Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017

Bản Ngã



Ai ơi trong cõi nhân sinh
Làm sao đồng thuận để mình...tha nhân
Không gây nhầm hiểu đôi lần
Bởi nhiều câu chuyện phân trần được đâu

Rồi từ chuyện nhỏ khởi đầu
Biến ra muôn chuyện mà đau... xót lòng
Chuyện đơn giản, hóa bòng bong
Đẩy đưa nhân thế vào vòng thị phi

Ai ai cũng muốn, cũng vì
Đề cao bản ngã... thành trì của ta
Dẫn đến tình nghĩa chia xa
Mỗi người mỗi nẻo... bất hòa với nhau

Bể đời muôn sắc muôn màu
Muôn điều cám dỗ dẫn vào tiếc thương
Đến khi về phía cuối đường
Giật mình tỉnh ngộ vô phương cứu cầu

Ai người tỉnh giác từ đầu
Diệt được bản ngã ngõ hầu lạc an
Sống đời hoan hỷ nhẹ nhàng
Hiện tại giải thoát không màng đâu xa...

Thích Nhật Từ
Sưu Tầm: Hanh Nghiêm

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

Những Câu Hỏi Cần Thiết



Hằng ngày, chúng ta có cảm giác mình luôn đối đầu với một núi công việc và lắm khi loay hoay chẳng biết mình nên bắt đầu từ đâu. Việc gì cũng thấy cần thiết và không biết chuyện nào nên ‘nhường quyền ưu tiên’ cho việc nào và bằng cách nào có thể hoàn thành công việc trong ngày một cách hiệu quả nhất. Do vậy, quản lý thời gian, sắp xếp và bố trí công việc hợp lý là cả một nghệ thuật và chính điều này góp phần đáng kể làm cho thành quả công việc ở mỗi người.

Những câu hỏi sau đây sẽ giúp chúng ta xác định việc mình muốn làm để rồi khối công việc vơi dần một cách nhẹ nhàng trong niềm vui qua cách bố trí khôn ngoan của mình.

Điều đầu tiên một người cần trả lời trước khi bắt tay vào công việc là hãy tìm câu giải đáp cho câu hỏi “mình đang quan tâm đến chuyện gì trong số các công việc được liệt kê trong danh sách ‘việc cần làm’ của ngày hôm nay?” hoặc câu hỏi “bây giờ tâm mình ở đâu trong số các công việc này?” 

Hãy bắt đầu một ngày bằng công việc mình quan tâm nhất. Khi hỏi câu này, tự nhiên tâm ta có một khoảng trống để tự nó lên tiếng và lắng nghe. Khi chúng ta mải mê cuốn công việc vào một khối thì thường chúng ta không nghe hết tiếng nói của tâm tư. Một việc làm thuận theo tiếng nói của lòng mình sẽ tiết kiệm thời gian, chất lượng và hiệu quả gấp nhiều lần hơn so với việc cứ bắt nó phải làm như một cỗ máy. Thông thường công việc mình quan tâm nhất chính là việc quan trọng nhất trong ngày nên một cách tự nhiên như một quán tính, khi viết ra các công việc cần làm trong ngày, bao giờ chúng ta cũng viết theo thứ tự ưu tiên.

Câu hỏi thứ hai, chúng ta tự kiểm tra, xem “đây thật sự có phải là việc mình thích làm hay không?” Tất nhiên không phải tất cả những việc cần làm đều là những việc mình thích, nhưng chúng ta có cách để thích việc mình cần làm, không thời điểm này thì vào thời điểm khác. Đối với vài việc trong ngày cầm đảm bảo thời gian tính, tức là cần phải hoàn thành ngay mà không thể trì hoãn, ta ưu tiên làm trước. Những việc khác, hãy chọn việc mình thích làm trước. 

Khi chọn việc mình thích, chúng ta sẽ làm thoải mái, làm mà như chơi và càng có niềm say mê trong công việc nhiều hơn. Niềm say mê và phấn khích này có một năng lượng chuyển hóa thái độ rất lớn. Do đó, thường là sau khi hoàn thành một việc mình thích, danh sách những điều thích làm trong số các công việc cần làm tăng thêm lên và thay vào đó, những công việc không thích ít dần lại và đến cuối ngày, tất cả những việc không thích đều tự động di chuyển vị trí sang cùng nhóm với công việc ưa thích. Đây là một nghệ thuật không quá khó, ai cũng có thể thử và người nào cũng có khả năng thành công với cách này.

Câu hỏi thứ ba chúng ta cần đặt ra và tìm câu trả lời là “chúng ta cảm thấy thế nào khi đang làm một công việc này?” Hãy quan sát cảm xúc của mình khi đang thực hiện một công việc. Chỉ biết đến công việc và nôn nóng hoàn thành nó mà không quan tâm gì đến trạng thái tâm lý của mình là một sai lầm hơn là thiếu sót. Nếu việc gì đó không tạo cho mình niềm vui, có thể chúng ta đã sai chỗ nào đây rồi. Vì sao? Làm là cả một quá trình tốn nhiều thời gian hơn là nhận lấy thành quả. Kết quả là điều tất nhiên, sẽ có ngay lập tức khi công đoạn làm này hoàn tất. Một khi đạt được mục đích, việc ấy coi như đã xong. Thời gian dành cho việc này chỉ chớp nhoáng, chỉ có thời gian thực hiện là dài. Do đó, chúng ta cần có niềm vui trong suốt cuộc hành trình thực hiện này. Ví dụ leo đến đỉnh núi là cái đích, nhưng người leo núi cảm nhận nhiều niềm vui và kinh nghiệm sâu sắc trong suốt chặng đường từ chân núi lên đến đỉnh hơn là khi lên đến đỉnh. Hoa thơm cỏ lạ, gió mát trời thanh trải dài trong từng bước chân từ nơi ta bắt đầu lên tận đỉnh núi kia mà! Nếu suốt chặng đường thực hiện công việc không có niềm vui, kết quả ấy liệu có ý nghĩa gì? Điều quan trọng là tinh thần chúng ta luôn sống động, những gì chúng ta thật sự kinh qua với sự có mặt của tâm lý thoải mái, vui tươi trong công việc.

Một câu hỏi không thể thiếu nữa là “những gì chúng ta đang làm đây góp phần thế nào vào mục đích chung của mình?” hoặc “mình làm việc này để nhằm mục đích gì?” Rõ ràng câu hỏi này là kim chỉ nam cho hành động của mình. Khi thấy công việc chúng ta đang thực hiện góp phần thực hiện kế hoạch lớn hơn, thực hiện nguyện vọng của mình, tự nhiên chúng ta có sức mạnh, tinh thần và niềm tin để thực hiện và hoàn thành tốt nhất trong khả năng có thể. Mỗi một việc chúng ta đang làm cần được xác định vị trí và tầm quan trọng trong bức tranh cuộc sống của mình. Cần xác định mục đích trong mỗi việc làm cụ thể và đặt nó vào mục đích chung của cuộc sống. Nếu lý tưởng cuộc sống là một đường thẳng hướng về phía trước thì mỗi một việc làm là một chấm nhỏ để góp phần hình thành đường thẳng ấy.

Câu hỏi tiếp theo cần quan tâm khi chuẩn bị thực hiện một công việc là “liệu có bao nhiêu giải pháp để thực hiện việc này và giải pháp nào là tối ưu?” Giống như liệt kê các công việc theo thứ tự ưu tiên về mức độ quan trọng, các giải pháp cho một vấn đề cũng cần liệt kê theo thứ tự ưu tiên dựa vào tiêu chí hiệu quả công việc tính trên mọi phương diện như kết quả, chất lượng, thời gian, công sức, chi phí... Trong điều kiện cụ thể với sự chi phối của các yếu tố bên ngoài, hãy tỉnh táo và khôn ngoan chọn lựa giải pháp tốt nhất để thực hiện công việc.

Thật ra, trong ngày chỉ có một vài công việc cần làm ngay mà không được chậm trễ, những việc còn lại có thể linh động thay đổi thứ tự, miễn sao cuối ngày, mọi chuyện đều hoàn thành có hiệu quả là đạt mục tiêu. Do đó, chúng ta không nhất thiết phải y theo thứ tự công việc được ghi ra trong danh sách công việc cần làm trong ngày và cứ thế mà thực hiện. Đừng để công việc đè mình! Cũng đừng để công việc biến mình thành một cỗ máy! Hãy dành một chút thời gian quán sát tâm mình, đặt ra 5 câu hỏi trên và trả lời một cách trung thực, sát với tình hình thực tế nhất, theo đó mà thực hiện lần lượt từng việc một, công việc sẽ tiến triển nhẹ nhàng và hiệu quả. Đừng ôm đồm vì đây là cách làm cho cả thân và tâm mệt mỏi thêm mà không làm cho tiến độ và chất lượng công việc tốt hơn vậy.

Chúng ta sống cả đời và làm việc cả đời. Tìm thấy niềm vui trong công việc là một niềm hạnh phúc lớn góp phần làm nên ý nghĩa một đời người vậy.

Posted by Hằng Như at 5:47 PM
Labels: Cuộc sống
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Xã Tâm



1)- Nếu không làm chủ ý, để tâm dính mắc một điều gì thì tâm không thanh thản. Thế nên, khi có một niệm khởi lên thì tác ý để đánh bạt những tà niệm ấy .

2) Ngồi thiền phải luôn tỉnh thức. Nếu không tỉnh thức sẽ đi lạc thiền, bị tẩu hỏa nhập ma. Khi ngồi thiền mà cảm thấy tâm thanh thản, an lạc là đúng, nếu cảm thấy nhức đầu thì mau xả ngay đi kinh hành để tâm bình thường trở lại. Nếu thấy có sự an lạc trong tỉnh thức là đúng. An lạc mà đắm chìm trong an lạc, người đến gần mà không hay là sai .

3)- Cứ lo xả tâm cho thật sạch, ly dục ly ác pháp cho thật sạch, không cần phải quan tâm đến Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Khi xả tâm thật sạch thì tự nhiên nhập được các thiền định đó dễ dàng, vì thế nên thường để tâm thanh thản an lạc.

4)- Khi một niệm ác khởi lên, phải chặn đứng, xả ngay liền. Khi niệm thiện khởi lên, liền làm một việc thiện gì đó. Sau khi làm xong thì xả ngay, không để dính mắc vào việc thiện.

5)- Để tâm bình thường, thanh thản, vô sự, không kìm thúc tâm, không tập trung tâm chăm chú quá, mà chỉ để ý bình thường. Khi có một niệm khởi lên là tâm phóng dật, phải xả liền, đó là làm chủ cái ý.

6)- Hằng ngày phải thường xả tâm bằng pháp hướng, nhưng không nên dùng pháp hướng liên tục mà thỉnh thoảng 2, 3 phút hướng một lần. Đó là luôn luôn quán xét tâm đang khởi niệm gì thì liền xả ngay niệm đó. Còn không khởi niệm thì tâm đang ở trong trạng thái an lạc tỉnh thức . Như vậy ngồi chơi cũng là tu, ta không còn thấy thời gian trống trải. Pháp này rất ích lợi cho người giữ hạnh độc cư .

7)- Khi cô Út la rầy một người nào là để thử tâm họ còn sân hay không? La rầy thật cũng có và thử cũng có. Thấy người bị la rầy thì ta lấy đó làm bài học, đặt mình vào vị trí người bị la rầy mà rút kinh nghiệm để xả tâm sân giận.

8)- Không dính mắc vào kinh sách và băng giảng mà phải thực hành cho đúng thì mới có kết quả.

9)- Khi dự định làm một điều gì, (thí dụ: dự định nhập thất, sống độc cư trăm phần trăm), không nên nói cho ai biết, chỉ nên âm thầm thực hiện điều đó. Nếu nói ra thì gặp nhiều ma chướng không thực hiện được.

10)- Dùng câu pháp hướng nào phù hợp với sự việc đang dính mắc mà xả tâm thì xả rất nhanh .


a/ Khi bị người nói oan ức, thì xả tâm không buồn giận, mà tự kiểm tra lại mình có hành động hoặc lời nói gì khả nghi hay không, rồi đề phòng để sửa đổi những lỗi lầm mà mình đã phạm để người khác không còn nghĩ và nói oan cho mình nữa.

b/ Xả tâm tốt là khi sự việc nghịch ý đến mà mình biết, mình không còn buồn giận nữa. Đó là biết mình có xả tâm. Còn khi người ta nói nghịch ý mình cứ mặc kệ ai nói gì thì nói trơ trơ như gỗ đá thì đó là ức chế tâm.

c/ Nói ra những điều mình hiểu biết cho người khác nghe, càng tăng thêm tâm ngã mạn . Sống chung trong tập thể phải hòa đồng với tập thể, nhưng giữ hạnh độc cư thì không được nói chuyện. Cứ lo xả tâm tốt, tất nhiên sẽ sanh trí tuệ.

d/ Ngồi chơi thấy không có vẻ gì là tu mà thực sự là tu rất nhiều .

e/ Lo quán xét cái tâm, khi có một niệm khởi lên liền buông xả xuống. Xả tâm được rồi thì không còn thích mặc đẹp, ăn ngon nữa.

f/ Khi bị cô Út đập, thì xả tâm ngay, không nên buồn giận. Khi bị cô Út la rầy, thì phải tự xét mình có làm điều gì lỗi hay không, mà sửa đổi. Còn nếu không có lỗi thì phải biết rằng Út muốn nhắc nhở một điều gì đó và tác ý buông xả hết không buồn, không giận. Đó là xả tâm. Còn ôm ấp giận hờn trong tâm, ủ mày, ủ mặt là tu sai rồi. Đi tâm sự phân trần với người khác cũng sai luôn.

g/ Thực hành pháp hướng, phải tỉnh thức trong câu pháp hướng và nhiệt tâm thì xả tâm mới có hiệu quả. Thực hành pháp hướng mà tâm cứ nghĩ vẩn vơ, thì pháp hướng như câu thần chú, đọc liền liền mà không có kết quả gì hết.

h/ Giữ hạnh độc cư không phải là luôn luôn nín lặng, nếu có người hỏi việc đáng nói thì phải nói. Nếu lặng im không trả lời là tu sai rồi.

i/ Người tu là phải biết dừng cái ý, ý hay khởi niệm phải làm cái này, nhớ nghĩ điều kia, chuyện nọ. Thí dụ : Đang nhập thất, ý nhớ nghĩ phải ra phụ bếp, rồi theo ý đó mà phải ra ngoài. Như vậy là phá hạnh nhập thất, là tu sai . Khi đã nhập thất thì phải quyết tâm giữ trọn hạnh nhập thất. Luôn luôn quán xét cái ý của mình. Khi ý khởi niệm thì buông xả xuống liền. Nếu tâm còn loạn động thì không nên nhập thất, mà nên ở ngoài để xả tâm. Nếu không sẽ ức chế tâm bị tẩu hỏa nhập ma.

j/ Chính mình tạo cảnh vui hay địa ngục cho chính mình. Sống trong cảnh động mà xả tâm được thì chính nơi đó là Niết Bàn. Ở nhà bếp cũng là Niết Bàn chứ không phải ở trong thất mới thấy Niết Bàn.

k/ Khi nghe người ta trách mình một điều gì đó mà mình không có làm, thì không nên cãi lại, vì cãi lại là tâm mình đã dính mắc vào sự việc đó . Mình nên quán xét rồi xả tâm không màng đến điều người ta nói. Miễn sao tâm mình chơn chánh, ngay thẳng là được rồi .

l/ Dừng được ý là tạp khí hiện tại diệt, tạp khí hiện tại diệt thì tạp khí từ quá khứ cũng diệt. Do đó khi bỏ thân này sẽ được tự tại. Khi ý được thuần thục sau này sẽ nhập các định khác dễ dàng.

m/ Làm chủ ý là phải biết điều phục nó, chiến thắng nó. Khi ý niệm khởi lên trong giờ tu, nhớ cái này, nhớ cái nọ, mình phải biết khắc phục nó, không cho nó khởi. Nó khởi lên hoài nó sẽ quen, mình phải cương quyết thắng nó. Khi nó khởi lên thì tác ý” không khởi niệm nữa phải buông xả xuống, buông xuống”. Tác ý lâu ngày thì sẽ làm chủ được ý.

n/ Khi người ta làm khổ mình là người ta đưa mình vào địa ngục, thì mình phải biết thoát ra khỏi địa ngục đó. Mình phải tạo cảnh an vui cho mình, không được quyền làm khổ mình.

o/ Người tu mà đắp y để cho người ta lễ lạy mình là còn danh, còn tâm ngã mạn. Người tu đã đập vỡ tâm ngã mạn thì không đắp y, không còn muốn cho người lễ lạy mình.

p/Thực hành pháp hướng tâm đừng tập trung quá nhiều sẽ thành ức chế tâm. Nên dùng pháp hướng với tâm bình thường, thanh thản, vô sự. Tu trong thoải mái dễ chịu mà có kết quả.

q/ Muốn phá hôn trầm phải đi kinh hành cho nhiều.

r/ Những câu pháp hướng mà Thầy dạy là của Phật, của Thầy. Người tu đến một lúc nào đó, tự tâm phát sinh ra những câu pháp hướng, thì đó là những câu pháp hướng tự động, nó phù hợp với đặc tướng của mình.

s/ Đừng nên khuyên người đi tu. Để tự người ta ý thức cuộc đời là khổ rồi người ta tu thì mới xả tâm được.

t/ Thấy cuộc đời còn vui thích, hoặc bất mãn gia đình, hoặc buồn khổ một chuyện gì mà đi tu thì tu không được, xả tâm không được, chỉ bị ức chế tâm mà thôi.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Bảy, 3 tháng 6, 2017

Pháp Đã Tự Hoàn Hảo




Sự thật về cuộc sống luôn sẵn có nơi mỗi người chúng ta, sẵn có xung quanh chúng ta. Những người hiểu ra điều này sẽ không thấy có vấn đề gì nữa, cũng không còn gì để họ phải theo đuổi nữa. Bây giờ họ chỉ sống với thực tại và tự chiêm nghiệm, học hỏi mà thấy ra thôi. Vì câu trả lời cho mọi vấn đề của cuộc sống đều nằm trong chính cuộc sống. Mọi thứ đã tự đầy đủ nơi thực tại hết rồi, không cần thêm bớt gì nữa.

Tất cả chân lý đều đã đầy đủ nơi chính mình ngay bây giờ và ở đây. Không phải nó sẽ chỉ xuất hiện sau quá trình nỗ lực tu tập mà nó đã có sẵn nơi mỗi người. Vì vậy người đã giác ngộ không bao giờ cho rằng ta giác ngộ "cao" hơn người khác, vì họ biết chân lý nơi mỗi người đều bình đẳng như nhau.

Và kỳ diệu hơn chân lý sẵn có trong bất kỳ cái gì, trong từng bông hoa, viên sỏi, chiếc lá… Như Đức Phật từng nói chỉ vì ta có nhiều "bụi" trong mắt nên không nhận ra. Những hạt bụi của những phiền não, tư kiến, tư dục, quan niệm, lý luận chủ quan. Chúng che mắt ta khiến ta không nhận ra được sự thật, mà sự thật này phổ biến và đơn giản tới mức chỉ cần buông xuống mọi ý đồ thì nó liền hiển hiện.

Vi vậy bước đầu tiên của Thiền chính là biết thư giãn, buông xả để cho thân tâm lặng lẽ vận hành, không thêm bớt gì cả. Mọi hoạt động của thân hay tâm lúc đó hoàn toàn tự nhiên, tự nó ứng ra, chứ không phải xuất phát từ ý đồ của một cái Ta nào cả. Khi đi thì chân cứ tự bước, vấp phải hòn đá thì tự tránh sang bên.

Thường thì ta có thói quen tưởng tượng ra một chủ thể, rồi chủ thế đó làm cái gì đó. Cái làm này gọi là làm một cách hữu vi. Còn khi những hành động, phản ứng tự nhiên ứng ra của thân và tâm trước hoàn cảnh mà không có ảo tưởng về chủ thể xen vào gọi là làm một cách vô vi. Như khi ta lái xe, tự thân và tâm điều khiển xe, thấy chướng ngại tự tránh đi, thấy đèn đỏ tự đứng lại. Không có cái ta nào đang lái xe cả, có thể lúc thân-tâm tự lái xe thì có cái ta ảo tưởng suy nghĩ lung tung với ý đồ gì đó thôi. Chỗ này ta cần phân biệt cho rõ, thế nào là làm một cách hữu vi và thế nào là vô vi. Buông ra không làm gì cả - không thái độ lăng xăng tạo tác, để yên cho thân-tâm tự nhiên vận hành, tức là làm một cách vô vi vậy.

Yếu tố đầu tiên của Thiền chính là thư giãn, buông xả.

Thường thì ta vẫn cố gắng tu tập, rèn luyện để đạt được chân lý. Có biết đâu cái chân lý mà ta muốn đạt tới chỉ là ảo tưởng từ tâm trí ta. Khi ta đọc sách, hay nghe lời giảng, trong tâm trí tự vẽ ra một chân lý ảo tưởng rồi ta muốn theo đuổi, níu giữ nó và sở hữu nó. Do mình tự nghĩ ra thì làm sao có thể là chân lý được. Chân lý là luôn có sẵn, hiển hiện ở khắp nơi. Nó không thể do bất cứ ai nghĩ ra, hay tạo ra.

Khi ta cố gắng rèn luyện, nỗ lực để đạt tới cái chân lý, mục đích do tâm trí của ta tự dựng lên thì chính ta đang bước vào con đường luân hồi sinh tử. Chính cái bản ngã ảo tưởng cứ thôi thúc ta muốn làm cái này cái kia, muốn tạo tác để trở thành liền rơi vào thập nhị nhân duyên. Nguyên nhân của việc tạo tác để trở thành chính là vô minh và ái dục. Vô minh là không thấy rõ thực tại đang là, còn ái dục chính là tham và sân.

Ngay tại đây, bây giờ khi ta buông mọi ý đồ để thấy rõ trọn vẹn thân-tâm đang vận hành, ngay đó là sự thật rồi nhưng ta lại không thấy là như vậy. Ta đi tìm một sự thực khác, chân lý khác hợp ý mình hơn. Thí dụ ta muốn đạt được Niết bàn. Có biết đâu Niết bàn là một khái niệm không có thực bởi vì buông khái niệm đi thì ngay đó là Niết bàn.

Khi tâm khởi lên một khái niệm dù là khái niệm về Niết bàn thì đã là vọng tưởng. Chỉ cần nghĩ về Niết bàn, ta liền đánh mất thực tại đang xảy ra và rơi vào vô minh mất rồi.

Khi ta muốn đạt được Niết bàn tức cho rằng những gì đang xảy ra nơi thân-tâm không phải Niết bàn và ta phải nỗ lực để biến chúng trở thành Niết bàn. Đó chính là tạo tác để trở thành. Vô minh-ái dục có ái-thủ-hữu để trở thành liền rơi vào luân hồi sinh tử, phiền não khổ đau. Điều này Đức Phật nói rõ trong Thập Nhị Nhân Duyên.

Có một câu kệ rất hay:

"Chân bất lập, vọng bổn vô"

Chân lý luôn sẵn có, không thể do ta lập ra, đó chính là "chân bất lập". Bây giờ chỉ còn thấy vọng tưởng vốn không. Đức Phật dạy ta một cách hết sức đơn giản, đó là trở về trọn vẹn trong sáng với thực tại nghĩa là tinh tấn-chính niệm-tỉnh giác. Trọn vẹn với những gì xảy ra nơi thân-tâm như nó đang là, không còn thêm bớt gì hết.

Khi ta ngồi một cách hoàn toàn thư giãn, buông xả để thân tâm nghỉ ngơi. Không còn ý đồ muốn tốt hơn, hay tìm cầu chân lý gì nữa thì làm sao vọng tưởng có thể nổi lên. Đó chính là "chân bất lập, vọng vốn không" vậy.

Nếu một người có thể hoàn toàn buông ra như thế và ngay đó chứng thực những gì đang xảy ra thì gọi là người đã "chứng ngộ". Vì vậy yếu tố đầu tiên của Thiền chính là thư giãn, buông xả. Để cho thân-tâm hoàn toàn nghỉ ngơi vô sự. Lúc đó tâm trở về với thái độ hoàn toàn rỗng lặng trong sáng tự nhiên của nó.

Nếu mỗi người dù đang ở trong các trạng thái khác nhau, nhưng trạng thái nào thì cứ thấy nó như vậy thôi, thái độ của tâm vẫn rỗng lặng trong sáng, không có bình luận, phán xét, phản ứng hay thêm bớt gì cả thì ngay đó là Niết Bàn. Đức Phật đã định nghĩa Niết Bàn rất đơn giản chính là đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si. Niết Bàn chính là thái độ rỗng lặng trong sáng của tâm, chứ không phải là một trạng thái tốt đẹp, dễ chịu, hay cao siêu nào đó.

Tâm hoàn toàn rỗng lặng trong sáng mới là quan trọng, chứ không phải lúc đó ta đang ở trong trạng thái nào. Ta có thể đang bệnh, hoặc đang mạnh khỏe, đang thành công hay đang thất bại, đang hạnh phúc hay đang đau khổ, nhưng dù ta đang ở trong bất kỳ trạng thái nào thì tâm vẫn có thái độ rỗng lặng trong sáng. Và trong thái độ rỗng lặng trong sáng ấy, tất cả các trạng thái đều bình đẳng.

Ta có thói quen chọn lựa, cái này là thành công, cái kia là thất bại. Cho nên ta muốn tách cái thất bại ra, chỉ giữ lại cái thành công thôi. Cuộc đời đã bị ta chia ra làm nhiều mảnh gọi là "phân chia manh mún". Người thì thích mảnh này, người khác thích mảnh kia, cứ như vậy làm cho mọi thứ trở nên xáo trộn, mâu thuẫn, đối kháng gây ra phiền não khổ đau.

Nhưng có một điều kỳ lạ rằng chính những mặt đối nghịch lại giúp ta cân bằng giữa cuộc đời. Ví như người nghệ sỹ xiếc khi đi trên dây cần buông lỏng để tự điều chỉnh, nghiêng bên này một chút, nghiêng bên kia một chút mà giữ cân bằng. Anh ta càng căng cứng bao nhiêu càng nhanh mất cân bằng bấy nhiêu.

Nhờ có được, có mất, có vui lại có khổ, có đen có trắng,… nên tâm ta mới không bị dính mắc hay chìm đắm mà được trở về với thái độ rỗng lặng trong sáng tự nhiên vốn có của nó. Một người cứ sống tự nhiên, không có ý đồ tìm cầu cái tốt hơn hay thêm bớt gì cả bảo đảm sẽ tới Niết Bàn. Có câu chuyện: "Người tu như khúc gỗ trôi sông" thế này:

"...Một hôm, đứng trên bờ sông Ganga, Phật nhìn thấy một khúc gỗ lớn đang trôi theo dòng nước chảy về phương đông. Phật gọi các vị khất sĩ đến, chỉ cho họ thấy khúc gỗ đang trôi và nói:
- Này các thầy, khúc gỗ kia nếu không bị vướng mắc vào hai bên bờ, nếu không bị mắc cạn, bị người ta vớt lên hoặc bị mục nát tan rã, thì sẽ cứ trôi như thế cho đến ngày ra tới biển cả. Các thầy cũng thế, trên con đường tu tiến theo chánh pháp, nếu các thầy không bị vướng mắc vào các cạm bẫy của cuộc sống hằng ngày, nếu các thầy không bị người đời lôi kéo ra khỏi con đường tu tiến, nếu các thầy không tự thối chí ngã lòng, thì chắc chắn các thầy cũng sẽ đi đến đại dương của sự giải thoát và giác ngộ hoàn toàn…"[1]

Vướng mắc vào bờ bên nay hay bờ bên kia tức là khi tâm ta không trọn vẹn với thực tại đang là, mà lại chọn cái này, bỏ cái kia. Khúc gỗ bị mắc cạn có nghĩa là khi tâm ta bám víu (chấp) vào một cái gì đó. Thí dụ một người đắc được thiền định và chỉ thích vào định nên bị kẹt ở đó. Hoặc một người đang có danh vọng rất cao trong xã hội nên bị kẹt vào chức danh đó. Khúc gỗ bị mục nát tức là tự huỷ hoại bản thân, ăn chơi vô độ vì tham, sân và si. Khúc gỗ bị vớt lên tức là khi ta mải mê chạy theo những mục đích và vọng tưởng mà rời xa thực tại đang là. Muốn đạt tới Thiên Đường hay Niết Bàn cũng nằm trong trường hợp này.

Chỉ cần trở về ngay thực tại mà nhìn lại thân, nhìn lại thọ, nhìn lại tâm, nhìn lại pháp như nó đang là. Tức là khi nhìn lại thân thì thấy thân thôi chứ không thấy nó là của tôi, nó già hay trẻ, đẹp hay xấu. Khi nhìn lại thọ thì chỉ thấy những cảm giác, cảm xúc đang diễn ra nhưng không thấy ai đang hứng chịu những cảm xúc, cảm giác đó. Khi khổ chỉ có khổ thôi, không có ai đang khổ. Khi buồn cũng chỉ có buồn như nó đang là vậy thôi, chứ không có ai đang buồn. Tức là nhận thấy rõ ràng rằng không có cái Ta và Của Ta ảo tưởng nào trong thực tại đang diễn ra. Vậy là ngay đó ta thoát khỏi phiển não và khổ đau.

Khi ta chưa thể nhìn lại thân-thọ-tâm-pháp như nó đang là, mà còn cho là theo tư kiến của mình, phải là theo nỗ lực của mình, sẽ là theo mong muốn của mình thì ta vẫn còn bất an và đau khổ. Chính những bất an và đau khổ này là tín hiệu báo động rằng ta đã không chịu thấy sự thật như nó đang là, ta đang rời xa chân lý nơi thực tại. Ta đi tìm chân lý bằng cách đánh mất chân lý đã sẵn có nơi ta.

Và hãy nhớ chân lý nằm ở thái độ chứ không phải trạng thái, nằm ở cách vận hành chứ không ở nơi kết quả. Có một tu sĩ mặc dù đang chịu nhiều đau đớn vì ghẻ lở đầy thân nhưng sau khi nghe Đức Phật giảng mà thấy ra được cái thân và tâm này là vô thường, khổ, vô ngã thì vị đó cũng đắc đạo quả.

Sống trong đời đừng chú tâm tới kết quả thành, bại, được, mất…, cũng đừng chú tâm tới trạng thái như vui, buồn, khổ, bất an… mà hãy luôn nhận biết rõ thái độ của tâm dù ta đang ở trong bất kỳ trạng thái nào, dù ta đang đối diện với bất kỳ kết quả nào. Niết Bàn chính là thái độ rỗng lặng trong sáng để thân-tâm có thể ở trong bất kỳ trạng thái nào. Khi đau khổ, thất bại cũng vẫn là Niết Bàn, và khi hạnh phúc, thành công cũng vậy.

Niết Bàn có mặt ngay khi cái Ta ảo tưởng được buông xuống hoàn toàn. Thay đổi thái độ là ngay lập tức, còn thay đổi trạng thái cần có thời gian. Như lời Đức Phật dạy:"Chân lý là trở lại mà thấy, mỗi người tự thấy, thấy lập tức ngay trên chính thực tại đang là, không qua thời gian".

"Svakkhāto Bhagavatā Dhammo,
Sanditthiko, Akāliko, Ehipassiko, Opanayiko,
Paccatam Vedittabo Viññūhi"

Svakkhāto Bhagavatā Dhammo – Pháp mà đức Thế Tôn khai thị là chân lý hay sự thật tuyệt đối 
Sanditthiko - Thấy ngay lập tức 
Akāliko - Không qua thời gian 
Ehipassiko - Trở lại mà thấy 
Opanayiko - Ngay trên chính thực tại đó 
Paccatam Vedittabo Viññūhi - Mỗi người tự chứng ngộ 

Có nhiều người đã làm được điều này. Có người ngay khi đang bệnh đau thập tử nhất sinh tự nhiên buông ra được và ngay đó thấy hoàn toàn thanh thoát nhẹ nhàng. Mặc dù vẫn rất đau, nhưng không còn khổ nữa. Vì người đó biết khổ chỉ xảy ra khi đau mà lại không muốn cái đau ấy mà thôi.

Thiền Sư Viên Minh
Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

Đứng Lên Từ Vấp Ngã



Nhân ngày kỷ niệm đức Phật thành đạo xin được rút tỉa từ ý nghĩa sự kiện trọng đại này một bài học rất nhỏ nhưng thật sâu sắc đó là: Đứng lên từ vấp ngã 

Trong suột cuộc đời tại thế 80 năm của đức Phật đã để lại cho chúng ta những bài học bổ ích để noi theo ngài mà tiến bước trên hành trình tu tập giác ngộ tự thân. Cuộc đời ngài là một bài thuyết giáo không lời, sự lan tỏa từ thân giáo của ngài đã có một sức hút mãnh liệt đối với những người có duyên với Phật Pháp và đem họ về quy y với Đức Phật đồng thời nối tiếp bước theo lộ trình mà ngài đã hướng dẫn.

Vào thời Đức Phật còn tại thế đã có rất nhiều người quy y làm đệ tử với ngài mà động cơ ban đầu không phải là vì thấm nhuần giáo lý mà ngài đã tuyên thuyết, mà chính là sự cảm nhận để rồi ái mộ một cách sâu sắc từ bản thân cùng với uy nghi tế hạnh được thể hiện qua cuộc sống thường ngày của ngài. Từ chổ ngài xuất thân là một thái tử có tất cả mọi thứ dục lạc của thế gian biết bao nhiêu người mong ước mà không được, để rồi ngài lại phủi tay buông bỏ tất cả để trở thành một du sĩ một thân một mình lang thang nơi rừng sâu núi thẳm tìm chân lý cứu chúng sanh.

Lịch sử đã ghi lại cuộc đời Đức Phật từ sơ sanh cho đến nhập niết bàn và sau này đã được chư thầy tổ và các nhà nghiên cứu Phật học ghi lại mặc dù có khác nhau về niên đại nhưng lịch sử cuộc đời ngài thì thống nhất không có sự dị biệt, cho nên người phật tử hậu bối chúng ta đều biết khá chi tiết về cuộc đời đấng giáo chủ mình tôn kính.

Nhân ngày kỷ niệm đức Phật thành đạo xin được rút tỉa từ ý nghĩa sự kiện trọng đại này một bài học rất nhỏ nhưng thật sâu sắc đó là: ĐỨNG LÊN TỪ VẤP NGÃ.

Như hầu hết Phật tử chúng ta đều biết sau khi rời bỏ hoàng cung thái tử Tất-đạt-đa đã một thân một mình đi tìm thầy học đạo mong tìm ra chân lý giải trừ khổ đau cho chúng sanh. Lần thứ nhất người đã học đạo với ông Alasa-Kalama tu về số luận chuyên nhiếp tâm vào định sơ thiền...sanh vào cõi trời Vô Tưởng đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô Tưởng nhưng ngài nhận thấy đây không phải là đạo giải thoát nên đã rời đi.

Lần thứ hai hai ngài đến học đạo với ông Uddaka-Camaputta tu để giải thoát sanh lên cõi trời Phi Tưởng Phi Tưởng xứ, thái tử cũng tu theo nhưng khi đắc quả rồi ngài nhận thấy đây chưa phải là đạo chân chính giải thoát nên ngài cũng đã tạ từ ra đi tiếp tục cuộc hành trình tìm chân lý. Sau hai lần học đạo và cũng đã có thành quả nhưng ngài nghiệm ra rằng hiện thời không có đạo nào thực sư giải thoát nên đã thân hành tự tìm lối tu trì. Thế là ngài đã đến rừng Ưu-lâu-tần-loa phía nam núi Tượng Đầu bên dòng sông Ni-liên-thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm anh em ông Kiều-trần-như. 

Sử ghi lại rằng qua sáu năm tu khổ hạnh ép xác thân thể ngài chỉ còn da bọc xương cho đến một ngày kia ngài ngã quỵ vì kiệt sức, sau đó ngài được một thiếu nữ tên là Sujuta dâng một bát sữa, ngài dùng sữa xong sức lực dần hồi phục ngài xuống sông Ni-liên-thuyền tắm rửa sạch sẽ và nhận ra rằng tu theo lối ép xác chỉ làm cho thân thể kiệt quệ vì thế trí lực càng u tối không thể nào thấy đạo được.

Thế là ngài quyết định từ bỏ tu khổ hạnh và chọn giải pháp tu trung đạo, ăn uống bình thường không khổ hạnh ép xác mà cũng không tham cầu lợi dưỡng, năm anh em ông Kiều-trần-như tưởng ngài đã thối chí nên bỏ đi. Sau khi sức lực hồi phục ngài liền đến dưới cây Tất-bát-la trải cỏ làm nện ngồi tỉnh tọa, ngài đã phát lời đại nguyện: “Nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi gốc cây này!”.

Sau 49 ngày đêm tham thiền nhập định đêm mồng 8 tháng chạp ngài đã chứng tam minh, lục thông và đạt quả vị Vô thượng chánh đẳng, chánh giác, sau khi chứng thành đạo quả Đức Phật đã tuyên thuyết: …"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, Như Lai thênh thang đi đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp. Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy, cây đòn dông của ngươi dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt mọi ái dục."

Từ đó ánh đạo vàng của ngài đã lan tỏa khắp cùng mười hương ba cõi cho đến ngày nay giáo lý cao thượng của Đức Phật đã giúp cho chúng sanh nương theo tu tập tìm được sự an lạc trong cuộc sống hiện tiền, giáo pháp của ngài đã cứu vô số chúng sanh thoát vòng khổ đau, phiền não Sự kiện thành đạo của đức Thích Ca đã mở ra cho chúng sanh một con đường chánh đạo, một lối thoát cho sự khổ đau triền miên trong muôn kiếp, một bài học được rút ra từ sự kiện thành đạo của Đức Phật khiến cho chúng ta cần phải suy ngẫm để thực hành trong cuộc sống.

Chúng ta thấy rằng mặc dù chí nguyện rất kiên cường nhưng khời thủy đi tìm thầy học đạo thái tử Tất-đạt-đa đã đầu sư với những vị thầy lừng danh thời bấy giờ và cũng đã tu đắc đạo đến quả vị mà họ mong cầu, thế nhưng ngài nhận thức rằng những đạo đó vẫn còn sanh vào tam giới nên cho dù có được sanh vào cõi trời hưởng được phước báu đi nữa nhưng vẫn còn trong vòng lục đạo nên khi hết phước vẫn bị đọa lạc trở lại.

Thế là ngài dứt áo ra đi mặc dù vị giáo chủ bổn sư của ngài muốn ngài ở lại để tiếp tục thay họ truyền giáo. Từ sự kiện này chúng ta cảm nhận một sự quyết đoán trong lập trường của ngài, mặc dù đã có những thành quả và có thể hưởng lạc an vui nhưng ngài quyết đi đến cùng để tìm sự giác ngộ nên đã mạnh dạn khước từ. Đây là cái dũng của bậc đại giác hiếm ai làm được!

Một pháp tu sau đó của ngài là khổ hạnh ép xác để tìm sự giải thoát vì hồi đó có rất nhiều giáo phái tu theo pháp này, họ cho rằng thân thể con người là nguồn gốc mọi tội lỗi, phải hành hạ nó, phải làm cho nó kiệt quệ để diệt trừ mọi tham ái, diệt trừ được bản ngã, có thế mới tu giải thoát. 

Chọn pháp tu khổ hạnh sáu năm đã làm cho ngài kiệt sức và kết quả là ngài suýt chết vì sự sai lầm này. Thế nhưng, một lần nữa ngài kịp tỉnh ngộ nhận ra cái sai lầm của mình khi chọn tu khổ hạnh vì nó chỉ làm đọa đày thân xác mà không khai mở một đạo pháp chân chánh nào cả, ví như phải bỏ thân mạng này vì sự sai lầm như thế thì thật là đáng tiếc biết bao, tu ép xác mà để chết đi mất thân người rồi thì còn đâu nữa để làm điểm tựa mà tu tập chuyển hóa tâm linh?!

Biết sai thì phải kịp thời sửa, biết vấp ngã thì phải kịp thời đứng dậy, từ sự vấp ngã trong chọn lầm pháp tu đến nỗi gần mất mạng của hành giả Tất-đạt-đa và ngài đã sáng suốt đứng dậy dùng trí tuệ để nhận chân đường lối tu hành đúng phương pháp và kết quả là ngài đã chứng được đạo vô thượng, đây là một bài học hết sức sâu sắc của ngài đã để lại cho hậu bối chúng ta. Một bài học cần phải suy ngẫm và áp dụng trong cuộc sống, trong hành trình tu tập không phải chỉ dành riêng cho hàng phật tử mà cho tất cả những ai muốn đi đến đích cuộc hành trình mà mình đã chọn.

Sưu tầm: Hanh Nghiêm

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Cư Trần Lạc Đạo Phú Đệ Cửu Hội


Vậy cho hay:
Cơ quan tổ giáo,
Tuy khác nhiều đàng (đường),
Chẳng cách mấy gang.
Chỉn xá nói từ sau Mã tổ;
Ắt đã quen thuở trước Tiêu Hoàng.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;
Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng ắt còn vang.
Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ;
Thân bồ đề, lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang.
Vương lão chém mèo, lại trẩy lòng ngừa thủ toạ;
Thầy Hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.
Chợ Lư Lăng gạo mắt quá ư, chẳng cho mà cả;
Sở Thạch Đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.
Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu;
Câu Chi dời ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang.
Lưỡi gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma, trước nạp tăng no dầu tự tại;
Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu, răn đàn việt hượm xá nghênh ngang.
Đưa phiến tử, cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;
Xô hòn cầu, cầm mộc thược, bạn thiền hoà thửa khoe khoang.
Thuyền Tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịn tẩy;
Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.
Rồng Yển lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;
Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt dương.
Cây bách là lòng, thác ra trước phải phương Thái Bạch;
Bính đinh thuộc hoả, lại trở sau lỗi hướng Thiên Cang.
Trà Triệu lão, bánh Thiều Dương, bầy thiền tử hãy còn đói khát;
Ruộng Tào Khê, vườn Thiếu Thất, chúng nạp tăng những để lưu hoang.
Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nết;
Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.


Chữ Nôm:
第九會
丕朱処
機關祖教
雖恪饒塘
庄隔某剛
㐱舍吶自罒馬祖
乙乑涓課訳蕭皇
功德全無,性執癡強添磊
廓然不識,碒愚渕乙群肹
生天竺,折少林,畕肁真筃熊耳
身菩提,峼明鏡,牌剶炦壁行廊
王老斬貓,辣忛峼馭首坐
柴胡摳匵,擼娂智珥昆床
悪盧陵欕末過於,庄朱麻垰
所石頭廏瀾歇則,坤典撪當
破灶拮棋,踏笹酉煶神庙
俱胝移阮,用隊躡躡翁盎
攨劍臨济,鑲秘魔,訳衲僧奴油自在
獅子翁端,橮柴佑,譤檀越歛舍迎昂
媫扇子,拮竹篦,驗几學機關珥(-)
芻丸毬,倿木杓,伴禪和所木誇光
船子耶掉,匇籑渚朱羨洗
道吾扄笏乾魔羕体怪光
纅偃老訥乾坤,些娂㐱戾
氜蓊存昂世界,勜体乙揚
夛柏羅峼,托歯訳沛方太白
丙丁屬火,吏呂罒磊向天罡
茶趙老餅韶陽,排禪子矣群肁渴
鋫曹溪園少室,眾衲僧仍底留荒
招勑檜乃厠嘫,因芒買涅
祿桃花宜曢竹,默峃高禥

Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa học xã hội, 1977