôn trọng và ngưỡng mộ của người đời là
một loại ngục tù.

(Thiền sư U Jotika)
TN sưu tầm
Đăng bởi Cội Nguồn : Thứ Bảy, tháng 1 09, 2016
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Thì Cành Mai Vẫn Nở



Mỗi lần xuân đến, những tạp chí Phật giáo đây đó thường nô nức nhắc đến bài kệ thơ của Thiền sư Mãn Giác với những bài tụng ca, bình giảng thật vô cùng trân trọng. Thi thoảng ta cũng bắt gặp đâu đó trong các bài bình luận văn học, cành mai kia cũng lọt vào cặp mắt xanh của các vị giáo sư, tiến sĩ với thẩm quyền chuyên môn về kiến thức và nhãn quan của mình. Ai cũng nói đấy là bài thơ thiền. Và, giá trị mỹ học tuyệt vời của nó, dẫu đã một ngàn năm qua đi, vẫn còn mới mẻ, tinh khôi như giọt sương, như ánh nắng long lanh giữa ngàn cây, nội cỏ...

Bài thơ ngắn quá, rất ngắn, lại còn phá cách, phá thể, ngôn từ dị giản - được làm vào lúc "cáo bệnh, dạy học trò" - mà sao ông đã để lại cho văn học sử một tác phẩm bất hủ, vượt thời gian? Bài thơ dường như còn để lại một khoảng trống, một khoảng lặng, một khoảng "ở ngoài lời", khơi gợi một thế giới tâm linh - mà ở đó - thấp thoáng ẩn hiện mảnh trăng thiền lung linh giữa từng con chữ! Thế gian trí năng đa biện, lý trí kiêu ngạo nầy chắc phải còn tốn nhiều giấy mực về bài thơ của ông. 

Những cái gọi là nghệ thuật, hình tượng, thi pháp, tu từ... với những kiến thức hàn lâm, kinh viện, phạm trù... lại còn cái kính hiển vi ngữ học thời đại nữa... không biết "thiền ý của cổ đức xưa" được giải mã qua mấy ngàn "trùng quan ý niệm"? Chỉ có điều, đối với "thiền" thì "hay" chưa chắc đã"đúng" và "dở" chưa chắc đã "sai"! Và rồi, cái "hay-dở-đúng-sai" kia - đều không quan trọng, cái cốt tử của nó là trao truyền "thiền ý" cho chúng đồ, tiếp sức cho mạng mạch Phật giáo, thêm năng lượng sự sống và niềm tin cho hàng hậu học sa-môn.
Vậy, chúng ta hãy thử mạo muội đi tìm cái "thiền ý" ấy là gì?

- Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai.

(Xuân đi, đóa đóa hoa rơi
Xuân về, đóa đóa hoa tươi thắm màu.)

Hai câu thơ đầu tiên này, mới nghe qua ta tưởng như bình thường, cái bình thường tự nhiên trong sự dịch hóa của vạn hữu. Ngàn xưa vẫn vậy, ngàn sau vẫn vậy, vẫn là định luật tuần hoàn chuyển đổi của đất trời. Nó không xấu hơn, cũng chẳng tốt hơn.

Nhưng, tại sao, từ cảm quan nào, cảm thức nào mà thiền sư thi sĩ lại phá vỡ trật tự thói quen của lập ngôn, lập ngữ? Ai cũng nói "đến rồi đi", "nở rồi tàn", nhưng ở đây thì ngược lại? Cái động từ "khứ" với nghĩa động là "đi tới", nghĩa tĩnh là "qua", "đã qua", có"mật ngữ", "thiền ý" gì không? Rồi "đáo" đi sau; nghĩa động của nó là "đến"; nhưng nghĩa tĩnh của nó là "chu toàn, đầy đủ, viên mãn" - có cho ta một "chớp lóe tâm linh" nào chăng?

Giải mã những điều ấy nếu dùng những hiểu biết thông thường thì e không tới. Mà cho dù kiến thức bác lãm, trí năng thông tuệ thì cũng ở bên này mép rìa của thực tại mà thôi!

Đây là bài thơ có tư tưởng thiền. Thiền sư là một hành giả. Nếu muốn nắm bắt ý nghĩa uyên áo giấu kín sau từng con chữ thì người đọc muốn lãnh hội trọn vẹn cũng phải là một hành giả. Nói cách khác, nó là bài thơ “thiền” thì ta cũng phải có tâm thiền để nhìn ngắm. Ở đây là "nhìn ngắm", là "quán chiếu thực tại". Đừng bắt tôi phải định nghĩa thực tại là gì? Khi ta thấy thực tại là gì thì nó đã chảy trôi rồi. Chỉ có những hành giả tu tập tuệ quán mới ý thức được hơi thở này cùng từng tế bào sự sống trong ta - chúng luôn tương quan với ngoại giới. Tất cả - chúng, đang chảy trôi, đang đi qua, đi qua. Tất cả đều đang chảy trôi, đang đi qua trong từng sát-na tâm niệm cũng như những sát-na dịch hóa của đất trời. Vậy, trong cái tâm nhãn, thiền nhãn ấy, "xuân khứ" là đúng với "hiện quán", đúng với cái nhìn của thiền gia! Và, biết đâu, từ trong sâu thẳm tâm linh, Mãn Giác thiền sư còn gởi gắm tiếng gọi thống thiết muôn đời của Pháp trong Bát-nhã tâm kinh: "Gate, gate... đi qua, đi qua...?!" Tuy nhiên, đấy chỉ là sản phẩm của lý trí đa sự, chất chồng thêm ý niệm mà thôi. Vậy còn "đáo"? Khi "khứ" là đi qua như thế thì "đáo"cũng đâu hẳn là thường ngữ?

Dĩ nhiên rồi. Ngoài định luật tự nhiên - xuân về thì trăm hoa nở - chữ "đáo" đi sau chữ "khứ" chỉ là tạo lập trật tự cho mệnh đề. "Xuân đến" hay "xuân về" đều có thể diễn nghĩa cho động từ "đáo". Nhưng nếu "đáo" có nghĩa động là đến, còn có nghĩa tĩnh là"chu toàn, đầy đủ, viên mãn" thì quả là ta sẽ có một trời ý niệm và liên tưởng thú vị. Có lẽ thiền sư Mãn Giác không "đa sự" như chúng ta chăng?

Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai.

(Việc đời trước mắt qua mau
Tuổi già chợt đến trên đầu thế a?)

Hai câu thơ dịch may lắm thì nói được cái ngữ nghĩa, không dễ gì "tín, đạt, nhã" như cổ nhân yêu cầu. "Sự" nôm na là việc đời, chuyện đời. Động từ "trục", nghĩa động là"đuổi, đuổi theo"; nghĩa tĩnh là "trước sau nối tiếp nhau". Vậy, việc đời nó "đuổi", nó"nối tiếp nhau" chạy qua trước mắt.

Câu sau, vế đối cũng được hiểu như vậy. "Già, cái già, tuổi già" nó theo trên đầu nó đến.

Cả hai câu thơ đều vắng bặt bản ngã, và ngay "pháp" cũng trôi chảy "vô ngã tính".

Phải có cái tuệ quán tỉnh táo mới nhìn ngắm mình và ngoại giới một cách chân xác, rỗng rang và giải thoát như vậy. Ngoài ra, chúng ta còn để ý đến động từ "quá" và "lai"; rõ ràng nó nhất quán với hai động từ "khứ" và "đáo" đi trước nó.

Đến đây, cái kiến giải "thiền ý" ấy ta đã có cơ sở hợp lý, logic - do từ cái nhìn thiền quán của tác giả.

Và cũng từ cái "quán chiếu thực tại" ấy, như dồn tụ năng lực, để đẩy hai câu cuối đến một chân trời thâm viễn hơn.



Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.)

Chữ "xuân" trong hai câu đầu là thường ngữ, ngôn ngữ tục đế, tục thể, ai cũng biết, ai cũng hiểu. Hiểu và biết theo phạm trù trí năng. Nhưng chữ "xuân" trong câu áp cuối, không như vậy. Nó vừa mang sứ mạng thường ngữ, vừa lung linh vầng trăng thiền ngữ - biểu tượng cái đẹp xuất thế. Cái vầng trăng thiền ngữ ấy, cái đẹp ấy không thể dùng trí năng để "hiểu và biết" mà là phải "thấy", cái thấy của tuệ giác, của trực kiến tâm linh.

Mùa xuân thế gian thì đến rồi đi, nở rồi tàn, còn mùa xuân tâm linh không dễ dàng chảy trôi theo định luật tự nhiên của vạn hữu. Người có được mùa xuân tâm linh này không còn bị chi phối bởi vô thường tính, vô ngã tính của cuộc đời. Họ không còn than thở như cụ Tiên Điền: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"! Bậc đạt ngộ nhìn ngắm sự chảy trôi, tụ tan, sinh diệt của vạn hữu với cái nhìn "tỉnh táo, trạm nhiên và an định". Họ đã trở về tao ngộ với quê hương, với miền đất an bình muôn thuở. Ở đấy, tại mùa xuân vĩnh cửu ấy, cái "tâm hoa" của họ không còn bị sự vô thường chi phối nữa. Cái "thiền ý" ấy bây giờ đã hiện ra bằng cách phá bỏ ý niệm thông tục: "Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết". Rồi kế đó là dẫn dắt chúng ta đến cánh cửa "huyền mật", mở ra một không gian khác, thời gian khác - khác với không-thời-gian mà mọi người đang sống:

Đình tiền, tạc dạ nhất chi mai

(Đêm qua, sân trước, một cành mai)

[1]Thiền ý bây giờ đã lộ rõ: Đóa mai này không còn là đóa mai của thế gian, đóa mai của nở-tàn thông tục nữa. Nó không còn bị chi phối của định luật sinh diệt, hữu hạn cũng như sự vận hành âm dương của trời đất.

Vậy thì đóa mai ấy nó ở đâu? Nó ở "sân trước" và mới nở "đêm qua". Đến đây, ta đã thấy rõ không gian (sân trước) và thời gian (đêm qua) rất đỗi lạ lùng mà chỉ có tâm thiền mới thấy được. Không-thời-gian ấy mới nở được đóa mai ấy. Và không có gì rõ ràng hơn thế nữa.

Tuy nhiên, vẫn còn "bí hiểm", bí hiểm cho những ai chưa trực kiến giây khắc "đốn ngộ", chưa thực sự bước qua hố thẳm của lý trí nhị nguyên. Nói rõ hơn, là chưa kinh nghiệm tuệ giác bên kia bờ. Chỉ khi nào hội diện, "cước căn điểm địa" miền đất ấy, không thời gian ấy, ta mới hiểu được "tiếng cười dài lạnh buốt thái hư" của thiền sư Không Lộ.

"Đêm qua" - là thời gian, là quá khứ. Nói về sự nhất quán của "ý tứ" thì quá khứ ở đây sẽ logic, chặt chẽ với những cặp thơ đi trước "khứ, đáo", "quá, lai". Ngoài ra, nếu ai có kiến thức tuệ giác kinh viện sẽ hiểu rằng, giây khắc ngộ đạo chỉ xảy ra trong 1 sát-na, rồi nó diệt mất, nhường sát-na kế cho đạo tâm. Ngộ đạo chỉ là giây khắc chớp lóe của tâm linh, sau đó nó trôi về quá khứ. Một sát-na đã là quá khứ. Tuy nhiên, người đạt ngộ tuy có ý niệm về quá khứ, về thời gian - nhưng họ luôn trực thức, luôn "hiện kiến" để sống trong từng hơi thở "không có thời gian", "ở ngoài thời gian". Chính ở cái thời gian "ở ngoài thời gian" ấy - không gian tâm linh mới được thiết lập. Không gian tâm linh thiết lập khá ước lệ: "Trước sân". Tại sao là "trước sân", là "đình tiền" mà không là "bên sân, sau sân" (đình biên, đình hậu)?

Rõ ràng "sân" ấy là mảnh đất tâm. Cái tâm ấy là mảnh đất để cho đóa mai nở. Sát-na tâm "trực ngộ, "hiện kiến" là nó luôn chảy trôi, nó luôn mở ra, ngạc nhiên, đón nhận dung thông các pháp đến từ ngoại giới. Cái tâm ấy phải "không" mới đón nhận được. Do vậy, cái tâm ấy không thể là "bên tâm, sau tâm" - mà phải là cái tâm luôn trực kiến cái hiện tiền; phải là "đình tiền, tâm tiền" mới chính xác.
Rồi đóa mai nở. Đóa mai nở là tuệ giác bừng nở. Tuệ giác bừng nở, nở nơi mảnh đất tâm, không còn bị quy định bởi không-thời-gian tại thế, ước lệ nữa.

Cuối cùng, để thêm tính thuyết phục cho sự giải mã này, ta phải trở lại một ngàn năm trước, để biết rằng Mãn Giác Thiền Sư thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông, đời thứ tám. Và dòng thiền này, thuở bình minh của nó, khi Vô Ngôn Thông truyền pháp cho Cảm Thành để hình thành dòng thiền Kiến Sơ - thì ông đã ngộ được yếu chỉ: "Tâm địa nhược không tuệ nhật tự chiếu" từ Bách Trượng Hoài Hải. Vậy Mãn Giác Thiền Sư là hậu duệ của truyền thừa, sáng tạo câu thơ "Đêm qua, sân trước, một cành mai" để thi vị hóa, tăng giá trị văn học, mỹ học cho câu thiền ngữ xưa bằng những hình tượng nghệ thuật không là điều kỳ diệu sao? Tuệ nhật tự chiếu - đóa mai nở - đấy là mùa xuân vĩnh cửu, là miền đất hứa cho những người con Phật và cả cho những chúng sanh đang lăng xăng xuôi ngược giữa miền cát lầm bụi đỏ này!

Ôi! Một bức thông điệp về mùa xuân đã một ngàn năm qua đi mà dường như vẫn còn cháy sáng ý tưởng, bập bùng giữa tâm thức trần gian. Có ai nghe, ai thấy? Hãy vẫn tịch lặng muôn đời trong hố thẳm vô ngôn?

Thì đóa mai vẫn nở! Bodhisvāha.


[1]Nhất chi mai: Nhiều người dịch là một nhành mai, một nhánh mai, một cành mai. Thật ra, ta phải hiểu,” nhất chi mai” còn có nghĩa là “một đóa mai” mới thấy thâm thúy. Một đóa là đủ rồi, cái tối thiểu - một đóa – là đủ đại biểu cho mùa xuân.- như câu thơ của Sư Tề Kỷ đời Đường “Tiền thôn thâm tuyết lý. Tạc dạ sổ chi khai” Đã bị Trịnh Cốc “thầy một chữ” chê chữ sổ (vài), nên sửa lại là “nhất”- Đêm qua nở một bông...(Xem thêm An Chi, sđd, q.3,tr.183.)

Hòa Thượng Giới Đức
Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Đăng bởi Cội Nguồn : Thứ Tư, tháng 12 23, 2015
Sưu tầm: Giới Nghiêm



Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

Dứt Sạch Mọi Khổ Đau



Trong đoạn kệ trên ta có thể tìm thấy chìa khóa để tận diệt mọi đau khổ.

Hãy kết giao với bạn lành,
Những người sống trong sạch, không lười nhác.

Lời chỉ giáo đầu tiên, về những người bạn tâm linh, là một chủ đề thường xuất hiện trong giáo lý của Phật, vì chúng ta rất dễ dàng bị ảnh hưởng từ những người bạn của mình. Một ‘thiện hữu tri thức’ (noble friend) là người không thụ động, biếng lười, và trong đời sống hằng ngày không tham đắm, vượt quá giới hạn, dầu là chút ít. Nói cách khác, họ là những người sống cuộc đời tích cực và đạo hạnh. Trừ khi ta có thể nhận xét được ở những người bạn của mình những đức tính cao đẹp như thế qua một thời gian dài, ta không thể gọi họ là thiện hữu tri thức hay bạn tâm linh với đúng nghĩa của nó. Đức Phật dạy rằng ta chỉ có thể hiểu thấu đáo một người nào đó sau khi đã sống với họ một thời gian dài; một chú giải còn xác quyết thời gian đó là mười hai năm.

Yếu tố quan trọng giúp ta thấy được đời sống tâm linh hay hoạt động nội tâm của một người không phải ở những điều họ nói, mà ở cách hành xử của họ trong đời sống hằng ngày. Nói là một việc, làm lại là việc khác - và hai việc này thường có thể khá xung đột nhau trong một con người. Giao tiếp với thiện hữu tri thức mang đến cho ta những cái nhìn mới về con đường tâm linh vì một người bạn như thế chính họ cũng dấn thân trên con đường đạo, và sẽ có nhiều tri giác để chia sẻ vì ưu tiên của họ luôn là phát triển tâm linh hơn là cuộc sống vật chất.

Sự hiểu biết sáng suốt này sẽ tự bộc lộ dưới những hình thức đơn giản để đánh thức trong ta những cái nhìn mới và hiểu biết sâu xa. Kinh sách ghi lại là Phật đã nói những lời dạy của Ngài phải được diễn tả dưới những hình thức càng đơn giản càng tốt, để chúng có thể đến với càng nhiều người càng tốt. Không người nào phải quay lưng đi với ý nghĩ rằng họ không đủ khả năng để hiểu pháp; và cũng không người nào nên nghĩ là họ chỉ việc tin vào pháp là đủ. Cả hai thái độ này đều không mang lại ích lợi gì.

Theo đức Phật, ta có thể tâm sự với một người bạn tốt (thiện hữu tri thức) mà không cần do dự, e ngại vì biết là họ sẽ giữ bí mật cho ta. Tất nhiên ta chỉ có thể tin như thế nếu ta biết ta cũng sẽ hành xử như thế với bạn: lòng tin phải có ở cả hai bên. Một người bạn tốt sẽ không để người khác nói xấu bạn mình, và luôn hoan hỷ khi nghe những điều tốt lành về bạn mình.

Sự giao tiếp mang đến cho tâm những chất liệu căn bản. Chính vì thế mà ta cần phải gần gũi với những người thường nói về các vấn đề tâm linh. Tất nhiên, ta cũng có thể nói về những công việc hàng ngày, và một người bạn tốt cũng có thể cho ta những lời khuyên về các vấn đề đời thường, nhưng không nên mất nhiều thì giờ cho việc đó. Tâm có những nhu cầu riêng của nó. Nó cần được bồi dưỡng, hoàn chỉnh, khích lệ và đó là những điều mà một thiện hữu tri thức có thể đóng góp tốt hơn, giúp ta thấy hoan hỷ và củng cố niềm tin của ta.

Đức Phật còn dạy thêm là một thiện hữu tri thức có thể làm xoay chuyển đời sống tâm linh của ta về hướng tốt. Sự quan trọng của một người bạn như thế được nhấn mạnh ngay từ câu đầu của đoạn kinh được dẫn, như là điều kiện tiên quyết để tận diệt các khổ đau. Nếu có được một người bạn có thể giúp ta đi trên con đường đạo, khuyến khích các thiện hạnh nơi ta, là tấm gương để ta phấn đấu, thì quả thật chúng ta quá diễm phúc và ta cần phải làm mọi cách để gần gũi, bồi dưỡng tình thân với họ.

Người khác có nhiều ảnh hưởng đến ta hơn ta tưởng. Khi giao tiếp với người không biết tu, ta rất dễ rớt xuống cùng trình độ với họ, trừ khi ta đã huấn luyện tâm mình để kéo họ theo về hướng ta. Điều này đòi hỏi ta trong giai đoạn đầu phải rèn luyện tâm chánh niệm cao độ, và chính vì vậy đức Phật đã nhấn mạnh đến việc ta phải gần gũi với những người có khả năng giúp chúng ta trên con đường tâm linh. Ta phải có khả năng tri thức riêng của mình, ở đây (đoạn kinh) ghi bằng chữ ‘cẩn trọng’.

 Hành động của ta phải luôn được dẫn dắt bởi sự tiên liệu và phán đoán chín chắn, bởi tiếng nói của lương tâm rõ ràng, rành mạch và nhắc nhở ta, thí dụ như, là ta phải có khả năng nhận ra ai là bạn tốt, ai là không. Tuy nhiên, vì sự biếng lười hoặc thiển cận, tiếng nói của nội tâm có thể bị bỏ qua, bởi trong ta còn có một tiếng nói thứ hai - đó là tiếng nói của ái dục - dễ dàng lôi cuốn và khiến ta nghe theo hơn.

Chúng ta có thể cố gắng bào chữa cho các hành động của mình bằng cách cho rằng tất cả mọi người đều làm như thế. Tuy nhiên, ta cần hiểu rằng con đường tâm linh hoàn toàn khác với con đường vật chất, và rằng hành động của số đông không có nghĩa là những hành động, suy nghĩ đúng. Thật ra, nếu quan sát thấu đáo và trung thực một số đông người, ta có thể kết luận rằng cuộc sống đắm chìm trong vật chất không thực sự tốt cho họ, dù ở những điều kiện thuận lợi nhất.

Ta sẽ đưa ra bất cứ lời bào chữa nào khi muốn bóp nghẹn tiếng nói của lương tâm đang hướng ta đến con đường đạo hạnh. Ngay cả khi nó (tiếng nói lương tâm) dõng dạc lên tiếng, ta vẫn cố nói, ‘Ừ, tại sao lại không? Làm như thế thì có hại gì? Tôi có quyền làm như thế. Người khác cũng làm vậy. Làm thế là tiện lợi nhất.’

Những sự ngụy biện và tránh né đó cần được liên tục phơi bày ra. Ta phải luôn tự nhắc nhở, bằng cách này hay cách khác, những điều ta thực sự mong muốn là gì. Chẳng hạn, ta có thể quán tưởng rằng kẻ thù và bạn bè - kể cả các thiện hữu tri thức - tất cả như cùng đang có mặt trong ta. Từ đó ta có thể chọn làm người bạn tốt nhất của mình hơn là kẻ thù nguy hiểm nhất. Ta có thể làm điều đó chỉ bằng cách chăm chú lắng nghe từ nội tâm những lời khuyên thực sự mang lại hạnh phúc cho mình; chứ không phải một cách sống đầy vị kỷ, đi từ lạc thú này qua lạc thú khác - là điều, dĩ nhiên, không liên quan gì tới hạnh phúc - mà bằng những niềm vui đến từ nội tâm, đó chính là điều mà mọi người đang thực sự tìm kiếm.

Ở đây, tuy đức Phật quan tâm đến thái độ của ta đối với những thiện hữu tri thức, một điều quan trọng khác cũng cần đề cập đến là thái độ của chúng ta đối với bản thân: bằng cách tự quán sát, xét xem mình có phải là người bạn tốt nhất của mình không. Ta có biết đến những cuộc đối thoại đang diễn ra trong tâm mình? Nếu có, ta có nhận ra được đường hướng và sự buông lung của tư tưởng của mình và ta có biết phải làm gì với chúng không?

Bất kể chuyện gì xảy ra quanh ta, chính tư tưởng của ta quyết định phẩm chất cuộc sống nội tâm của mình. Chính ta là người gây ra những diễn tiến trong tâm mình. Chỉ khi nào ta nhìn nhận sự thật này và sẵn sàng sống với hậu quả của nó, lúc đó ta mới có thể nói là mình đang theo đuổi con đường tâm linh. Chỉ có tôi là người chịu trách nhiệm cho sự hạnh phúc và bình an của tôi - cũng như những khổ đau, và bất an. Nếu không hiểu được điều này, ta sẽ ruổi rong tìm kiếm hạnh phúc ở bên ngoài. Ngược lại, khi gặp phải chuyện không vừa lòng ta kiếm ngay một thứ gì để đổ lỗi và sẽ có rất nhiều thứ để ta chọn lựa. Không khó khăn gì để tìm một người hay một điều gì đó, ngay bên cạnh ta hay xa vời, để đổ lỗi. Ngày nào mà ta còn làm việc này, ngày nào ta còn mong chờ hạnh phúc đến từ những điều kiện bên ngoài hay xem chúng là nguyên nhân của khổ đau, ngày đó ta còn mắc kẹt trong đời sống vật chất, và hành xử chẳng khác gì những kẻ phàm phu.

Sự chuyển hóa chỉ thực sự xảy ra khi ta nhận thức được rằng chính sự suy nghĩ của ta khiến ta hạnh phúc hay đau khổ, rằng chúng chính là chủ nhân ông trong đời sống nội tâm của ta. Lúc đó chắc chắn là ta phải trở thành người bạn tốt nhất của mình - hay ngay cả là thiện hữu tri thức của chính mình - bất kể hoàn cảnh chung quanh như thế nào. Là người bạn tốt của chính mình, ta sẽ hỗ trợ tất cả những gì tích cực trong ta và thuyết phục mình lánh xa những gì tiêu cực, và ta sẽ theo đuổi những gì giúp mình tiến bộ. Dần dần ta sẽ nhận ra những khuyết điểm của mình, và thay vì tự trách ta sẽ cố gắng tự sửa mình.

Nếu ta có thể giải quyết những khuyết điểm của mình với tâm từ, ta cũng sẽ có lòng từ tương tự với người khác và nhận ra những khó khăn của họ. Qua lòng từ ta sẽ vun trồng cho mình một tâm hồn cao thượng. Nhờ vậy, ta có thể gác lại những lo lắng đời thường, những tính toán vụn vặt, những cảm giác lo sợ, tiêu cực và cố gắng nâng cao tinh thần, trạng thái tâm lý cũng như tình cảm của mình đến trình độ mà ta có thể nhận ra tất cả như là một quá trình toàn diện.

Nếu ta có thể tránh nhìn mọi việc hoàn toàn qua quan điểm của mình thì thật là điều tốt. Khi giảm thiểu được thói quen suy nghĩ là ‘tôi’ sẽ thích cái này hơn, hay ‘tôi’ muốn thay đổi như thế này, thì lúc đó ta sẽ cảm nhận được rằng mình là một phần của một tổng thể lớn hơn. Chỉ nói về cách nhìn sự vật thôi cũng không đủ; ta cần có những suy nghĩ nghiêm túc - sự suy nghĩ đi đến cội nguồn cảm xúc và hình thành đời sống nội tâm của ta. Cũng bằng cách này, ta gầy dựng tính độc lập và tự chủ của mình. Nhờ người khác giúp tuy quan trọng, nhưng ta cũng cần cố gắng tự mình theo dõi và hướng dẫn sự tiến triển của bản thân.

Một điều thật lý thú về giáo lý nhà Phật là nó chỉ gồm những lời chỉ dẫn và tóm lược. Mỗi người phải chọn con đường cho mình và cố gắng tự thực hành. Càng thực hành, ta càng bớt do dự, càng bớt ôm giữ những bất mãn, càng nhận biết sâu xa hơn rằng đây là một giáo lý thực dụng, phù hợp với lý lẽ và nó thực sự giúp ta dần dần xả bỏ hết mọi khổ đau.

Để đạt được mục tiêu đó, ta phải thay đổi cách suy nghĩ của mình, và có một cách thật đơn giản để mô tả sự thay đổi đó: thay vì muốn các thứ này nọ, ta phải từ bỏ chúng. Ở môi trường buôn bán, khi muốn một vật gì ta phải sẵn sàng trả tiền mua vật đó, nhưng không trả hơn một xu giá bán của nó. Trên bình diện tâm linh thì lại hoàn toàn khác, chẳng có gì để mà được, và tất cả những thứ ta mang theo mình như quan điểm, ý nghĩ, hy vọng, ước muốn, sự do dự và sợ hãi, tất cả đều phải được từ bỏ. Sự từ bỏ này bắt đầu bằng cách suy nghĩ khéo léo, hay quán chiếu, là điều mà đức Phật gọi là sự ‘cân nhắc khôn ngoan’, từ đó thanh tịnh có thể phát khởi trong ta, cho phép ta nhận diện thật rõ ràng gì là bản chất cao thượng nhất trong ta. Ta phải làm được điều này vì ta chỉ có thể bộc lộ những đức tính mà tự ta đã gần gũi quen thuộc. Ta phải tìm được pháp ngay chính nơi ta.

Chữ ‘hiền’ (noble) có một ý nghĩa đặc biệt trong Phật giáo, nhằm chỉ một người đã thành công trong việc nhập tâm hóa những lời dạy của Phật bằng cách này. Có nhiều giai đoạn trên con đường đi đến mục tiêu này. Ban đầu ta có thể nghe một bài pháp rồi quên mất đi. Sau đó ta có thể nghe, rồi lưu tâm để nhớ. Nếu nhớ được giáo lý ta có thể đem nó ra thực hành. Và sau cùng ta có thể quán sát xem có gì đã đổi thay trong quá trình thực tập đó. Đường đi đã được vạch ra khá rõ ràng - còn việc đi trên con đường đó hoàn toàn tùy thuộc ở ta.

Việc tự soi lại mình khi ta muốn trở thành bạn hiền của chính mình đòi hỏi chúng ta phải biết điều gì là tốt nhất cho mình - mà không nhất thiết là điều thuận tiện hay dễ chịu nhất. Điều này càng khó khăn khi ta mới bắt đầu con đường tâm linh, vì bỗng nhiên ta phải đối diện với những điều mà ta không hề biết xưa nay vẫn tiềm ẩn trong ta. Ta cần có can đảm để nhận ra bản chất của ta mà không tự dối mình. Bất cứ sự giận dữ, bực tức hay nóng nẩy xảy ra trong quá trình tự kiểm này đều trái ngược với lòng từ và chẳng ích lợi gì cho ta. Việc trải lòng từ đến bản thân và nhận diện được những khó khăn của bản thân giúp chúng ta dễ cảm thông với người khác cũng như vậy.

Đoạn kệ tiếp tục mô tả một thiện hữu lý tưởng sống cuộc đời tích cực và đạo hạnh. Đôi khi ta thấy có quan niệm rằng người sống cuộc đời tâm linh đến độ phần nào đã nhập tâm ít nhiều giáo lý sẽ dành hết thì giờ của mình ngồi trên gối thiền, hoặc nhìn ra cửa sổ, hoặc mỗi ngày chỉ nói đúng mười chữ. Nghe thì kỳ quái, nhưng những quan niệm như thế không phải là không phổ biến, và thường được người ta tin chắc vào đó. Người ta thường có những tranh luận sôi nổi về việc một người sống đời tâm linh phải sống một cách đặc biệt như thế nào, các nghiên cứu về những ẩn sĩ Ky tô giáo thời Trung Cổ cho thấy họ thường là những người hết sức thực tế và hầu hết sắp xếp cuộc sống của họ rất thành công.

Sống đời tích cực có nghĩa là ta làm những việc cần làm thay vì để nó qua một bên. Tâm thụ động cũng khiến cho thân trở nên nặng nề. Lúc đó tâm nẩy sinh ra đủ mọi lời bào chữa, mà đức Phật đã tóm tắt như sau đây: Kẻ dại khờ nói, “Còn quá sớm, chưa tu được,” hoặc “Trễ quá rồi,” hoặc “Trời quá nóng,” rồi “Trời quá lạnh.” Rồi “Tôi no quá,” hay “Tôi đói quá,” “Tôi còn quá trẻ” hoặc “Tôi già quá rồi”. Ngày nay, chúng ta lại có nhiều lý do khác: “Bây giờ thì tôi không thể nào ngồi thiền được - ồn quá. Đợi đến khi tụi trẻ đã lớn, hay khi chồng tôi về hưu ....”

Tâm biếng lười không những không muốn làm gì, nó cũng không thể tập trung vào bất cứ việc gì. Nó có vẻ rất tích cực, chạy lung tung mọi hướng, nghĩ ngợi miên man, thế nhưng chẳng đem lại ích lợi gì. Khi tâm lang thang và không thể tự chủ, sự suy nghĩ tản mạn làm ngăn trở bất cứ trạng thái thiền nào. Nó có thể dựng lên những câu chuyện đẹp tuyệt vời, những mộng mơ lý tưởng nhưng chúng chẳng có ích lợi thiết thực gì cho sự thực tập. Tâm lăng xăng như thế thì cũng chẳng khác gì tâm biếng lười, trong khi sự nhất tâm giúp ta rất nhiều trong đời sống hằng ngày, và giúp tâm tránh có cảm tưởng là nó phải can dự vào bất cứ những gì nó gặp, giúp nó chú tâm vào những gì mà một người thông minh, khỏe mạnh coi là thực sự quan trọng. Do vậy, ở một giai đoạn nào đó, ta cần làm rõ điều gì thực sự quan trọng trong cuộc đời ta. Đối với chúng ta, cuộc sống thực sự có ý nghĩa gì? Ta nên thường xuyên nghĩ đến điều này và thỉnh thoảng cũng nên viết nó xuống. Có thể ta sẽ khám phá ra là việc tra cứu này có thể cho nhiều kết quả khác nhau trong chỉ vài ngày hay vài tuần, và chính vì thế việc tiếp tục xem xét trở lại những ưu tiên căn bản của chúng ta càng quan trọng hơn. Nếu biếng lười thường khiến cho các công việc hằng ngày làm gián đoạn sự tiến bộ của ta, những sự nhắc nhở như thế về mục tiêu của ta có thể vực dậy trong ta một sinh lực mới để theo đuổi sự tu tập.

Ta thích tự nhủ là mình quá bận rộn, tuy nhiên ta thường thấy là người lúc nào cũng làm quá sức, thì chẳng thành tựu được bao nhiêu. Những người có đầu óc nhanh nhẹn và nhất tâm có thể cáng đáng thêm một ít việc nếu cần. Tâm nhanh nhẹn cũng giúp cho thân thể luôn khoẻ mạnh để tâm và thân có thể hỗ trợ lẫn nhau.

Chúng ta phải làm rất nhiều việc chỉ để mưu sinh và nhiều người bận rộn với những công việc thường nhật này từ sáng đến tối. Những sự khổ nhọc ấy có bõ công không khi chúng ta biết là mình sẽ không sống mãi? Tất cả chúng ta đều nhìn nhận rằng có một cái gì đó quý giá hơn là việc mưu sinh hằng ngày, thế nhưng ta đã làm gì từ lúc mở mắt thức dậy mỗi sáng đến khi đi ngủ mỗi tối? Ta có giúp ích được gì cho người khác trong ngày? Có giây phút nào ta đã cố gắng tách tâm ra khỏi những lo toan vật chất không? Giáo lý của đức Phật gồm những nguyên tắc và chỉ dẫn mà bất cứ ai có quyết tâm đều có thể hiểu và thực hành. Đức Phật không bao giờ lôi kéo hay khuyến dụ người ta theo đạo của Ngài. Trái lại, Ngài dùng lời đơn giản để thuyết pháp, với lòng kiên nhẫn vô biên và khuyến khích mọi người tu tập. Lại nữa, Ngài đã giảng dạy cho những người có cùng những khó khăn, ham muốn và bất mãn như chúng ta ngày nay. Thế giới có thể đã thay đổi ở bên ngoài - kỹ thuật, kiến trúc và thời trang có thể đem đến cho chúng ta những điều mới mẻ mỗi ngày - nhưng thật ra thì nhiều thứ cũng chẳng mấy thay đổi và giáo lý của Ngài vẫn phù hợp như từ thuở nào. Và mục đích muốn đạt được tuệ giác sâu xa về sự thật tối thượng, để mở ra cho ta một cái nhìn mới về thế giới chung quanh cũng như về bản thân ta, để sau cùng đưa ta đến sự tận diệt các đớn đau và khổ ách, cũng vẫn còn thích hợp.

Dầu ở đâu, hãy giao tiếp thân thiện.

Trong cuộc sống hằng ngày, điều này xem như là một việc không thể làm nổi, vì có quá nhiều người không được thân thiện cho lắm. Nhưng trên con đường tâm linh, ta không có chọn lựa nào hơn là phải thân thiện, vui vẻ với mọi người. Nếu ta quạu quọ thì ngay trong lúc đó ta đang tạo ác nghiệp và rồi ta sẽ không thể tránh cảm thấy buồn bực - có nghĩa là ta đang bị dằn vặt bởi một lương tâm bất an. Có một quan niệm phổ biến nhưng rất sai lầm là nghiệp chỉ đến từ các đời trước của ta, và tích lũy nghiệp được dồn lại đời sau, song thật sự là ta đang tạo nghiệp trong mỗi giây phút mình đang sống và luôn phải gánh chịu những hậu quả của nó. Quá trình tạo nghiệp ở hiện tại quan trọng hơn là bất cứ nghiệp gì từ quá khứ hay trong tương lai. Quá khứ thì đã qua còn tương lai chẳng có gì hơn là một ý niệm của tâm thức; khi tương lai đến thì nó được gọi là hiện tại. Ta đang tạo nghiệp, ngay trong giây phút này, chẳng trước mà cũng không sau. Quả thật là nghiệp có liên hệ đến quá khứ và tương lai, nhưng điều đó ta thực sự chẳng nên quan tâm đến.

Hằng ngày, ta có thể lãnh quả của nghiệp ngay tức thì. Khi ta thấy vui sướng, bình an, thoải mái thì hẳn là ta đã cố hết sức cư xử theo lẽ phải, tức là đúng theo với lương tâm của mình. Ngược lại, nếu cảm thấy bực dọc, ta có thể suy ra là các hành vi của mình đã không được tốt, không đúng theo lẽ phải: có thể là ta đã không được hòa nhã, tư tưởng của ta chưa được tốt lành hoặc ta muốn chiếm đoạt hay vất bỏ cái gì đó. Có nhiều cách để bào chữa cũng như giải thích cho những hành động thiếu khôn ngoan của ta, song tất cả cũng chẳng có ích gì, bởi chúng chẳng giúp ta mất đi cảm giác khó chịu trong lòng.

Vì lẽ đó ta phải tự nhắc nhở mình không nên khiếm nhã dù người khác đã đối xử với mình như thế. Chính vì biết là họ đang tạo nghiệp xấu trong giây phút đó, ta phải cảm thấy thương họ thay vì có ác cảm với họ. Ta phải nhớ là nếu bất nhã trở lại với họ, chính ta cũng đang tạo ác nghiệp. Hầu hết mọi người cư xử theo lẽ sống đời thường là người xấu với ta thì ta xấu lại, vì họ nghĩ là không còn giải pháp thỏa đáng nào khác. Tuy nhiên, là Phật tử, chúng ta phải đi theo con đường mà đức Phật đã dạy: không ăn miếng trả miếng với người mà qua cách hành xử của mình cho họ thấy là có con đường cao đẹp hơn. Như thế không những lợi lạc cho ta mà còn lợi lạc cho kẻ ấy nữa.

Luôn cẩn trọng trong mọi hành động.

Ở đây ý nói ta nên cẩn thận xem xét các hành động của mình để tránh phản ứng một cách hấp tấp. Chúng ta thường vội lên án người khác khi ta nhìn thấy cái xấu của họ, và ta cũng phải nghiêm khắc và thận trọng như thế với những hành động của chính mình. Tuy nhiên, nếu tuân theo các thói hư tật xấu của mình là dại dột, thì ngược lại ta cũng chẳng khôn ngoan gì nếu ta buồn bã u sầu vì chúng.

Tuy vậy, ta không nên ngần ngại để cho bạn bè biết con người thật của mình và họ chỉ có thể thực sự hiểu ta nếu họ biết cách cư xử của ta trong đời sống hằng ngày chứ không phải chỉ trong những dịp đặc biệt. Ngay cả khi ta duy trì sự tỉnh thức, cũng không nên áp dụng vào cách cư xử thường ngày của ta một cách giả tạo, hoặc dựa trên sự đồng hóa với một nhân vật nào. Nó phải đến từ trái tim ta.

Ngoài việc phải cẩn trọng trong lúc giao dịch với bạn hữu, ta cũng cần cư xử như thế với tất cả mọi người để tránh gây thù chuốc oán một cách vô ích. Tuy nhiên, không thể nào tránh việc không tạo ra kẻ thù. Ngay cả đức Phật cũng có kẻ thù - cũng như Chúa Giê Su của Nazareth. Vì thế không phải lúc nào cũng có thể giao lưu, kết bạn, nhưng không nên vì lý do đó mà không thử, không cố gắng kết giao với những người bạn thực sự, dựa trên những tình cảm trong lòng ta.

Điều đáng tiếc là chúng ta thường giao tiếp với người khác dựa trên tri thức. Trong khi nếu mọi người đều thật lòng với nhau, thì sẽ dễ dàng hòa hợp với nhau nhiều hơn, nhưng điều này có vẻ hiếm trong những mối liên hệ hằng ngày. Nhưng ta luôn có thể học những điều mới, và ta càng phát triển những đặc tính của trái tim, như lòng nhân ái, bi mẫn, chúng càng chuyển tải nhiều hơn thông điệp của ta. Tình cảm của ta càng sâu sắc, ta càng dễ diễn tả chúng bằng lời nói, và càng dễ kết bạn hơn.

Bạn bè không có mặt để ta tự khẳng định mình, mà là để ta có cơ hội được làm một thiện hữu. Do đó, con đường tu tập của chúng ta, là để hỗ trợ người khác, và đây là điều quan trọng luôn được nhắc đến nhiều lần trong các kinh điển. Tuy nhiên ta chỉ có thể giúp được người khác sau khi đã tự giúp mình, và nếu những khó khăn của bản thân còn quá nhiều, ta phải khắc phục chúng trước khi ta có thể giúp người.

Nếu ta chỉ kết thân với những người bạn sống đạo hạnh, không biếng lười, và nếu ta thân thiện, cẩn trọng, đời ta sẽ tràn đầy hạnh phúc. Câu ‘tràn đầy hạnh phúc,’ nghe có vẻ lạ tai. Nói một cách đơn giản nhất là nó cho ta cảm giác tự tại, phát khởi từ nhận thức rằng ta đã làm hết sức mình, và đó là một khởi điểm quan trọng cho việc hành thiền. Nếu ta tự biết mình đã cố hết sức thì ta sẽ tìm được tâm bình an dễ dàng hơn vì biết là mình sẽ được hưởng quả lành từ những thiện nghiệp mình đã gieo trồng; ta có thể vững tin là các thiện nghiệp đang giúp đỡ, hỗ trợ ta. Đức Phật dạy rằng ta là chủ nghiệp của mình, rằng nếu ta gieo trồng thiện nghiệp thì chúng sẽ trưởng dưỡng ta và chính sự hiểu biết này góp phần mang lại hạnh phúc cho ta.

Bằng cách đó ta cũng dễ dàng đạt đến tầng thiền thứ nhất, cho ta cảm giác an lạc. Đây là tầng định thứ nhất mà đức Phật thường nhắc đến trong hầu hết những lời dạy của Ngài về thiền. Không những đem đến cho ta niềm an lạc nó còn là một liều thuốc trị những cảm thọ tiêu cực, lòng sân hận và ghen ghét. Trong lúc hưởng thụ cảm giác an lạc chúng ta không thể đồng thời cảm thấy sân hận hay ghen ghét. Thêm nữa, một cảm giác an lạc như thế thường có tác dụng lâu dài.

Trong đoạn kệ này chúng ta được chỉ dẫn về những điều cần thiết để giữ được định và sự bình tâm ở ngoài thiền định. Ở những kinh khác đức Phật dạy rằng muốn hành thiền cho đúng, tâm và thân đều phải thoải mái và tâm phải đầy an lạc. Chỉ khi đó việc hành thiền mới khả thi, đưa đến định. Khi chứng nghiệm những điều này lần đầu tiên ta sẽ có câu trả lời cho nhiều nghi vấn của ta. Đây là điểm khởi đầu của con đường đưa đến sự đoạn diệt các đau khổ.

Đức Phật dạy rằng tất cả mọi hiện hữu đều mang đặc tính đau khổ vì họ chẳng bao giờ có thể thỏa mãn hay hoàn toàn như ý, nhưng Ngài cũng chỉ cho ta cách để bỏ mọi khổ đau lại phía sau. Đôi khi Phật giáo bị cho là bi quan bởi đức Phật đã dùng từ ‘đau khổ’. Thật ra, xét cho cùng thì giáo lý của Ngài hết sức thực tế. Đức Phật nhận diện các vấn nạn của chúng ta, sự liên hệ mật thiết của chúng với vô thường. Ngài còn chỉ cho ta cách vượt thắng các vấn nạn với sự trợ giúp của tuệ giác sâu xa, tuệ giác đạt được khi ta từ bỏ các quan điểm cá nhân. Ta phải bắt đầu bằng nhận thức rằng các quan điểm của ta chưa bao giờ đem đến cho ta an vui, mà chỉ tạo ảo tưởng rằng ta là một ai đó.

Do vậy hưởng vui nhiều
Dứt sạch mọi khổ đau

Ở đây, đức Phật xác tín thêm lần nữa rằng ta đang bước trên con đường dẫn đến sự tận diệt các đau khổ bằng bước chân đầu tiên của mình. Đạo khởi đầu từ cuộc sống hằng ngày; nó ảnh hưởng đến bạn bè ta, đến cách cư xử, tình cảm hay năng lực, sự trong sạch của tâm cũng như thiền tập của ta. Nếu ta bước theo đó, hãy tự nhắc nhở mình luôn tránh để tâm biếng lười, phải là bạn tốt của bản thân, và nếu chúng ta tiếp tục bước tới để chứng nghiệm hạnh phúc, niềm vui trong sơ thiền, thì chúng ta đang đi trên đạo lộ.

Dứt sạch mọi đau khổ không có nghĩa là tất cả khổ đau trên đời này đã chấm dứt nhưng là niềm tin của ta vào một cái ngã đã chấm dứt. Lúc ấy, không còn ai ở đó để cảm nhận khổ đau. Thật vậy, khổ đau của ta bắt đầu giảm thiểu khi ta đang trên đường đến chứng nghiệm, khi niềm tin vào cái ngã đã lung lay. Dứt sạch mọi đau khổ trong cuộc đời phải khởi đầu bằng chính khổ đau của ta bởi ta chỉ có thể truyền đạt cho người khác những gì bản thân mình đã cảm nhận và chứng đắc.

Ni Sư Ayya Khema
Trích trong "Hãy đến để thấy"
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Thông Tin Về Tình Trạng Sức Khỏe và Sự Thực Tập Cầu Nguyện Cho Sư Ông Làng Mai



Làng Mai, ngày 08 tháng 01 năm 2016


Kính gửi:

- Các trung tâm tu học thuộc Đạo Tràng Mai Thôn
- Các tăng thân cư sĩ tu học theo pháp môn Làng Mai và quý thân hữu trên thế giới

Kính thưa quý vị,

Trong những ngày đầu năm mới 2016, Sư Ông chúng con thể hiện rất rõ mong muốn được về lại Làng Mai, nước Pháp. Người tương đối hài lòng với những tiến triển trong quá trình trị liệu tại Mỹ cho đến thời điểm hiện tại, nhờ vào sự chăm sóc và chữa trị tận tình của các bác sĩ tại Trung tâm UCSF cũng như các nhà vật lý trị liệu trong suốt sáu tháng qua.

Giờ đây, Sư Ông chúng con mong muốn về lại Làng để được sum vầy dưới mái nhà tâm linh Làng Mai và để tận hưởng nguồn năng lượng tập thể hùng hậu có tính trị liệu của tăng thân. Các thị giả sẽ tiếp tục chăm sóc và luôn có mặt bên Sư Ông, cũng như tiếp tục tìm kiếm những phương pháp trị liệu thích hợp nhất với Người. Các bác sĩ cũng đồng ý với quyết định trở về Làng của Sư Ông và hoàn toàn tin tưởng Người có thể về Pháp một cách an toàn.

Chúng con vui mừng thông báo với quý vị thân hữu rằng chuyên cơ đưa Sư Ông chúng con về Pháp đã hạ cánh an toàn tại sân bay Bergerac chiều hôm nay (mùng 8.1) và Sư Ông đã về lại Sơn Cốc trong niềm hạnh phúc của đại chúng Làng Mai.

Chúng con vô cùng tri ân sự yểm trợ vật chất cũng như tinh thần mà quý vị thân hữu gần xa đã gửi đến Sư Ông chúng con trong thời gian Người dưỡng bệnh tại San Francisco. Chính năng lượng thương yêu và yểm trợ của tăng thân khắp chốn đã giúp Sư Ông chúng con rất nhiều trong quá trình trị liệu và về lại Làng Mai với nhiều niềm vui.

Vừa qua, trong đêm giao thừa Tết Tây, Sư Ông hào hứng tham gia vào không khí đón Năm Mới cùng các thị giả. Sư Ông mỉm cười và ngân nga theo mỗi khi các thị giả hát những bài yêu thích của Người. Những ngày gần đây, khi nghe lại đĩa thu âm giọng Người đọc những bài thơ do chính mình sáng tác, Sư Ông đã lắng nghe một cách hứng thú và còn dùng động tác để diễn đạt những hình ảnh đẹp trong bài thơ.

Chúng con có niềm tin vào quyết định trở về Làng của Sư Ông. Chúng con cũng rất hạnh phúc khi biết rằng Sư Ông sẽ cùng đại chúng ở Làng đón Tết Nguyên Đán, tham dự lễ hội hoa thủy tiên và đặc biệt là có mặt cho Đại Giới Đàn dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 3 tới. Chúng con đang tiếp tục thực tập cùng nhau chăm sóc cho Sư Ông, chăm sóc cho chính mình và cũng đồng thời chăm sóc cho phút giây hiện tại. Chỉ với sự thực tập đó, chúng con mới có thể có được một tương lai tươi sáng - một tương lai được làm bằng chất liệu của tình tăng thân, tình huynh đệ.

Một lần nữa, chúng con xin bày tỏ lòng tri ân đối với quý vị thân hữu và kính mong quý vị tiếp tục yểm trợ Sư Ông chúng con khi Người bước sang một trang mới của quá trình trị liệu.

Chúng con sẽ tiếp tục cập nhật về tình trạng sức khỏe của Sư Ông đến quý vị trên trang nhà Làng Mai tiếng Việt (langmai.org), trang nhà Làng Mai tiếng Anh (plumvillage.org) và trang nhà Làng Mai tiếng Pháp (villagedespruniers.net).

Sưu tầm: Hanh Nghiêm